Vẻ Vang Dân Việt

KHG Dương Nguyệt Ánh “Hãy là người Quang Trung”

NA1Chủ nhật vừa qua, ngày 3/8/14 tại Happy reception, nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh (KHG DNA) đã có buổi thuyết trình với đề tài “Tuổi trẻ với thăng tiến nghề nghiệp và tương lai của dân tộc”. Rất đông đồng bào đã đến rất sớm để có chổ ngồi. Chưa đến giờ khai mạc mà hội trường đã chật kín, số người đến sau đành phải tìm chổ đứng và điều đáng nói là mọi người đã ở lại cho đến cuối buổi thuyết trình.

Sau phần nghi thức chào quốc kỳ Úc-Việt và phút mặc niệm, cô Nguyễn Phượng Vỹ -Phó Chủ Tịch Nội Vụ đã thay mặt cho BCH/CĐNVTD-Vic để chào đón nữ KHG DNA và nói lên cảm nghĩ của mình về sự thành công vượt trội song song với việc chu toàn vai trò làm vợ, làm mẹ của DNA.

Mặc dù ai trong chúng ta cũng đều nghe và biết ít nhiều về nữ KHG DNA, nhưng chắc hẳn sẽ không thể biết chính xác những thành quả và các chức vụ quan trọng mà DNA đã vươn tới và đạt được. Qua bài tóm lược tiểu sử của KHG DNA, đồng bào đã được nghe về gương sáng hiếu học, sự phấn đấu đáng nể và những trọng trách cũng như chức vụ quan trọng mà DNA đã được tin tưởng giao phó.

Trước khi bước vào phần thuyết trình, Ban hợp ca Viễn Xứ đã gửi tặng KHG DNA cùng

 

 

phu quân 2 bài hát NA2

Vọng Nam Quan (tác giả: Xuân Điềm) và Bài hát chống xâm lăng (tác giả: ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh). Sau khi 2 bài hợp ca chấm dứt, nữ KHG DNA bắt đầu phần thuyết trình trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt của hơn 600 đồng bào có mặt trong khán phòng. Cô đã trình bày bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

Trong phần tiếng Việt, cô gửi gấm lời kêu gọi tha thiết đến các bậc phụ huynh, các học giả, các sử gia, các nhà văn hóa cần phải chung sức để làm sao khôi phục và phát huy tinh thần dân tộc trong con em chúng ta. Cô nói: ”Nếu chúng ta còn đất còn biển mà tự đánh mất đi cái hồn dân tộc thì cũng như đã mất đất mất biển rồi! Chúng ta phải làm sao giữ được quê hương ở bên trong chúng ta thì mới có thể giữ được quê hương bên ngoài”.

Trong phần tiếng Anh, cô chia sẻ nhiều hơn và chi tiết hơn với giới trẻ về sự phấn đấu, thăng tiến và kỹ năng lãnh đạo qua kinh nghiệm của bản thân cô, đồng thời cũng khuyến khích giới trẻ cần tìm hiểu thêm về di sản văn hóa, về lịch sử kiêu hùng của dân tộc VN với các bậc anh hùng, anh thư đã có công dựng nước và giữ nước. Ngoài ra cô cũng đã phân tích về sự khác biệt trong suy nghĩ và hành động giữa giới trẻ và các thế hệ đi trước. Cô đã kết thúc cả 2 phần tiếng Anh và tiếng Việt bằng tựa đề một quyển sách của nhà văn Duyên Anh “Mơ thành người Quang Trung”, và kêu gọi các bạn trẻ HÃY LÀ NGƯỜI QUANG TRUNG để gìn giữ non sông gấm vóc.

Sau phần thuyết trình là phần hội luận, đồng bào và giới trẻ đã thay phiên nhau đặt câu hỏi với KHG DNA xoay quanh những vấn đề quan tâm, đặc biệt là diễn giả và cả khán phòng đã thật bất ngờ khi có một khán giả rất nhỏ tuổi – Vũ Thiên Huy, khi em đặt câu hỏi là em có thể làm gì khi nhà cầm quyền CSVN vẫn còn đàn áp và giết hại những tù nhân lương tâm. Riêng về câu hỏi liên quan đến chiêu bài “giao lưu văn hóa” của CSVN, DNA trả lời rằng đã gọi là giao lưu thì phải có hai chiều vì nếu chỉ có một chiều thì đó là tuyên truyền chứ không phải giao lưu; ngày nào mà CS chấp nhận cho những sách, băng hình của VNCH được lưu hành tự do trong nước thì chúng ta sẽ chấp nhận cho họ đưa văn nghệ văn hóa của họ vào cộng đồng người Việt hải ngoại.

IMG_9029 IMG_8803 IMG_9063

Trước khi kết thúc buổi thuyết trình, cô Phương Vỹ đã đúc kết những gì cô đã học được từ KHG DNA, và sau đó cô mời ông Nguyễn văn Bon – Chủ Tịch CĐNVTD-Vic lên nói lời cám ơn và tặng quà lưu niệm cho diễn giả KHG DNA.

Buổi thuyết trình đã diễn ra thật thành công và điều đáng trân trọng là đồng bào đã đến từ rất sớm và ngồi lại cho đến cuối giờ trong sự trật tự tuyệt đối. Hy vọng là bài thuyết trình của KHG DNA sẽ rất hữu ích cho không riêng gì giới trẻ trong việc thăng tiến nghề nghiệp và hướng về tương lai dân tộc, mà còn cho cả các thế hệ trong việc khôi phục và duy trì tinh thần dân tộc trong con em chúng ta.

Melbourne 5/8/14
BK
vcavic.net


Tiểu sử KHG DNA

Tóm lược tiểu sử của nữ KHG Dương Nguyệt Ánh

Cô Dương Nguyệt Ánh (DNA) đã đào thoát khỏi Việt Nam năm 1975 cùng với gia đình bằng trực thăng, trong làn sóng người Việt tỵ nạn Cộng Sản đâu tiên, vừa lúc quân Cộng Sản vào chiếm thành phố Sài Gòn/ Nam Việt Nam và đến Phi Luật Tân. Gia đình cô được chuyển vào một trại tạm cư do Hoa Kỳ thiết lập ở đó, rồi được chính thức công nhận cho tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ.

Nơi đầu tiên mà gia đình cô đặt chân đến Hoa Kỳ là một trại tị nạn ở Pennsylvania, về sau thì được một Nhà Thờ Tin Lành ở Hoa Thịnh Đốn bảo trợ cho xuất trại và họ đã giúp đỡ gia đình cô trong những bước đầu. Lúc bấy giờ Dương Nguyệt Ánh được 15 tuổi, mới học lớp 9 trường Lê Quý Đôn, Sàigòn. Cũng như rất nhiều người tị nạn thời đó, vốn liếng tiếng Anh của cô không có nhiều, nhưng tự ái dân tộc thì phải nói là quá lớn nên cô đã chăm chỉ, miệt mài học ngày học đêm. cô quan niệm rằng mình phải cố gắng làm thế nào để qua mặt các bạn Hoa Kỳ cùng lớp. Lúc đó cô mơ ước khi lớn lên thì phải thành công, ít ra là cũng ngang với họ để người bản xứ không thể khinh miệt người Việt Nam là dân tỵ nạn ăn bám.

Cũng với ý chí và vì lòng tự ái dân tộc vô cùng mạnh mẽ đó mà cô đã tốt nghiệp Trung Học và tốt nghiệp hai ngành tại Đại học Maryland, một về kỹ sư hoá học và một về kỹ su điện toán, tất cả đều với hạng danh dự. Ngoài ra cô còn tốt nghiệp Cao Học Quốc Gia Hành Chánh tại American University cũng với hạng danh dự. Chính nhờ vậy nên sau khi hoàn tất bậc Đại Học, cô đã được tuyển vào làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu của Hải Quân Maryland.
Đây là gương sáng hiếu học của cô Dương Nguyệt Ánh (DNA), rất đáng trân trọng để cho giới trẻ Việt Nam lấy đó noi theo!

Năm 1983, cô DNA bắt đầu làm việc với ngành đã tốt nghiệp là kỹ sư hóa học. Công việc đầu tiên của cô là chuyên viên bào chế công thức về thuốc phóng đại bác cho Trung Tâm Vũ Khí Diện Địa của Hải Quân Hoa Kỳ tại Indian Head.

Năm 1986, Dương Nguyệt Ánh trở thành nhà bào chế nhiên liệu cho các loại hoả tiễn không không và địa không.

Năm 1991: cô trở thành một chuyên gia chất nổ và hai năm sau (1993) quản lý toàn bộ chương trình nghiên cứu, thăm dò và phát triển chất nổ của Hải quân Hoa Ky, do đó trở thành điểm tập trung của Hải quân Mỹ cho vật liệu nổ và chuyển đổi chất nổ của Hải quân vào các hệ thống vũ khí, cung cấp tư vấn cho chính phủ Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh.

Tháng 8 năm 2001 khi đang nghiên cứu về một loại chất nổ có khả năng diệt trừ các địa đạo thì vụ 9/11 xảy ra, cô Dương Nguyệt Ánh được tin tưởng và đề nghị là nên “thử thời vận” trong việc nghiên cứu về kỹ thuật chất nổ Áp Nhiệt (thermobaric) và biến nó thành vũ khí Áp Nhiệt ngay lập tức để hỗ trợ cho chiến dịch OEF (Operation Enduring Freedom). KHG_Dương Nguyệt Ánh đã dẫn đầu một nhóm chuyên gia gồm khoảng 100 khoa học gia, kỹ sư, và cán sự – chỉ trong khoảng thời gian kỷ lục chưa từng có là 67 ngày – đã đi từ ý niệm sơ khởi đến việc chế tạo ra 11 trái bom Áp Nhiệt đầu tiên cho chiến trường A Phú Hãn.

Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh thành công vượt bực, đã phát triển và chuyển tiếp tổng cộng 10 công thức chất nổ cho 18 loại vũ khí khác nhau trong vòng 12 năm cho Hải Quân, Lục Quân, Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Đó là một kỷ lục chưa từng có.

Năm 2002, Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh được bổ nhiệm vào chức vụ Giám Đốc Khoa Học và Kỹ Thuật của Trung Tâm Nghiên Cứu và Chế Tạo Vũ Khí Hải Quân ở Maryland. Ở chức vụ này, cô là người định hướng và điều khiển tất cả các chương trình nghiên cứu trên mọi lãnh vực khoa học và kỹ thuật của Trung Tâm Indian Head với mục đích áp dụng vào việc chế tạo những vũ khí tương lai cho Hoa Kỳ.

Từ tháng 11 năm 2006, KHG Dương Nguyệt Ánh được mời về làm việc tại Ngũ Giác Đài và đảm nhận chức vụ Cố Vấn Khoa Học Kỹ Thuật cho Phó Đô Đốc John Morgan, Tư Lệnh Phó Hải Quân, Đặc Trách về Kế Hoạch và Chiến Lược, và cho Tổng Giám Đốc Thomas Betro, Chỉ Huy Trưởng Cơ Quan Điều Tra Tội Phạm và Phản Gián của Hải Quân (Naval Criminal Investigative Service) Với chức vụ này cô Nguyệt Ánh hoàn toàn chú tâm vào chiến tranh chống khủng bố, kể cả việc áp dụng khoa học kỹ thuật của tình báo, phản gián và điều tra tội phạm vào công tác chiến trường và các sứ mạng chống khủng bố toàn cầu. Truyền hình “NCIS” đã dựa vào cơ quan có thật này để thực hiện chương trình của họ.

Sau chức vụ ở Ngũ Giác Đài đã đề cập ở trên, cô DNA hiện đang làm việc tại Bộ Nội An với chức vụ Tổng Giám Đốc Khoa Học Kỹ Thuật An Ninh Biên Giới, Lãnh và Hàng Hải cho Bộ Nội An Hoa Kỳ. Với chức vụ này cô DNA làm việc trực tiếp dưới quyền của Thứ Trưởng Nội An về khoa học kỹ thuật.

Tóm lại, cho đến nay, Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh đã đóng góp 31 năm cho Hoa Kỳ trên hai lãnh vực Khoa Học và Kỹ Thuật.

Bằng khen thưởng / Huy chương

Cô Dương Nguyệt Ánh từng lãnh đạo toàn bộ chương trình nghiên cứu và chế tạo chất nổ của Hải Quân, và đã đem lại 10 chất nổ mới cho 18 loại vũ khí đang được trang bị cho Hải Quân, Lục Quân, Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Với thành tích kỷ lục này, KHG Dương Nguyệt Ánh được Hải Quân trao Giải thưởng cao quý Dr. Arthur Bisson Award for Naval Technology Achievement vào năm 2000.

Cô cũng từng là đại biểu của Hoa Kỳ ở Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (Tiểu Ban Chất Nổ), đồng thời cũng là tác giả nhiều bài viết nghiên cứu về chất nổ và đã từng thuyết trình ở rất nhiều hội nghị chuyên môn quốc tế và quốc nội (Hoa Kỳ).
Năm 2001, cô đã được trao huy chương dân sự ưu tú cho khả năng lãnh đạo xuất sắc, chuyên môn kỹ thuật và đóng góp đáng kể cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong lĩnh vực chất nổ với năng suất cao.
Năm 2004, cô được vinh danh với giải thưởng Award of Excellence for Public Service bởi U.S. Pan Asian American Chamber of Commerce.

Năm 2007, Dương Nguyệt Ánh đã được trao huy chương toàn quốc Service to America Medal for National Security (Huy Chương Phục Vụ Quốc Gia về An Ninh) và đã đươc vinh danh trong một buổi lễ ở Hoa Thịnh Đốn vào tháng 9-2007. Tại buổi Lễ trao huy chương, cô DNA đã khiến cho toàn thể quan khách đứng dậy vỗ tay khi cô phát biểu: “Xin dành phần thưởng cao quý này cho 58.000 quân nhân Hoa Kỳ da hy sinh tai VN, và hơn 300.000 chiến sĩ VNCH chết trong trận chiến VN.”

Năm 2008 cô được Phó Bộ Trưởng Nội An vinh danh là Công Dân Hoa Kỳ Ngoại Hạng.

Năm 2010 cô được Quốc Hội Hoa Kỳ nêu danh là một công chức xuất sắc.

Ngoài kiến thức khoa học chế tạo bom, KHG Dương Nguyệt Ánh còn đựơc biết đến rất nhiều qua khả năng lãnh đạo và tinh thần phục vụ quốc gia. Cô đã xuất hiện trong rất nhiều bài phỏng vấn và bình luận của những tờ báo lớn như Newsweek, Wall Street Journal, Washington Post, và loạt phóng sự truyền hình về vũ khí tương lai. cô cũng là một trong những nhân vật trong cuốn sách về những người nữ kỹ sư đã làm thay đổi thế giới, Changing Our World: True Stories of Women Engineers, xuất bản bởi The American Civil Engineers Association.

vcavic.net

___________________

Anh Duong, SES – Maritime Security 2013

 

Duong
Keynote Presenter

DHS-ST

Mrs. Duong currently serves as the Head of the Borders and Maritime Security Division in DHS Science and Technology Directorate, focusing on understanding the technical dimension of border, maritime and cargo security in order to transform science & technology into knowledge and capabilities in support of DHS operating components.
Prior to coming to the Department of Homeland Security, Mrs. Duong spent 25 years working for the Department of the Navy. From 2005-2008, she served as Science Advisor to the Deputy Chief of Naval Operations for Information, Plans and Strategy, and the Director of the Naval Criminal Investigative Service, focusing on anti-terrorism and force protection. Prior to that assignment, she was Director for Science and Technology at the Naval Surface Warfare Center – Indian Head Division. Mrs. Duong led the development of many explosives for U.S. weapons and earned the Dr. Arthur Bisson Award for Naval Technology Achievement by the Chief of Naval Research. Due to this long history of accomplishments, in 2010 Mrs. Duong was further recognized and honored in the proceedings of the 111th U.S. Congress as a Great Federal Employee.


http://www.maritimesecurity2013.com/west/index.php/presenters/53-duo

Người phụ nữ gốc Việt đoạt hai “Nobel Thiên văn”

alt – Ra đời 5 năm, Giải thưởng Kavli đã trở thành giải thưởng quốc tế lớn; được xem là một “Nobel Thiên văn học”. Vừa mới đây, chủ nhân của giải này năm 2014 đã được chọn, điều này gợi nhớ về một người phụ nữ Việt Nam xuất chúng năm 2012 đã sở hữu không chỉ một Giải Thiên văn học là “Nobel thế giới”, mà còn cả một “Nobel Phương Đông” nữa.
Niềm tự hào của người Việt
Đó là nữ khoa học gia Vật lý thiên văn nổi tiếng nhất Việt Nam và thế giới, có tên Việt đầy đủ là Lưu Lệ Hằng, viết trong hồ sơ ở ngoại quốc là Jane X. Luu. Còn trẻ nên hẳn có thể xưng hô thân mật là cô Hằng hay chị Lưu.
Sinh năm 1963, mang dòng máu cả cha và mẹ xứ Bắc, lớn lên và học tiểu học ở miền Nam, năm 1975 sang Mỹ và hoàn thành học vấn ở các trường nổi tiếng: 1984 nhận bằng Cử nhân Vật lý thủ khoa tại Đại học Stanford, bằng Thạc sĩ Cao học tại Viện Berkeley thuộc Đại học California và cuối cùng, năm 1990 bằng Tiến sĩ Vật lý Thiên thể ở Viện Công nghệ Massachussetts MIT.
Nobel Thiên văn học, Thiên văn học, Nobel thế giới, Nobel Phương Đông, Lưu Lệ Hằng, Jane X. Luu
Hình 1-  Những chủ nhân của Giải “Nobel châu Á” – Giải Shaw năm 2012 (Ảnh tư liệu từ Giải Shaw)
Với tư chất thông minh và nghị lực bẩm sinh, niềm say mê và điều kiện học tập, nghiên cứu hàng đầu thế giới, các kết quả học tập và nghiên cứu xuất sắc đạt được trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu Cao học và Tiến sĩ đã đưa tên tuổi nhà khoa học Jane X. Lưu nổi tiếng như một một phụ nữ trẻ thông thái với một khối kiến thức rộng lớn cổ kim về bầu trời vô hạn gần xa, đặc biệt đã đi tiên phong trong những phát minh đặc sắc lớn và hiện đại nhất, mở rộng tầm nhìn của loài người về những chân trời bao la, rất xa.
Và chính những thành tựu lao động sáng tạo đó đã mang lại cho Lưu Lệ Hằng những giải thưởng danh giá, đồng thời đưa chị lên những bậc thang danh giá, đặc biệt đối với môt phụ nữ gốc nước ngoài, trong sự nghiệp giảng dạy đại học là Giáo sư ở Đại học Havard, Mỹ (1994 – 1998) và Đại học Leiden, Hà Lan (1998 – 2001) và trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học là nghiên cứu viên cao cấp danh dự ở các địa chỉ danh tiếng lớn như các Phòng Thí nghiệm ở Đại học Havard, Viện Khoa học Khảo sát Không gian ở Đại học Hawaii, các Trung tâm nghiên cứu thuộc Viện Công nghệ Massachussetts MIT…
Phát triển nhận thức Thái Dương Hệ    
Đên bây giờ đó là sự nghiệp lớn nhất của nhà khoa học nữ Lưu Lệ Hằng. Sự hiểu biết của nhân loại về Hệ Mặt Trời (hay Thái Dương Hệ) đã thay đổi rất nhiều mang tính cách mạng trong vài chục năm qua. Và nhà bác học nữ họ Lưu không những nắm vững nhanh chóng kiến thức phong phú thu thập được trong nhiều thế kỷ qua về Thái Dương Hệ mà chính chị đã đóng góp vào kho tàng đó bằng những phát minh đặc sắc làm thay đổi nhận thức của con người về không gian vũ trụ bao la mình đang sống.
Khoảng mươi năm trước, cấu trúc của Hệ Mặt Trời Dương Hệ vẫn còn được hình dung đơn giản so với bây giờ (xem hình số 2).
Nobel Thiên văn học, Thiên văn học, Nobel thế giới, Nobel Phương Đông, Lưu Lệ Hằng, Jane X. Luu
Hình 2- Cấu tạo Thái Dương Hệ.
Thái Dương Hệ được mô tả là một hệ các hành tinh, Mặt Trời nằm ở chính giữa và bao bọc bên ngoài bởi 9 thiên thể chịu sức hút của Mặt Trời, gồm 8 hành tinh chính và 1 hành tinh “phụ”, hợp thành 3 nhóm.
Nhóm I ở vùng trong cùng, gồm 4 hành tinh nhỏ: Thủy tinh (Mercury), Kim tinh (Venus), Trái đất (Earth) và Hỏa tinh (Mars), đây là những hành tinh nhỏ, rắn chắc, cấu tạo chủ yếu bởi các loại đá và kim loại, có mật độ cao và thành phần tương đối giống nhau nên có tên gọi là nhóm các hành tinh đá.
Nhóm II ở vùng ngoài, gồm 4 hành tinh khí khổng lồ có khối lượng lớn hơn rất nhiều so với 4 hành tinh nhóm I. Trong đó, 2 hành tinh lớn nhất, Mộc tinh (Jupiter) và Thổ tinh (Saturn), có thành phần chủ yếu từ heli và hyđrô; và hai hành tinh nhỏ hơn, Thiên vương tinh (Uranus) và Hải vương tinh (Neptune), có thành phần chính từ băng (như nước, amoniac và mêtan). Chúng có kích thước rất lớn nhưng mật độ thấp và vì vậy có khi còn được gọi là phân nhóm các hành tinh băng đá “khổng lồ”.
Nhóm III trong nhiều năm trước được cho rằng chỉ có một mình Diêm vương tinh (Pluto).
Nhận thức về cấu trúc Thái Dương Hệ như trên cho tới cuối thế kỷ 20 đã tỏ ra chưa đầy đủ, chưa giải thích được tất cả thông tin do các thiết bị khảo sát thiên văn hiện đại thu thập được. Lưu Lệ Hằng đã nhập cuộc vào chính giai đoạn này bên cạnh nhà nghiên cứu thiên văn bậc thầy David Jewitt ngay trong thời gian làm nghiên cứu sinh bậc Cao học và bậc Tiến sĩ Vật lý Thiên văn. Cả hai người chính là chủ nhân và là nòng cốt thực hiện đề tài nghiên cứu về một hướng khoa học mới mẻ và táo bạo – Khảo sát các vật thể di chuyển chậm (Slow-Moving Objects) ngoài Hệ Mặt Trời.
Họ tiến hành nghiên cứu chứng minh cho sự tồn tại một vành đai gồm một “rừng” vô số hành tinh lớn bé phân bố từ bên ngoài quỹ đạo của Hải Vương tinh (Neptune), vượt qua Diêm vương tinh (Pluto) và ra xa hơn. Vành đai này có tên là vành đai Kuiper (Kuiper Belt) do hai nhà thiên văn Edgeworth và Kuiper đặt ra trong tưởng tượng từ giữa thế kỷ 20. Miệt mài 5 năm làm việc, sử dụng các phương tiện nghiên cứu tiên tiến nhất ở Trung tâm nghiên cứu MIT và Đại học Harvard, ở các cơ sở thiên văn Kitt Peak (thuộc Arizona) và Mauna Kea (thuộc Hawaii), năm 1992 Jewitt và Luu tìm ra được thiên thạch đặt tên là 1992 QB1 có đường kính 280 km (bằng 1/8 Diêm vương tinh hay Pluto). Và tiếp theo là hàng chục khám phá nữa của bản thân nhóm nghiên cứu này và hàng trăm khám phá khác của đông đảo cộng đồng thiên văn trên toàn thế giới.
Tất cả đều chứng tỏ ở không gian bên ngoài quỹ đạo của Hải vương tinh (Neptune) tồn tại các vật thể lớn bé có thành phần cấu tạo nhẹ như nước, amoniac, mêtan. Đó là hàng nghìn thiên thể nhỏ bé có kích cỡ khác nhau, từ sao chổi, centaurs đến bụi liên hành tinh. Trong số đó có 5 thiên thể nhĩnh lên về kích cỡ, là Ceres, Haumea, Makemake, Eris và cả Pluto (Diêm vương tinh) nữa. Các hành tinh này, dù được coi là đủ lớn để có được dạng hình cầu dưới ảnh hưởng của chính lực hấp dẫn của mình, nhưng do độ xốp cao (mật độ vật chất rất thấp) hay tổng khối lượng vẫn bé nhỏ, nên kể từ tháng 8 năm 2006 nhóm các hành tinh này được mang tên là nhóm hành tinh lùn. Nhóm “lùn” này chính là nhóm III trong sơ đồ cấu trúc Thái Dương Hệ (hình 2) mà trước đây chỉ mới biết một mình Diêm vương tinh Pluto.
Vậy là sự tồn tại trong thực tế vành đai Kuiper mà thầy trò hay hai đồng nghiệp Jewitt và Lưu theo đuổi thực hiện đã được minh chứng. Phát minh này có ý nghĩa rất lớn, nó mở đầu cho một kỷ nguyên mới về nhận thức đầy đủ hơn về cấu tạo Thái Dương Hệ và góp phần hoàn chỉnh dần học thuyết hình thành vũ trụ. Sự tồn tại vành Kupler cũng không có gì đáng nghi ngờ vì sự tồn tại một Vành đai tiểu hành tinh khác nữa nằm giữa Hỏa tinh (Mars) và Mộc tinh (Jupiter), tuy thành phần cấu tạo khác hơn với phần lớn là đá và kim loại, cũng đã được xác định trước đó.
Với những thành quả nghiên cứu đạt được, nữ khoa học gia họ Lưu đã liên tiếp nhận được những phần thưởng danh giá của khu vực và thế giới. Năm 1991, ngay sau khi nhận bằng Tiến sĩ không lâu, Hiệp hội Thiên Văn Mỹ đã trao Giải thưởng Annie J. Cannon Award Thiên văn học cho Tiến sĩ mới gốc Việt Lưu Lệ Hằng. Và để ghi nhận công lao của chị trong việc tham gia khám phá hơn 30 thiên thạch hay tiểu hành tinh mới, người ta lấy tên của chị đặt cho một thiên thạch mới do chính chị khảo sát và phát hiện, đó là Asteroid 5430 Luu.
Đặc biệt, năm 2012 quả là năm của nhà Vật lý Thiên văn ưu tú này khi cái tên Lưu Lệ Hằng được xướng danh ở cả hai giải thưởng thiên văn học danh giá nhất thế giới trong cùng một năm. Tháng 3 năm 2012, tại thủ đô Oslo của Na Uy, Quỹ Kavli đã công bố Giải Kavli Thiên văn học năm 2012 với số tiền thưởng 1 triệu USD. Giải này được xem là Giải “Nobel Thiên văn thế giới” và chủ nhân là ba nhà thiên văn đã khám phá ra nhiều vật thể lớn trong vành đai Kuiper, đó là David Jewitt, Jane X. Luu (tức Lưu Lệ Hằng), và Michael Brown. Tiếp theo, tháng 5 năm 2012, tại Hồng Kông, Quỹ Shaw lại xướng danh các chủ nhân đạt Giải Shaw Thiên văn học 2012; còn gọi là “Giải Nobel Thiên văn Phương Đông” kèm 1 triệu USD tiền thưởng, đó là tân Tiến sĩ Jane X. Luu cùng với người thầy – đồng nghiệp của mình là Giáo sư David C. Jewitt, Giám đốc Viện nghiên cứu thiên thể (Institute for Planets and Exoplanets), Đại học California – Los Angeles, Hoa Kỳ.về những đóng góp trong việc định danh “các vật thể ngoài Hải Vương tinh” (Trans-Neptunian Objects), viết tắt là TNOs.
Lời kết
Với tài năng và thành quả nghiên cứu nổi bật, nữ khoa học gia người Việt Lưu Lệ Hằng quả là xứng đáng với sự tôn vinh khách quan của giới khoa học thiên văn và các tổ chức giải thưởng trên thế giới. Điều đáng suy nghĩ là sau 3 năm làm việc ở Hà Lan, năm 2001, nhà khoa học; nhà giáo này trở lại nước Mỹ nhưng không trở lại chức vụ nghiên cứu khoa học ở Viện nào hay ngồi lại chiếc ghế giáo sư ở đại học nào cả. Lưu Lệ Hằng nhận công tác tại Phòng thí nghiệm Lincoln của MIT, chuyên nghiên cứu chế tạo các thiết bị thiên văn và hiện nay lại nghiên cứu thêm giải pháp công nghệ cho vấn đề an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Và hiện nay chị vẫn sống bình dị cùng chồng tên là Hoogerwerf, một nhà thiên văn người Hà Lan và một con gái nuôi gốc Việt 6 năm tuổi tại Lexington, Massachusetts, gần đại học Harvard và MIT.
Có người đặt vấn đề: vì sao vậy? Song nhiều người lại cho rằng: không vì sao cả, đơn giản vì đó chính là bản chất, phẩm chất của Lưu Lệ Hằng như vốn có. Đối với người phụ nữ gốc Việt này, hình như lao động khoa học và các thành tựu mới mẻ thu được trong nghiên cứu lĩnh vực Thiên văn học mới thu hút được niềm đam mê chứ không phải là chức tước, vị trí và danh giá của viện này, đại học nọ.
Sau khi đạt đỉnh cao của nhà Thiên thể học và nhà Vật lý thiên văn, nay chị Lưu Lệ Hằng Đang đang làm việc trong lĩnh vực chế tạo thiết bị, trong đó các thiết bị tối tân hơn cho ngành thiên văn học. Nhưng chị còn trẻ, mới ở tuối 51. Biết đâu, một ngày đẹp trời nào đó, nhà nữ khoa học toàn năng họ Lưu lại không trở lại con đường vinh quang đã qua, dù đã xa rồi, nhưng sẽ ở một tầm cao khác.
Từ năm 1995 chị về thăm nước. Trong chuyến về Việt Nam năm đó chị đã được mời tham dự một cuôc hội thảo về khoa học vật lý ở TP. Hồ Chí Minh do các nhà khoa học Việt kiều phối hợp với đồng nghiệp trong nước tổ chức có tên “Sự Gặp gỡ Việt Nam”. Ở hội thảo năm 1995 nữ khoa gia Lưu Lệ Hằng đã trình bày bản báo cáo khoa học về các thành tựu nghiên cứu thiên văn học của mình.
Như vậy, biết đâu, trong một cơ hội nào đó, chị có cảm hứng cùng các đồng nghiệp ở các trung tâm thiên văn học Việt Nam bắt tay nhau để chị có cơ hội đi về đóng góp cho sự phát triển ngành Thiên văn học non trẻ ngay trên đất nước mình đã sinh ra?  Một việc làm mà trước đây nhiều nhà khoa học Việt Nam có tiếng thành danh ở Mỹ, Pháp và các nước khác đã làm và một số các nhà khoa học trẻ vừa nhận những giải thưởng và danh hiệu danh giá trên thế giới như Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn… vẫn đang luôn sát cánh với đồng nghiệp trong nước thực hiện.
Trần Minh

Em bé gái trên Đại Lộ Kinh Hoàng của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972

Một người lính Quân Cụ chạy ngang, bồng em bé bỏ vào chiếc nón lá rồi chạy qua cầu Mỹ Chánh, trao lại cho một Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đang hành quân.

Em bé ngày xưa, nay là Trung Tá Kimberly M. Mitchell

Em bé ngày xưa, nay là Trung Tá Kimberly M. Mitchell

 

Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, một em bé 4 tháng tuổi nằm trên xác mẹ trên Đại Lộ Kinh Hoàng; em đang trườn người trên bụng mẹ tìm vú để bú nhưng mẹ đã chết từ bao giờ. Một người lính Quân Cụ chạy ngang, bồng em bé bỏ vào chiếc nón lá rồi chạy qua cầu Mỹ Chánh, trao lại cho một Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đang hành quân.

Bao năm trôi qua, em bé mồ côi mẹ nay trở thành Trung Tá trong Quân Lực Hoa Kỳ còn người Thiếu úy TQLC sang Hoa Kỳ theo diện HO nay đang định cư tại tiểu bang New Mexico. Hai người vừa gặp nhau sau 41 năm bặt vô âm tín. Ngày Thứ Ba 2 tháng 4, 2013 vừa qua, nhân dịp sang California dự lễ cưới, người Thiếu Úy TQLC này đã kể cho phóng viên Viễn Đông câu chuyện cảm động và ly kỳ ngay tại khách sạn nơi ông đang tạm cư ngụ.

Người Thiếu Úy TQLC tên là Trần Khắc Báo. Vào thời điểm 1972 ông còn độc thân và phục vụ tại Đại Đội Vận Tải Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, được biệt phái sang Phòng 4 của Sư Đoàn làm sĩ quan phụ trách chuyển vận. Vào sáng 1 tháng 5 năm 1972, Thiếu Úy Báo được lệnh cấp trên, cùng một số đồng đội mở cuộc hành quân để giúp di chuyển Tiểu Đoàn 7 TQLC ra khỏi vùng vừa bị thất thủ thuộc tỉnh Quảng Trị vì một số đông quân nhân bị thất lạc không tìm thấy vị chỉ huy của họ. Ngoài ra, ông cũng xin lệnh giúp di tản các Quân, Dân, Cán, Chính khác đang tìm đường chạy về phía nam sông Mỹ Chánh là nơi quân đội VNCH còn đang trấn giữ; ông được cấp trên chấp thuận.

Khi đơn vị ông đến cầu Mỹ Chánh (Quảng Trị) thì nơi đây là phòng tuyến cuối cùng của VNCH để ngăn chặn quân Bắc Việt tràn xuống phía Nam. Ông đã chỉ huy 20 quân xa GMC thực hiện cấp tốc cuộc di tản suốt ngày. Đến khoảng 4 hay 5 giờ chiều ông Trần Khắc Báo nhìn thấy thấp thoáng bên kia cầu còn một người đang ôm chiếc nón lá thất thểu đi qua với dáng điệu hết sức mỏi mệt. Ông định chạy qua giúp người này nhưng vị Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 TQLC đang trách nhiệm trấn giữ tại đó la lớn:

ông Trần Khắc Báo trong ngày hội ngộ

“Cây cầu tao đã gài mìn, có thể nổ và sẵn sàng phá hủy khi thấy chiến xa Việt Cộng xuất hiện, đừng chạy qua, mày sẽ bị bỏ lại bên đó không về lại được đâu nghe!”
Ông cố nài nỉ:
“Đại Bàng chờ em một chút, cho em cứu người cuối cùng này.”

Và ông chạy đến đưa người này qua cầu. Thấy người này đi không nổi, thất tha thất thểu mà tay còn cố ôm vòng chiếc nón lá, Thiếu Úy Báo nói đùa:

“Đi không nổi mà còn mang theo vàng bạc châu báu gì nữa đây cha nội?”

Người ôm vòng chiếc nón lá nói:

“Em là lính Quân Cụ thuộc Tiểu Khu Quảng Trị, trên đường chạy về đây em thấy cảnh tượng hết sức thương tâm này, mẹ nó đã chết từ bao giờ không biết và nó đang trườn mình trên bụng mẹ nó tìm vú để bú, em cầm lòng không được nên bế nó bỏ vào chiếc nón lá mang đến đây trao cho Thiếu Úy, xin ông ráng cứu nó vì em kiệt sức rồi, không thể đi xa được nữa và cũng không có cách gì giúp em bé này.”

Nói xong anh ta trao chiếc nón lá có em bé cho thiếu úy Báo.

Ngừng một chút, ông Báo nói với chúng tôi:

“Mình là người lính VNCH, mình đã được huấn luyện và thuộc nằm lòng tinh thần ‘Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm’ nên lúc đó tôi nghĩ trách nhiệm của mình là lo cho dân nên tôi nhận đứa bé và nói với người lính Quân Cụ: ‘Thôi được rồi, để tôi lo cho nó, còn anh, anh cũng lo cho sức khỏe của anh, lên GMC đi để chúng tôi đưa anh về vùng an toàn.’”

Sau đó, người sĩ quan TQLC ôm em bé leo lên chiếc xe Jeep chạy về Phong Điền, cách đó khoảng 20 cây số. Trên đường đi, ông Báo cảm thấy rất bối rối vì em bé khóc không thành tiếng vì đói, khát mà ông thì còn là một thanh niên trẻ (lúc đó mới 24 tuổi) chưa có kinh nghiệm gì nên ông hỏi người tài xế, bây giờ phải làm sao? Người tài xế tên Tài trả lời:
“Ông thầy cho nó bú đi! Ông thầy không có sữa thì lấy bi đông nước chấm đầu ngón tay vào nước để vào miệng nó cho nó bú.”

Ông Báo làm theo lời chỉ và em bé nín khóc rồi nằm im cho đến khi ông đưa em vào Phòng Xã Hội của Lữ Đoàn TQLC. Tại đây, gặp Thiếu tá Nhiều, Trưởng Phòng 4 TQLC, ông trao em bé cho Thiếu tá Nhiều và nói:

“Thiếu tá, tôi có lượm một em bé ngoài mặt trận, xin giao cho Thiếu tá.”

Ông này nhìn ông Báo cười và nói:

“Mày đi đánh giặc mà còn con rơi con rớt tùm lum!”

Ông Báo thanh minh:

“Không! Tôi lượm nó ngoài mặt trận; nó đang nằm trên xác mẹ nó.” Thiếu tá Nhiều bảo:

“Thôi, đem em bé giao cho Phòng Xã Hội để họ làm thủ tục lo cho nó.” Sau đó, ông Báo đưa em bé cho một nữ quân nhân phụ trách xã hội. Cô này nói với ông:

“Thiếu úy giao thì Thiếu úy phải có trách nhiệm, vì em bé này ở ngoài mặt trận thì Thiếu úy phải cho nó cái tên và tên họ Thiếu úy nữa để sau này nó biết cội nguồn của nó mà tìm.”

Lúc đó, ông còn độc thân nhưng trong thâm tâm ông vốn nghĩ rằng sau này khi ông cưới vợ, nếu có con gái ông sẽ đặt tên là Bích, nếu con trai ông sẽ đặt tên là Bảo, nên sau khi nghe người nữ quân nhân nói, ông Báo đặt ngay cho em bé cái tên là Trần Thị Ngọc Bích.

Sau đó ông trở về đơn vị và cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt cho tới tháng 3/1975, đơn vị ông bị thất thủ cùng Lữ Đoàn 2 TQLC ở Huế và ông Báo bị bắt làm tù binh. Mãi đến năm 1981 ông được thả về. Tháng 9/1994 ông được sang định cư tại thành phố Albuqueque, tiểu bang New Mexico…

EM BÉ MỒ CÔI GẶP MAY MẮN

Em bé Trần Thị Ngọc Bích được Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC đem đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm Đà Nẵng giao cho các Dì Phước chăm sóc. Số hồ sơ của em là 899.

Một hôm có ông Trung Sĩ Hoa Kỳ thuộc binh chủng Không Quân phục vụ tại phi trường Đà Nẵng tên là James Mitchell vô Cô Nhi Viện xin nhận một trong các em tại đây làm con nuôi. Em Trần Thị Ngọc Bích may mắn lọt vào mắt xanh của ông James Mitchell và trở thành thành viên của gia đình này từ đó đến nay.

Sau khi rời khỏi binh chủng Không Quân, ông James Mitchell trở về Hoa Kỳ vào cuối năm 1972. Ông quyết định mang theo đứa con nuôi Trần Thị Ngọc Bích, lúc đó em mới được 6 tháng.

Hai ông bà Mitchell đặt tên Mỹ cho em là Kimberly Mitchell. Em ở tại trang trại của gia đình tại Solon Springs, tiểu bang Wisconsin. Kimberly Mitchell lớn lên tại đây và được bố mẹ nuôi rất thương yêu, coi như con ruột. Em được đi học, tham gia thể thao và vào hội thanh niên. Lớn lên em vừa đi học vừa phụ giúp cha mẹ nuôi bò và làm phó mát. Cái tên Trần Thị Ngọc Bích đã bị quên lãng từ đó, và Kimberly Mitchell cho biết, mỗi khi nghe ai nói gì về Việt Nam, cô thường tự hỏi, Việt Nam là đâu nhỉ?

Khi đã có trí khôn, Kimberly Mitchell nhận thấy mình không phải người Mỹ như bố mẹ, không phải con lai, không phải người Tàu. Cô không biết mình là người nước nào và cứ mang cái thắc mắc đó mãi mà không ai có thể trả lời cho cô.

Một hôm, Kimberly Mitchell đánh bạo hỏi bố:

“Con muốn biết con người gì, nguồn gốc con ở đâu? Tại sao con lại là con bố mẹ?”

Bố nuôi James giải thích cho cô:

“Con là người Việt Nam, bố mẹ xin con từ trong viện mồ côi ở Đà Nẵng, Việt Nam. Nếu con muốn tìm nguồn cội của con, con có thể về Đà Nẵng, may ra tìm được tông tích của gia đình con.”

Ngay từ khi Kimberly còn học lớp ba, bố nuôi em đã muốn sau này cho Kimberly gia nhập Không Quân nhân khi cô được chọn tham dự hội thảo về nghệ thuật lãnh đạo dành cho những học sinh xuất sắc. Nhưng rồi định mệnh xui khiến, cô lại theo Hải Quân. Trong thời gian theo học, Kimberly Mitchell phải bỏ học một năm vì bố nuôi qua đời năm 1991 trong một tai nạn tại trang trại của gia đình. Sau đó cô trở lại trường và tiếp tục học. Năm 1996 cô tốt nghiệp Cơ Khí Hàng Hải và phục vụ trong Hải Quân Hoa Kỳ và hiện nay mang cấp bậc Trung Tá, Phó Giám Đốc Văn Phòng Trợ Giúp Quân Nhân và Thân Nhân tại Ngũ Giác Đài.
Năm 2011, Kimberly Mitchell trở về cố hương với tư cách một nữ Trung Tá Hải Quân, Quân Lực Hoa Kỳ, mong gặp lại người thân. Đến Viện Nuôi Trẻ Mồ Côi Thánh Tâm ở Đà Nẵng, cô may mắn gặp được Sơ Mary, người tiếp nhận cô năm 1972 từ một nữ quân nhân Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC. Giây phút thật cảm động, nhưng Kimberly chỉ được Sơ Mary cho biết:

“Lúc người ta mang con tới đây, con mới có 4 tháng và họ đặt tên con là Trần Thị Ngọc Bích. Họ nói mẹ con đã chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng, con được một người lính VNCH cứu đem đến đây giao cho Cô Nhi Viện rồi đi mất, vì lúc đó chiến tranh tàn khốc lắm.”

Kimberly không biết gì hơn và cô quay trở lại Mỹ. Sau khi đã biết mình là người Việt Nam, thỉnh thoảng cô viết trên website câu chuyện của mình.

GẶP LẠI CỐ NHÂN

Ông Trần Khắc Báo đưa cho chúng tôi xem một số hình ảnh, một số báo tiếng Việt và mấy tờ báo tiếng Anh đăng hình cuộc gặp gỡ giữa gia đình ông và cô Trần Thị Ngọc Bích, và nói:

“Sau khi ra tù Việt Cộng, tôi cũng cố tìm hiểu xem em bé Trần Thị Ngọc Bích nay ra sao, kể cả người lính Quân Cụ năm xưa, nhưng tất cả đều bặt vô âm tín. Một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện đi Mỹ của một em bé trong cô nhi viện Đà Nẵng mang tên Trần Thị Ngọc Bích. Đọc xong tôi rất xúc động pha lẫn vui mừng, vì có thể 80, 90% cô Ngọc Bích đó là do mình cứu và đặt tên cho cô.”

Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell. Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.

Theo ông nghĩ, có thể cô Mitchell bán tín bán nghi, không biết chuyện này có đúng không hay là chuyện “thấy người sang bắt quàng làm họ” như ông cha mình thường nói. Nhưng sau khi nói chuyện với ông Trần Khắc Báo, Mitchell quyết định tổ chức một cuộc hội ngộ trước các cơ quan truyền thông. Cô xin phép đơn vị và mời được 7 đài truyền hình cùng một số phóng viên báo chí từ Washington, D.C cũng như nhiều nơi về tham dự.

Cuộc hội ngộ, theo ông Báo cho biết, hoàn toàn do cô Kimberly Mitchell quyết định, địa điểm là trụ sở Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico vào Thứ Sáu, ngày 29.8.2012. Cô đến phi trường vào tối Thứ Năm 28.8, gia đình ông Báo ngỏ ý ra phi trường đón nhưng cô cho cô Đào Thị Lệ biết là cô không muốn gia đình đón ở phi trường cũng như đưa vào khách sạn. Cô muốn dành giây phút thật cảm động và ý nghĩa này trước mặt mọi người, đặc biệt là trước mặt các cơ quan truyền thông, và cô muốn ông Báo mặc bộ quân phục TQLC như khi ông tiếp nhận cô đưa đến Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC cách nay 41 năm.

ông Trần Khắc Báo và Kimberly Mitchell

GIÂY PHÚT XÚC ĐỘNG

Gia đình ông Trần Khắc Báo gồm vợ và con gái cùng có mặt. Khi ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hỏi cô Kimberly Mitchell:

“Cô đến đây tìm ai?”

Cô trả lời:

“Tôi muốn tìm ông Trần Khắc Báo.”

Vị Chủ Tịch quay sang ông Báo đang mặc quân phục và giới thiệu:

“Đây là ông Trần Khắc Báo.”

Lập tức, Kimberly Mitchell Trần Thị Ngọc Bích tiến lại ôm lấy ông Báo và cả hai cùng khóc nức nở.

Giây phút xúc động qua đi, cô Kimberly hỏi ông Trần Ngọc Báo:

“Ông là người đã cứu mạng tôi, tôi mới có ngày hôm nay; tôi xin cám ơn ông, và bây giờ ông muốn gì ở tôi?”

Ông Trần Khắc Báo nói :

“Thực sự bây giờ tôi chỉ muốn cô nói với tôi một lời bằng tiếng Việt, cô hãy kêu tôi là “Tía”. Vì tất cả các con tôi đều gọi tôi bằng Tía, tôi xem cô cũng như con tôi, tôi chỉ mong điều đó.”

Và Kimberly Mitchell đã gọi “Tía”.

Ông nói với chúng tôi:

“Bấy giờ tôi thực sự mãn nguyện.”

Trả lời các câu hỏi của chúng tôi, ông Trần Khắc Báo cho biết, cô Kimberly chưa lập gia đình và cô có hứa sẽ thường xuyên liên lạc với gia đình ông. Ông có nhắc cô Kimberly điều này, rằng cô không phải là đứa trẻ bị bỏ rơi. Cô đã được những người lính VNCH có tinh thần trách nhiệm cứu sống trên bụng mẹ cô đã chết, và chính ông đã đặt tên cho cô là Trần Thị Ngọc Bích. Ông cũng mong rằng sau này, cô có thể trở lại Quảng Trị, may ra có thể tìm ra tung tích cha cô hoặc người thân của mình. Ông Trần Khắc Báo cũng cho biết, ông mất liên lạc với người lính Quân Cụ từ lúc hai người giao nhận đứa bé đến nay.

Trong cuộc hội ngộ, trả lời câu hỏi của các phóng viên Hoa Kỳ, nữ Trung Tá Kimberly Mitchell cho biết, cô có hai cái may. Cái may thứ nhất là cô được tìm thấy và mang tới trại mồ côi. Cái may thứ hai là được ông bà James Mitchell bước vào trại mồ côi và nói với các Sơ rằng, ông muốn nhận em bé này làm con nuôi.”

Câu chuyện sau 41 năm kết thúc tốt đẹp, cô Trần Thị Ngọc Bích đúng là viên ngọc quý trên Đại Lộ Kinh Hoàng như ý nguyện của người đã cứu mạng em, vì chính cô đã làm vẻ vang cho dân tộc Việt khi cố gắng học hành để trở nên người lãnh đạo xuất sắc trong Quân Lực Hoa Kỳ, một quân lực hùng mạnh vào bậc nhất thế giới.

Người quân nhân binh chủng Quân Cụ và người sĩ quan TQLC Trần Khắc Báo đã thể hiện tinh thần của một quân nhân Quân Lực VNCH, luôn đặt Tổ Quốc – Danh Dự và Trách Nhiệm trên hết.

THANH PHONG

Nguồn: THỜI BÁO (The Vietnamese Newspaper)

TƯ LIỆU ĐỌC THÊM

Cuộc rút lui và thảm sát trên Đại lộ Kinh Hoàng

Ngày 31 tháng 3, căn cứ hỏa lực của TD4 TQLC tại núi Ba Hô và Sarge bị tràn ngập, phải di tản vào lúc 9 giờ 40 tối sau khi tổn thất nặng. Ngày 1 tháng 4, các căn cứ Đông Hà, Cam Lộ, Ái Tử bị pháo kích nặng nề nhưng nhờ hải pháo của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ nên QĐNDVN vẫn chưa chiếm được. Tuy nhiên trước sức tấn công mạnh mẽ của QĐNDVN, lần lượt các căn cứ hỏa lực A-1, A-2, A-3, A-4 do SD3BB trấn giữ, bị tấn chiếm, còn căn cứ Fuller và Khe Gió thì di tản chiến thuật. Căn cứ Holcomb của TQLC cũng bị tràn ngập lúc 12 giờ 30 khuya đêm 2 tháng 4

Ngày 30 tháng 4, tư lệnh chiến trường kiêm tư lệnh SD3 Bộ Binh Việt Nam Cộng hòa là Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, triệu tập phiên họp đặc biệt và quan trọng để bàn kế hoạch giữ thành phố Quảng Trị và bỏ căn cứ hỏa lực Ái Tử. Do đó, trong cuộc lui quân, trên 2.000 quân Việt Nam Cộng hòa khi qua cầu Thạch Hãn thì cầu bị sập, khiến cho một số lớn chiến xa, xe cộ, đại bác và quân trang quân dụng… phải bị bỏ lại phía bên kia cầu. Cùng với dòng lính đang rút chạy, nhiều thường dân cũng nhập lại thành một đoàn dài lẫn lộn cả dân và lính. Lúc đó Quốc lộ 1, đoạn từ Hải Lăng về Mỹ Chánh, đang bị QĐNDVN chiếm và đóng chốt, nhất là cầu sông Nhung, nằm giữa Quốc lộ. Đoàn người xuôi Nam hỗn loạn, lớp lính, lớp dân, lớp dân trộn vào với lính, bằng đủ loại phương tiện, từ chạy bộ quang gánh đến quân xa, thiết giáp, xe đò, xe lam, xe máy. Một số quân nhân còn khả năng tác chiến cá nhân hay ở cấp đơn vị nhỏ, mạnh ai nấy đánh và mạnh ai nấy chạy nhưng không còn khả năng hành quân nhổ chốt mở đường. Tình trạng này đã làm gián đoạn giao thông, đoàn xe di tản của dân và lính, dài hơn ba cây số.

Theo RFA thì “hàng chục ngàn thường dân đã chết trên đoạn đường này, và cái tên Đại lộ Kinh Hoàng được nhắc tới từ ngày đó”.

Ngày 23 tháng 7 năm 2005 Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm lễ cầu siêu cho các liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn. Tại đây, sau khi dâng hương cúng tại đài liệt sĩ, Hòa thượng Thích Chánh Liêm, Trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Trị, cho biết: “Năm 1972, trận chiến ở Quảng Trị đã làm hàng chục nghìn người chết, con đường quốc lộ đoạn qua Hải Lăng bấy giờ được gọi là ‘đại lộ kinh hoàng’, người chết la liệt. Tháng 8/1973 đã diễn ra một lễ đại cầu siêu kéo dài 7 ngày 7 đêm. Hơn 3.000 tăng ni và hàng nghìn Phật tử đã về đó tìm xác, chôn cất người chết. Tất cả đều được chôn cất đàng hoàng và được làm lễ cầu an sinh linh. Bây giờ đi trên quốc lộ 1A, qua đó vẫn thấy Đài Địa Tạng lưu giữ dấu ấn về đại lễ cầu siêu năm đó”.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Những người Việt thành công trên thế giới năm qua

VNN- Trên thế giới có khoảng 3,5 triệu Việt kiều đang sinh sống tại 94 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong năm qua, nhiều người Việt đã có tên trong các danh sách được bình chọn là “nổi tiếng”.

Người Việt lọt top 100 thiên tài thế giới

​.​

 

Ông Võ Đình Tuấn, tiến sĩ vật lý gốc Việt, Viện trưởng Viện Fitzpatrick của ĐH Duke (Bắc Carolina, Mỹ), vừa được Công ty tư vấn và kinh doanh toàn cầu Creator Synectics bình chọn là một trong “100 thiên tài đương thời thế giới”.

 

Tiến sĩ Võ Đình Tuấn

Sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, sau khi tốt nghiệp trung học, ông Tuấn sang Thụy Sĩ du học và lấy bằng cử nhân vật lý năm 1971.

Năm 2003, ông còn là một trong bốn nhà khoa học Mỹ gốc Á được Cơ quan Thương hiệu và phát minh Mỹ (USPTO) tôn vinh. Theo đánh giá của USPTO, những phát minh của TS Võ Đình Tuấn đã góp phần làm cho Mỹ trở thành một trong những nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế giới.

Sau gần 30 năm hoạt động khoa học, đến nay ông Võ Đình Tuấn đã có hơn 30 bằng phát minh và sáng chế đang được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực môi trường, sinh học và y học. Ngoài ra, ông Tuấn còn đoạt 5 giải thưởng Nghiên cứu & Phát triển, đồng thời là tác giả của hơn 300 công trình được in ấn trên các tạp chí khoa học.

 

Tiến sĩ Chu Hoàng Long nhận giải thưởng Eureka 2011

Tiến sĩ Chu Hoàng Long

Đây là giải thưởng khoa học uy tín và danh giá nhất Australia được trao cho công trình nghiên cứu “Mô hình lưu lượng dòng chảy đo lường lượng nước có thể sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và lượng nước cần dự trữ để bảo vệ môi trường” của TS Long (ĐHQG Australia) và GS GS Michael Stewardson (ĐH Melbourne).

Trường Kinh tế Quản trị Crawford của ĐHQG Australia, nơi TS Long đang làm việc, là một trường chuyên tập trung vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu ứng dụng cho chính sách.

Theo chia sẻ của TS Chu Hoàng Long, anh sẽ trở về Việt Nam để tham gia vào công tác giảng dạy, nghiên cứu, ứng dụng khoa học ở Việt Nam.

 

Cậu bé 12 tuổi được mời thỉnh giảng tại trường ĐH

Nguyễn Tường Khang

Cậu bé gốc Việt Nguyễn Tường Khang, 12 tuổi trong năm 2011 đã được trường đại học ở bang Virginia mời làm giáo viên thỉnh giảng, thuyết giảng môn thuyết trình mỗi tuần 4 giờ. Được biết, mỗi giờ thuyết giảng, Khang được trả 250 USD. Thông tin về thần đồng nhí gốc Việt này lan truyền với tốc độ chóng mặt trên các website thế giới.

Nguyễn Tường Khang sinh ngày 31.2.1999, đang học lớp 6 trường tiểu học Hunters Woods ở Fairfax. Khi mới 8 tuổi, cậu bé đã được bố cho học về diễn thuyết trước công chúng tại Câu lạc bộ diễn giả trẻ (YSC).

Tại cuộc thi tài năng diễn thuyết tổ chức vào năm 2010 với chủ đề giáo dục dành cho lứa tuổi từ 11 đến 19, do Hiệp hội Thăng tiến cho Người da màu bảo trợ và được tổ chức tại thành phố Suffolk (Virginia), Nguyễn Tường Khang đã giành chiến thắng với bài thuyết trình “Hòa bình có ý nghĩa thế nào với tôi”.

Tuy nhiên cậu bé lại nổi danh nhất với bài hùng biện về giáo dục. Những ý tưởng của Tường Khang được coi là đánh giá bổ sung vào bài phát biểu về giáo dục của Tổng thống Obama, đồng thời truyền đạt cho các bậc phụ huynh nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của giáo dục.

Bác sĩ gốc Việt làm cố vấn cho Tổng thống Mỹ Barack Obama

Ngày 7/10/2011, Tổng thống Brack Obama đã chính thức bổ nhiệm tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thanh Tùng, một người Mỹ gốc Việt vào làm thành viên Ủy ban Cố vấn Tổng thống về Người Mỹ gốc Châu Á – Thái Bình Dương.

Ông Tùng hiện đang giữ chức Giám đốc Dự án nâng cao sức khỏe cộng đồng người Việt. Năm 2002, ông được trao giải thưởng Kiềm chế Phát triển bệnh ung thư của tổ chức American Cancer Society vì thành tích xuất sắc về điều trị và nghiên cứu của ông.

Nguyễn Thanh Tùng từng giành được học bổng toàn phần của đại học Harvard. Sau khi tốt nghiệp cử nhân ngành Triết học tại Harvard, Nguyễn Thanh Tùng theo học ngành Y khoa tại ĐH Stanford.

 

Phát minh người Việt có khả năng ứng dụng rộng rãi thế giới

Thạc sỹ Nguyễn Thành Đồng và kỹ sư Hoàng Diệu Hưng giành chiến thắng tuyệt đối trong cuộc thi Giải pháp thông minh cho môi trường do Bộ Môi trường và Viện Hàn lâm Khoa học Tổng hợp Cộng hoà Séc tổ chức vào ngày 17/3/2011.

CH Séc đã đánh giá rất cao về đề tài này, với phát minh của hai nhà khoa học trẻ và phát minh này có khả năng ứng dụng rộng rãi tại các nước Châu Âu và trên thế giới.

 

Người Việt thành công nhất tại tập đoàn IBM

Ông Bùi Tiến Dũng

Ông Dzung T. Bùi (Bùi Tiến Dũng), Phó chủ tịch – phụ trách nhóm điều hành kinh doanh toàn cầu và là người Việt thành công nhất tại tập đoàn máy tính IBM lớn nhất nước Mỹ.

Quê gốc ở Thái Bình, sang Mỹ du học năm 17 tuổi, ông không ngại dấn thân trong mọi lĩnh vực.

Xa quê hương đã hơn 30 năm, song Bùi Tiến Dũng vẫn nói tiếng Việt thành thạo. Ông tâm sự: “Dù ở đâu, tôi luôn nhớ mình là người Việt Nam. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi vẫn cố gắng sử dụng tiếng mẹ đẻ, như khi trò chuyện với các con, làm thơ, viết văn, thậm chí lúc lái xe hay trao đổi với khách hàng. Không chỉ mình tôi mà tất cả các thành viên trong gia đình vẫn giữ nguyên nếp sống đặc trưng của người Việt. Tôi cho rằng điều này rất quan trọng, bởi nó giúp các con tôi sau này luôn hiểu rõ về nguồn gốc của mình”.

  • Tú Uyên (tổng hợp

Từ Bạc Liêu tới NASA.

WESTMINSTER – Xuất thân từ một vùng thôn quê, cách thị xã Bạc Liêu 16 cây số, cậu học sinh lớp 11 năm nào, người từng định nhảy xuống biển bơi ngược về nhà trên chuyến tàu vượt biên, giờ đây, đã có thể hãnh diện tự tin ngồi đối thoại, thuyết trình cùng những nhà khoa học Mỹ về các đề án cải tiến kỹ thuật cho việc thám hiểm mặt trăng của cơ quan nghiên cứu không gian NASA. Cậu học sinh năm nào đó chính là Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước ngày nay. Giản dị, chân chất, cởi mở là điều dễ nhận thấy ngay trong lần đầu tiếp xúc với tiến sĩ Trịnh Hữu Phước, người đang giữ nhiệm vụ trưởng nhóm chuyên viên kỹ thuật nghiên cứu và chế tạo động cơ hỏa tiễn hạng nặng cho NASA.
1

Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước (giữa) cùng vợ, Tiến Sĩ Diệp Trịnh, và con gái út trong ngày nhận huy chương cho những đóng góp xuất sắc, lâu dài của ông cho kỹ thuật hỏa tiễn và những ứng dụng kỹ thuật mới cho phi thuyền Mặt Trăng và Hỏa Tinh, tháng 5 năm 2010. (Hình: Gia đình cung cấp)
“Tôi rời khỏi Việt Nam vào tháng 5, năm 1979, sau khi học hết lớp 11, tại Cà Mau. Ðáng lý ra phải đi chung với một số người trong gia đình, nhưng do trục trặc, cuối cùng chỉ có một mình tôi lên tàu. Trong lúc sợ quá vì không hề chuẩn bị tư tưởng cho việc ra đi một mình, trong người không có đồ đạc, tiền bạc gì hết, tôi đã định nhảy xuống bơi vào bờ.” Tiến Sĩ Phước bắt đầu câu chuyện với phóng viên Người Việt bằng cách kể lại chuyến vượt biên của mình cách đây hơn 31 năm.
Ra đi từ vùng thôn quê Bạc Liêu từ năm 16 tuổi, vượt qua nhiều gian nan để sinh tồn và học tập, hôm nay Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước đã là trưởng nhóm chuyên viên kỹ thuật nghiên cứu và chế tạo động cơ hỏa tiễn hạng nặng cho NASA.

3
Chủ tàu sợ lộ nên hứa với cậu bé Phước hãy cứ yên tâm đi, sang đến đảo ông sẽ giúp đỡ. Tuy nhiên, như phần đông những thuyền nhân khác, chuyến hải hành tìm tự do của Phước cũng bị cướp. Vì thế, khi đến trại, chủ tàu đã không làm như lời hứa. 16 tuổi, một thân một mình, không có bất cứ hành trang tài sản gì trong người, Phước bắt đầu làm đủ mọi việc để có thể kiếm ăn cho chính mình, từ bán bánh mì đến lên rừng chặt cây làm giường cho người ta trên đảo Kuku, sau đó là Galang.
Thời gian này, Phước tình cờ gặp lại một người bạn học cùng lớp ở Bạc Liêu, qua đảo trước đó 2 tháng. “Trước khi rời đảo Galang sang Mỹ định cư, người bạn đó hứa sẽ tìm người bảo trợ cho tôi, bởi lúc đó tôi còn ở tuổi vị thành niên,” anh Phước kể tiếp.
Với sự giúp đỡ của người bạn này, một cặp vợ chồng thầy giáo người Mỹ, không có con ruột, chỉ có hai con nuôi người Korean, nhận bảo trợ cho Phước từ trại tị nạn Galang đến tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ.
Sau 6 tháng sống trong sự bảo bọc của hai vợ chồng Mỹ tốt bụng, khi tròn 18 tuổi, Phước dọn ra ở riêng cùng một anh bạn quen lúc ở đảo. Thời gian tiếp theo, Phước vừa đi học vừa đi làm. Sau 4 năm rưỡi đến Mỹ, anh lấy được bằng đại học về kỹ sư phi hành không gian (Aerospace Engineer). Ðó cũng là lúc anh nộp đơn xin vào làm cho NASA theo một thông báo tuyển người mà anh trông thấy được ở trường đại học của mình. Tuy nhiên, sau khi phỏng vấn, anh Phước không được chấp thuận bởi lý do “anh chưa phải là công dân Hoa Kỳ.”
Dẫu vậy, người phỏng vấn đã cho anh một lời hứa: giữ vị trí đó cho đến khi anh trở thành công dân Hoa Kỳ. Ðồng thời người này cũng khuyên anh trong thời gian chờ thi quốc tịch, hãy học tiếp bằng “master.”
Trịnh Hữu Phước chính thức về làm cho NASA sau khi tốt nghiệp cao học năm 1987, chuyên về phát triển động cơ hỏa tiễn “LOX-methan” – sử dụng nhiên liệu oxygen và methan lỏng – cho phi thuyền bay vào mặt trăng.
Như một sự sắp đặt của số phận, người bạn học ngày nào giúp anh đến Mỹ đã trở thành người bạn đời sau đó của Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước. Ðiều đặc biệt, cả 2 người, anh Phước và chị Diệp, tên vợ anh, đều ở trong nhóm kỹ sư của trung tâm phi hành không gian Marshall thuộc NASA ở Huntsville, Alabama. Trong thời gian làm việc tại đây, hai vợ chồng anh đã tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ.
“Với người Việt Nam xưa nay, NASA vẫn là một điều gì đó khiến người ta ngưỡng mộ. Vậy bản thân anh cảm thấy như thế nào khi là một thành viên của NASA?” Tôi hỏi Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước khi anh đang say sưa nói về công việc của mình. Anh cười thoải mái: “Tôi nghĩ bất kỳ ai cũng ít nhiều cảm thấy tự hào và hãnh diện về nơi làm việc của mình. Tôi cũng vậy thôi. Mà không chỉ người Việt Nam đâu, cả người Mỹ cũng cảm thấy tự hào khi làm việc cho NASA. Các con tôi cũng cảm thấy hãnh diện khi nhìn thấy sự xuýt xoa của bạn học khi chúng khoe cả ba mẹ đều làm cho NASA.” Chưa có con số thống kê chính xác xem có bao nhiêu người Việt Nam đang làm việc cho 8 trung tâm NASA trên toàn nước Mỹ. “Riêng tại Trung Tâm Alabama, nơi chịu trách nhiệm về chế hỏa tiễn hạng nặng thì có chừng 6, 7 người Việt, tính luôn cả 2 vợ chồng tôi, trong tổng số 7,500 người làm việc tại đó.” Anh Phước cho hay.
Từ lần thám hiểm mặt trăng lần cuối của Hoa Kỳ vào năm 1972, cho đến nay, cơ quan không gian Hoa Kỳ NASA mới lại bắt đầu nghiên cứu những cải tiến kỹ thuật về dụng cụ khoa học cho cuộc thám hiểm cũng như chế tạo phi thuyền một cách hoàn hảo thêm. Nhằm mục đích đến mặt trăng trong thời gian tới để khảo sát địa chất và những dữ kiện thiên nhiên như đo nhiệt độ lòng đất, độ động đất, độ từ trường… NASA chọn đề án chế tạo phi thuyền người máy Robotic Lunar Lander (RLL) để dùng cho cuộc thám hiểm này.
Trong đề án này, Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước, trưởng nhóm chuyên viên kỹ thuật nghiên cứu và chế tạo động cơ hỏa tiễn, chịu trách nhiệm đề án hai loại hỏa tiễn cho phi thuyền RLL. Trong đó, một loại dùng nhiên liệu lỏng điều khiển phi thuyền trong lúc bay và đáp xuống mặt trăng, một loại dùng nhiên liệu đặc để tạo ra phản lực làm giảm tốc độ của phi thuyền trước khi đáp.
Ðể có thể đảm đương nhiệm vụ tại trung tâm phi hành không gian Marshall thuộc NASA ở Huntsville, Alabama, không thể không nhắc tới quá trình học hành gian nan của Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước, đặc biệt là những ngày tháng vất vả để học tiếng Anh. Anh Phước nhớ lại: “Tôi vào một lớp học ESL, học vài tuần cảm thấy không học nổi, vừa xin thầy giáo cho ‘drop’ lớp nhưng đồng thời tôi cũng xin thầy cho tôi được học dự thính để ngồi nghe xem thầy nói gì.” Thấy người học trò chịu khó quá, thầy giáo dạy tiếng Anh đã cho anh một “đặc ân:” mỗi khi chuẩn bị kiểm tra viết bài luận, thầy cho anh biết đề trước một ngày để anh về “ì ạch viết. Sau đó học thuộc lòng và hôm sau vô chép lại theo trí nhớ!”
Với môn khoa học chính trị, “lúc đó mình mù mịt chẳng biết gì, thầy động viên nếu cố gắng làm bài đạt điểm B, thầy sẽ nâng lên thành A. Và thế là tui ráng được B.” Anh cười hồn nhiên kể lại việc học không dễ dàng của mình ở những năm đầu đến Mỹ. “Người ta học 1, học 2, mình phải học gấp 10 lần, bởi ngôn ngữ này xa lạ với mình quá mà.” Anh thú nhận. Trải qua những ngày tháng học hành khó nhọc như vậy, nên ngày nay, khi có thể tự tin cùng ngồi lên đề án, phác thảo mô hình thiết kế hỏa tiễn cho việc nghiên cứu thám hiểm không gian cùng những nhà khoa học tên tuổi của Mỹ, Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước cũng “cảm thấy có phần hãnh diện.”
Câu chuyện vượt biên, vượt khó, từ một vùng nông thôn Bạc Liêu tiến đến NASA, được vợ anh Phước kể cho 3 cô con gái họ nghe mỗi ngày. Tiến Sĩ Phước nói một cách thú vị: “Các con tôi thường nói thời đại ba mẹ khác thời đại chúng con, hay chúng con đã nghe câu chuyện này cả ngàn, lần cả triệu lần rồi. Thế nhưng mỗi lúc cần viết một bài luận về câu chuyện thích nhất, bao giờ chúng cũng viết về câu chuyện của bố mẹ mình.”
Nhìn lại chặng đường đã qua, Tiến Sĩ Trịnh Hữu Phước cảm nhận: “Mỹ là vùng đất cơ hội. Nhiều người Việt mình đã thành công trong nhiều lãnh vực trên đất nước này. Nhìn lại những gì đã qua, tôi chỉ muốn chia sẻ kinh nghiệm với những người trẻ là hãy cố gắng học khi có điều kiện, bởi học vấn luôn là nền tảng để mình có thể tham gia vào nhiều lãnh vực.”

3
Hai Khoa Học Gia Trịnh Hữu Phước và Võ Thị Diệp. Hai Khoa Học Gia Nasa Gốc Việt: Cặp Vợ Chồng Gặp Từ Thơ Ấu
LGT: Họ là hai nhà khoa học tại cơ quan không gian Hoa Kỳ NASA — Võ Thị Diệp và Trịnh Hữu Phước — và cũng là một cặp vợ chồng có duyên tiền định: họ là bạn học từ thời thơ ấu. Câu chuyện được nhà báo Trọng Minh kể lại trong Tài liệu VẺ VANG DÂN VIỆT như sau.
Họ là ai? Là hai người sanh ra ở hai thôn khác nhau tại một tỉnh lẻ thuộc cuối vùng trời đất nước Việt Nam. Biết nhau dưới một mái trường trung học của thị xã, nàng được bầu làm trưởng, còn chàng làm phó lớp. Xa nhau vì hoàn cảnh đất nước, mỗi người mỗi phương tưởng như không bao giờ còn có dịp gặp lại. Tái ngộ trong một trại tỵ nạn ở Nam Dương, trong lúc nàng đang ngồi bán những gói muối mang theo trên đường vượt biển và chàng đi làm thủ tục giấy tơ ngang qua. Dìu nhau đến vùng đất hứa. Đạt thành giấc mộng Mỹ quốc, trở thành hai tiến sĩ, khoa học gia không gian Hoa Kỳ (NASA). Sống hạnh phúc bên nhau với 3 người con gái đang tuổi trưởng thành. Điểm đặc biệt cần nói thêm ở đây là cả 3 cô con gái đều sanh ra ở Hoa Kỳ, nhưng nói và viết thông thạo tiếng Việt, và rất nặng tình yêu quê hương, truyền thống dân tộc, mỗi lần có dịp về quê thăm họ hàng nội, ngoại, sống hòa mình với mọi người, không ngủ phòng lạnh, tắm bồn mà ngủ ngoài bờ tre, tắm ao …
Quý bạn đọc muốn biết về hai nhân vật “huyền thoại” này, xin mời theo dõi phần tiểu sử đầy đủ của họ dưới đây:

VÕ THỊ DIỆP


Họ và tên: Võ Thị Diệp.
Ngày và nơi sanh: 14 tháng 12 năm 1962 tại làng Giòng Me, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam.
Học lực: Tiến Sĩ Hoá Học.
Nghiên Cứu Vật Liệu Mới Để Dùng Trong Chương Trình Thám Hiểm Không Gian: Mặt Trăng, Hoả Tinh Và Những Hành Tinh Khác.
Trong cuộc đời của mỗi con người chúng ta, có những sự thành công bởi những điều kiện thuận lợi từ trong hoàn cảnh gia đình cho đến ngoài xã hội. Nhưng cũng có những sự thành công được nung đúc bởi sự đấu tranh không ngừng nghỉ của một ý chí cầu tiến vượt qua tất cả những khó khăn và trở ngaị từ trong hoàn cảnh gia đình cũng như ngoài xã hội. Sự thành công vượt bực đó, có được từ lòng mơ ước mãnh liệt và tha thiết được ấp ủ trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống và lòng ao ước, mong cầu có một nền tảng văn hoá, kiến thức và học vị.
Những thứ đó rất là xa vời, viển vông và ngoài tầm tay với cho những nhà nông chân lấm tay bùn. Những danh từ học vị như: Cử Nhân, Cao Học, Tiến Sĩ… thật cao xa, thật khó hiểu cho những người nông dân chất phác chỉ biết có mảnh ruộng mênh mông, đàn trâu ngậm cỏ, đàn cá trong ao. Tuy nhiên, những danh từ cao xa nhưng đầy hấp dẫn đó đã làm say mê một cô bé nhà nông chất phác chưa bao giờ được sống trong nền văn minh của đô thị. Và từ những đam mê đó đã khiến cô từ một cô bé nông thôn của một làng quê hẻo lánh trở thành một khoa học gia về ngành không gian của trung tâm nghiên cứu không gian Hoa Kỳ.
Cô bé nông thôn ham học đó chính là Tiến sĩ Hóa học Võ thị Diệp đang làm cho một trong những trung tâm nghiên cứu không gian của Hoa Kỳ tại thành phố Huntsville, thuộc tiểu bang Alabama. Cuộc đời thành đạt của nữ khoa học gia này không bình thường và đơn giản, mà nó phải trải qua nhiều giai đoạn đấu tranh không ngừng nghỉ để vượt qua mọi chướng ngại và khó khăn từ hoàn cảnh gia đình, xã hội cho đến ngôn ngữ.
Võ thị Diệp sanh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân tại làng Giòng Me, xã Vĩnh Lợi, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Là đứa con thứ bảy trong gia đình có tất cả là chín người con. Gia đình cô thuộc vào hàng trung nông trước biến cố năm 1975. Ba của cô không có cơ hội đến trường. Ông tự học để biết đọc biết viết. Còn mẹ của cô được ông ngoại tuy là một tá điền thời bấy giờ (lúc đó còn vào thời Pháp thuộc) mời thầy đến nhà để dạy cho biết đọc và biết viết. Bước đầu xây dựng gia đình với nhau, hai ông bà rất nghèo nên người chị cả và người anh thứ hai của cô không có dịp may để cắp sách đến trường. Sau này người anh thứ ba học hết trung học và trở thành một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Phần tất cả anh chị em còn laị đều được đi học.
Sau biến cố năm 1975, dầu hoàn cảnh xã hội thật khó khăn, nhưng cô vẫn tiếp tục học và phụ giúp gia đình trong công việc đồng áng. Cánh đồng nước mênh mông, cò bay thẳng cánh là nơi đã ấp ủ bao mơ ước xa vời của cô. Trên cánh đồng nước bao la, cô cứ tưởng tượng đây là trường đaị học. Tay ôm những cây mạ non để cấy mà cô mơ tưởng đến giảng đường đại học. Nghe tiếng chim hót, trâu góng, tiếng người trò chuyện gọi nhau trên cánh đồng, cô tưởng tượng lời giảng của những giáo sư đang giảng bài. Cho đến năm 1977, kinh tế càng khó khăn, cuộc sống càng khổ sở, gia đình bắt buộc cô phải nghỉ học vì học thời đó không có tương lai hoặc không có một chút hứa hẹn nào cả. Mặc dầu biết thế, cô vẫn đấu tranh với gia đình để tiếp tục được học. Mỗi buổi sáng, cô phải thức dậy thật sớm làm công việc nhà như hốt dọn chuồng heo …rồi mới được đi học.
Sau khi đi học về, phải gánh nước, giặt đồ, làm tất cả những việc nhà rồi mới được học bài. Cô phải trốn mẹ trong xó vắng để được đọc những tài liệu, sách vở mà cô ưa thích. Có ai đó đọc đến đây tự hỏi tại sao có những trường hợp lạ lùng vậy? Thật là đơn giản đối với những bà mẹ quê mùa chất phát, vào thời của cô chỉ biết nghĩ rằng: “Con gái cho học nhiều biết chữ chỉ để viết thư cho bạn trai, còn đọc sách là đọc tiểu thuyết nhảm nhí, hư thân.” Dưới mắt của những người lớn trong làng của cô lúc bấy giờ, cô là cô gái quá tân tiến. Taị vì trong cả làng chỉ có cô là cô gái duy nhất vẫn còn ôm sách đến trường ở tuổi mười bốn, mười lăm, thiếu ăn, thiếu mặc, cô vẫn không nản lòng ham học, ham hiểu biết. Không dám xin tiền mua sách để học, cô phải mượn tiền của bạn để mua sách, sau đó cô phải đi hái rau đắng hoặc bắt ốc ở ngoài ruộng đi bán kiếm tiền trả laị cho bạn. Có những lúc sợ mẹ không cho đi học, cô không dám xin tiền ăn quà, phải nhịn đói suốt cả ngày.
Có những lúc cô phải mặc quần đen ướt đi học, cô đi bộ một tiếng đồng hồ đến trường dưới ánh nắng gay gắt của vùng nhiệt đới làm cho chiếc quần khô trước khi bước vào lớp học. Sau bao lần bắt buộc cô nghỉ học không hiệu quả, ba cô đành đem sách học của cô đốt đi. Sau khi đốt sách của cô xong, ba cô không quyết liệt bắt cô nghỉ học nữa. Sau này ba cô cho cô biết, khi đem sách cô đi đốt, ba cô tình cờ thấy được những tờ giấy khen thưởng của nhà trường về sự học tập của cô, do đó ba cô không đành lòng cho cô nghỉ học. “Vấn đề này cô không muốn thố lộ ra vì ngaị rằng nếu người đọc không hiểu rõ hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ, và sự chất phát, mộc mạc của người nông dân không trình độ kiến thức, sẽ nghĩ không tốt về ba mẹ của cô. Hoặc nghĩ rằng cô đi khai xấu về cha mẹ mình. Thật ra ba mẹ cô là một trong những ba mẹ tiêu biểu cho tầng lớp nông dân, tận tụy hy sinh một đời cho đàn con thơ daị, tầm nhìn không xa hơn mảnh ruộng, bờ ao. Cô luôn luôn kính yêu và thông cảm cho hoàn cảnh của cha mẹ cô. Nhưng đối với cô, lúc nào cô cũng muốn vượt qua những giới hạn đó, và mong rằng thế hệ sau nay không phải đi qua những gì mà cô đã phải trải qua.”
Nhưng đến năm 1979 là năm quyết liệt nhất, vào năm đó cô đang học lớp 11 và cũng là năm mà gia đình nhất quyết bắt cô phải nghỉ học khi học hết lớp 11. Đứng trước hoàn cảnh đó, có đôi lúc cô muốn bỏ nhà trốn đi. Nhưng đi đâu? Làm gì? Ngay cô cũng không biết nữa, cô chỉ biết muốn đi, muốn tiếp tục được học mà thôi. Cuộc đời thật kỳ lạ, nhiều khi Trời chỉ thử lòng người chịu đựng được bao nhiêu. Một ngày nọ, cô đi ngang qua một nhà hàng xóm, chợt nghe một người nói: “Nếu cô đi vượt biên qua Mỹ thì cô sẽ có cơ hội để được đi học.” Câu nói đó như là lời Thánh, như là chiếc phao cứu giúp cô trong cơn thất vọng, lo rầu. Từ đó cô nuôi ý chí tìm đường vượt biên. Cơ may lại đến, không bao lâu sau đó, gia đình chị Hai có tàu đánh cá và đang tổ chức cuộc vượt biên. Cô có xin ba mẹ cho đi, nhưng ba mẹ cô không đồng ý vì lý do cô còn nhỏ, không người dạy dỗ sẽ dễ bị hư. Ba mẹ cô chỉ đồng ý cho người chị thứ năm và người anh thứ saú (người này không chịu đi, nhưng cả nhà laị năn nỉ anh đi) đi thôi. Nhưng cuối cùng người chị thứ năm quyết định ở laị chuyến đó. Thế là một lần nữa cô phải quyết định bỏ trốn gia đình để thực hiện mơ ước của mình. Sau bao lần trốn tránh, sau bao lần thất bại, nhưng cuối cùng con thuyền nhỏ cũng đã đưa được đoàn người rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn vào tháng tư năm 1979, lúc đó cô đang học nửa chừng năm lớp 11 và được 17 tuổi.
Sau hơn tám tháng tạm trú ở trại tỵ nạn thuộc đảo Indonesia, cô cùng người anh thứ sáu và đứa cháu trai lớn của người anh thứ ba được định cư tại thành phố nhỏ Alton, Illinois ngày 15 tháng 12 năm 1979. Cuộc sống mới, xã hội mới, ngôn ngữ mới, tất cả đều phải bắt đầu từ con số không. Không nhà cửa, không biết đọc, không biết viết, không biết nói, không cha mẹ, không tiền bạc, không hiểu luật lệ…. Cuộc đấu tranh mới lại bắt đầu với cô, một người sống tha hương với nỗi cô đơn, nhớ quê hương làng xóm, nhớ gia đình. Không danh từ và bút mực nào có thể diễn tả cho hết cả tâm trạng nhớ nhung, nỗi vất vả cho bước đầu của cuộc sống mới của cô. Để vượt qua hàng rào khó khăn về ngôn ngữ, cô phải ngày đêm miệt mài tự học tiếng Anh. Để chiến thắng với sự khó khăn trong đời sống kinh tế, đôi lúc cô phải đi bộ mười mấy cây số để đi làm, chắt chiu dành dụm từng đồng bạc để gởi về phụ giúp gia đình nơi quê nhà.
Sau mười tháng chuyên cần tự học thêm Anh ngữ, cô thi đậu bằng bổ túc văn hoá trung học. Cô nhờ một chuyên viên lo về vấn đề người tỵ nạn ghi danh cho cô đi học đại học cộng đồng (Community College) hầu tìm một nghề để nuôi sống bản thân. Nhưng vị chuyên viên này đã từ chối với lý do là Anh ngữ của cô còn quá kém. Một lần nưã cô laị phaỉ tìm đủ moị cách tự mình tìm phương tiện ghi danh để được vào học đại học cộng đồng (college). Sau hai khoá học, cô cảm thấy rằng mình có khả năng học cao hơn, không cần phải học nghề. Cô quyết định chuyển lên đại học (university) và có ý theo học ngành y khoa. Một lần nữa, vị cố vấn đó đã ngăn cản cô chuyển lên đại học cũng vẫn là lý do Anh ngữ cô còn quá yếu.
Lịch sử lại tái diễn, cô vẫn quyết tâm chuyển lên đại học. Cản cô không được, ông đành nhờ đến vị cố vấn ở trường đại học khuyên cô đừng ghi danh vào đại học. Cô vẫn kiên tâm không thối bước, vẫn ghi danh học đại học và cuối cùng cô đã được ghi vào danh sách những học sinh ưu tú của trường ngay năm đầu cô học đại học (Dean List. Cuối cùng, gia đình nhỏ gồm có ba người cách nhau khoảng ba tuổi đều học xong bậc đại học. Người anh thứ sáu hiện là kỹ sư điện tử đang làm việc và sinh sống ở Free Mont, California. Người cháu hiện nay cũng là kỹ sư điện tử và đang làm việc sinh sống tại thành phố Chicago, Illinois.
Cô đã kết hôn với người bạn học cùng chung một lớp từ lớp 8 đến lớp 11 lúc còn ở Việt Nam, đó là Tiến sĩ Kỹ sư Cơ khí Trịnh Hữu Phước hiện cũng làm tại cơ quan NASA cùng cô. Cuộc hôn nhân này cũng là một sự tình cờ thú vị. Cô gặp lại người bạn học này tại trại tỵ nạn ở Indonesia. Trước khi đi định cư, cô có hứa là sẽ giúp đỡ tìm bảo trơ cho anh. Sau khi định cư, ngoài việc giữ đúng lời hứa tìm bảo trợ, cô còn gởi tiền giúp cho anh Trịnh Hữu Phước trong hoàn cảnh khó khăn ở traị tỵ nạn. Sau khi anh Phước định cư tại Hoa Kỳ, cả hai sống cùng một thành phố Alton. Cùng chung hoàn cảnh khổ nghèo, cùng hướng về tương lai và cùng sự tương đồng trong quá khứ, cuối cùng hai người kết hôn năm 1986 và bây giờ đã có ba con gái. Cô gái lớn, tên Trịnh Tố Duyên, năm nay 19 tuổi, đang đeo đuổi ngành luật tại Đại học Alabama. Cô gái thứ hai, Trịnh Tố Như, năm nay 16 tuổi, đang học trung học và có mong ước theo ngành y khoa. Cô gái út, Trịnh Tố Phi, năm nay 10 tuổi, đang cố gắng miệt mài và chuyên tâm tập luyện với mong ước một ngày không xa sẽ đoạt huy chương vàng của thế vận hội về ngành thể thao trượt nước đá (ice skating).
Học trình:


Năm 1980, sau bao ngày miệt mài tự học (cô từ chối không chịu vào trường trung học vì sợ không đi làm được, để kiếm tiền giúp gia đình còn ở Việt Nam) cô thi đậu bằng GED (bằng bổ túc văn hoá trung học).
1985, tốt nghiệp bằng Cử nhân Hoá học hạng Danh Dự tại Southern Illinois University at Edwardville. 1987, tốt nghiệp Cao học Hoá học tại University of Missouri-Rolla.
Trong thời gian làm việc cho cơ quan NASA tại Huntsville, Alabama, cô tiếp tục đi học, năm năm sau, 1997, cô tốt nghiệp bằng Tiến sĩ Hoá học tại University of Missouri-Rolla.
Hoạt động:


Năm 1987 sau khi được thâu nhận vào cơ quan NASA Marshall Space Flight Center tại Huntsville, Alabama, cô đã được giao trách nhiệm về phần thử nghiệm, kiểm chứng và khám phá những khuyết điểm của những vật liệu dùng trong chiếc phi thuyền con thoi và hai hỏa tiễn dùng nhiên liệu đặc để đưa phi thuyền con thoi vào trong quỹ đạo. Ngoài ra, cô còn làm cho nhiều chương trình nghiên cứu không gian khác, như chương trình kết hợp chất đạm trên không gian không chịu ảnh hưởng sức hút của trái đất, chương trình AXAF-I, SXI.
Những năm sau đó cô đã giữ vai trò quan trọng trong vấn đề nghiên cứu và chọn lọc những loại nước sơn dùng cho trạm không gian (Internation Space Station Freedom). Cô cũng là trưởng toán trong vấn đề nghiên cưú về bề mặt của kim loại nhôm để chế ra viễn vọng kính bằng phương pháp mạ kền. Viễn vọng kính này dùng để khám phá những tinh tú trong vũ trụ trong chương trình Thế Hệ Mới Của Viễn Vọng Kính (The Next Generation Space Telecope). Sau chương trình này, cô cùng một số khoa học gia khác nghiên cứu về vấn đề làm sao con người có thể sống trong vũ trụ và không gian mà không bị ảnh hưởng bởi tia cực tím và những tia phóng xạ (Human Exploration and Development of Space).

Hiện nay cô là trưởng nhóm trong vấn đề nghiên cứu vật liệu nhẹ và bền để thay thế cho phần kim loại dùng trong các động cơ máy móc để có thể giảm bớt đi rất nhiều trọng lượng trong chương trình trở lại Mặt Trăng, đi lên Hỏa Tinh và nhiều hành tinh khác trong không gian. Thêm vào đó, cô là khoa học trưởng trong phần dùng vật liệu cách ly nhiệt cho phần hỏa tiễn của phi thuyền con thoi và Hỏa Tiễn ARES-I sẽ thay thế cho phi thuyền con thoi vào khoảng năm 2012.
Khen thưởng:


Bằng khen thưởng kèm theo tiền thưởng của khoa học và kỹ thuật về phần nghiên cứu tìm ra chất liệu mới chống tia cực tím dùng trong nước sơn hoặc lớp phủ bên ngoài của những con tàu vũ trụ. Cùng với bằng thưởng trên, cô còn có nhiều bằng khen cùng nhóm (group Achievement Award) trong những chương trình như: Hỏa tiễn dùng nhiên liệu đặc (Solid Rocket Booster program), Tổng hợp chất đạm trên không gian (Protein Crystal Growth Furance)…..
Cô không thích nói nhiều về sự thành công của cô trên mảnh đất đầy cơ hội này. Sự thành công của cô trên đất Hoa Kỳ có thể quá vĩ đại so với hoàn cảnh và những gì mà cô đã trải qua. Nhưng thật ra sự thành công này quá nhỏ nhoi so với bao nhiêu sự thành công của đồng bào ta đã đạt được trong cuộc sống tha hương ở Hoa Kỳ nói riêng và toàn thế giới nói chung. Cô chỉ thích chia xẻ những khó khăn mà cô đã vượt qua để những ai có lòng cầu tiến, lòng mơ ước đừng bao giờ nản lòng khi gặp khó khăn, trắc trở. Để chúng ta thấy rằng không phải chỉ có “Con vua mới làm vua được, còn con sãi ở chùa chỉ quét lá đa”. Khi mình đã thành công, đã vượt qua cuộc đời khổ nhọc rồi thì xin đừng quên những người cùng trong hoàn cảnh của mình ngày xưa. Hãy giúp đỡ họ, hãy cho họ một ánh sng, một hy vọng và một cơ hội tiến thân cũng như mình đã có./

 

 

 

https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRgWVdar5O0oXYDolNCXZPyDw8d6hx5s6FYW1pgm67YXAIcIQ-KHw

8 tỷ phú gốc Việt “làm mưa làm gió” trên đất Mỹ​

Trong giới đầu tư tài chính Mỹ, cái tên Chính E.Chu là một cái tên vô cùng quen thuộc mà mỗi khi nhắc đến mọi người phải kiêng nể.
Chính E. Chu (Chính Chu) sinh năm 1966 tại Việt Nam. Năm 1975, ông cùng gia đình di cư sang Mỹ với vốn liếng chỉ vài trăm USD. Vừa đi học, ông Chu vừa đi bán sách lẻ và giao đến tận nhà. Chu có bằng cử nhân Tài chính tại Đại học Buffalo, một trường công tại New York (Mỹ).
8 tỷ phú gốc Việt

Chính E.Chu cùng vợ là ca sĩ Hà Phương (thứ hai trong số 3 chị em Cẩm Ly, Minh Tuyết, Hà Phương) và 2 con gái
Hiện tại Chính E.Chu đang là giám đốc cấp cao của tập đoàn đầu tư tài chính Blackstone (Mỹ). Chính E.Chu sở hữu trong tay số tài sản lên tới 1,1 tỷ USD. Biệt tài mà mọi người nhớ tới ông chính là khà năng “đạo diễn” hàng loạt vụ thương thuyết cho Blackstone. Nhiều người nói đùa rằng “không có thương vụ nào tuột khỏi tay Chính E.Chu”.
Bằng khả năng của mình, Chính E.Chu đã lần lượt “thu mua” rất nhiều tập đoàn, công ty… thu lại khoản lợi nhuận vô cùng béo bở và trở thành một cái tên khiến phố Wall phải kiêng dè.
Bill Nguyễn – Người có duyên bán hàng cho Apple
Sinh năm 1971, Bill Nguyễn lớn lên trong một gia đình gốc Việt sang định cư tại Mỹ vào năm 1969. Anh từng làm nghề phụ bán xe hơi cũ vào cuối tuần để trang trải tiền học và phụ giúp gia đình. Bill Nguyễn đỗ đại học Houston, nhưng nhanh chóng bỏ dở để theo nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực phần mềm.
8 tỷ phú gốc Việt

Bill Nguyễn được miêu tả là người giản dị, thích chơi game và chỉ ngủ khoảng 3 tiếng mỗi ngày
Năm 1999, Bill Nguyễn đã làm chấn động giới công nghệ khi bán công ty chuyên về phần mềm tin nhắn mới thành lập chỉ 1 năm cho Phone.com, với mức giá 850 triệu USD. Năm 2000, Bill Nguyễn trở thành sáng lập viên kiêm CEO công ty phần mềm Seven Networks, chuyên sản xuất các ứng dụng cho thiết bị di động. Với thành công của Seven Networks, Bill từng được tập đoàn truyền thông MSNBC bầu chọn là nhân vật triển vọng nhất năm, thậm chí được coi là người “có khả năng thay đổi bộ mặt công nghệ thông tin toàn cầu”.
Thành công lớn nhất của doanh nhân 7X người Mỹ gốc Việt này là Lala.com, dịch vụ kết nối âm nhạc và chia sẻ đĩa CD giá 1 USD. Sau 2 năm ra đời, Lala.com lọt vào mắt xanh của Apple, và ông lớn công nghệ đã bỏ ra khoảng 80 triệu USD để thâu tóm dịch vụ này, sau đó kết hợp nó vào iTunes. Bill Nguyễn và các cộng sự trong dự án Lala.com đều được mời về làm việc tại Apple vào năm 2008.
Charlie Tôn Quý – Ông hoàng của nghề nail
Với khởi điểm chỉ là một bài tiệm nail đầu tiên, Charlie Tôn Quý đã bắt đầu kế hoạch vươn xa hơn nữa của mình bằng cách đưa tiệm nail vào các siêu thị, cửa hàng…
8 tỷ phú gốc Việt

Charlie Tôn Quý muốn hông muốn nghề nail không chỉ là một trong những nghề tạm bợ và ông đã khiến nó trở thành một “thiên đường hái ra tiền”
Một thời gian sau, gần 1,200 cửa hàng nail của Charlie Tôn Quý đã có mặt trên toàn nước Mỹ. Charlie Tôn Quý đã thành công khi đưa thương hiệu Regal Nails trở nên nổi tiếng khắp toàn nước Mỹ. Không những thế, ông cũng giúp rất nhiều lao động Việt Nam có việc làm trong các cửa hàng nail của mình.
Hiện tại, với gần 1.200 cửa hàng nail, thu nhập bình quân của Regal Nails là khoảng 500 triệu USD mỗi năm. Không dừng lại tại đó, Regal Nails đang tham vọng đưa thương hiệu ra toàn thế giới.
Đoàn Trí Trung – “Ngôi sao đang lên” của chip LED
Kỹ sư gốc Việt Đoàn Trí Trung là một trong những người sáng lập công ty Semiled (bang Idaho, Mỹ). Ông cũng là chủ hoặc đồng chủ sở hữu 250 bằng sáng chế có giá trị trong lĩnh vực kỹ thuật điện tử tại Mỹ
8 tỷ phú gốc Việt

Đoàn Trí Trung được mệnh danh là “ngôi sao đang lên” của lĩnh vực chip LED (chíp điot bán dẫn trong công nghệ thông tin)
Công ty chuyên về thiết bị bán dẫn của ông Trung đã phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) năm 2010 và được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường chip LED. Công ty của doanh nhân này, ngoài trụ sở ở Mỹ, còn có thêm 2 nhà máy tại Trung Quốc và Đài Loan.
Jenny Tạ – “nàng Lọ Lem phố Wall”
Rời quê hương khi mới 6 tuổi cùng anh trai và người mẹ đơn thân nghèo, nước Mỹ trong mắt Jenny Tạ vào những tháng ngày đầu tiên là khu bán đồ cũ tại Salvation Army hay Thrifty, nơi mẹ cô thường dẫn các con đến mua sắm.
Năm 25 tuổi, cô lập Vantage Investments nhưng nhanh chóng thua lỗ, phải vay 100.000 USD của mẹ để vực dậy công ty. Công việc kinh doanh của Jenny Tạ xoay chiều chỉ sau 2 tháng, đến năm 1999, cô đủ tiền trả cho mẹ cả gốc và lãi.
8 tỷ phú gốc Việt

Jenny Tạ được nể phục vì là phụ nữ Mỹ gốc Việt đầu tiên thành lập 2 công ty chứng khoán có tầm vóc quốc tế tại phố Wall.
Năm 2001, Jenny Tạ bán Vantage Investments, thu về khoản lời hàng triệu USD. 3 năm sau, cô tiếp tục điều hành công ty chứng khoán Titan, chuyên về tư vấn đầu tư, mua bán sáp nhập, và rồi lại bán công ty này với mức giá mà Jenny từng thừa nhận là “không thể chối từ”. Tổng số tài sản ở hai công ty của Jenny Tạ lúc này lên tới 250 triệu USD.
Rời nghiệp chứng khoán, Jenny Tạ bắt tay vào xây dựng một công ty chuyên về truyền thông xã hội Sqeeqee.com. Đây là công ty đầu tiên trên thế giới khai sinh khái niệm “Social Networthing” – một mạng xã hội giúp mọi người kết nối và kiếm lợi nhuận. Giá trị của Sqeeqee hiện ước tính lên tới cả tỷ USD.
Triệu Như Phát: Tỉ phú từ BĐS
Sinh ra tại Hải Phòng, năm 7 tuổi, ông theo gia đình vào Sài Gòn. Năm 1975, ông cùng vợ sang Mỹ định cư. Nhờ vào vốn tiếng Anh nên ông dễ dàng tìm được công việc bán máy hút bụi tại California. Thế nhưng, với đam mê làm giàu sẵn có, ông quyết tâm khởi sự kinh doanh cho riêng mình.
8 tỷ phú gốc Việt

Ông không vội vã làm giàu mà muốn có trước hết một nền tảng kiến thức vững chắc. Vì thế, ông chấp nhận làm công việc bảo vệ để đi học thêm.
Năm 1978, ông Triệu Như Phát chính thức khởi sự kinh doanh ngành bất động sản tại California khi thành lập Công ty Bridgecreek. Dồn hết tâm huyết vào đây, suốt 10 năm trời gần như tuần nào ông cũng làm việc 7 ngày với hơn 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày.
Từ khi thành lập đến nay, Bridgecreek đã đầu tư các dự án bất động sản với tổng trị giá lên đến 400 triệu USD. Trong đó, có Khu thương mại Phước Lộc Thọ (còn mang tên tiếng Anh là Asian Vineyard Mall) đóng vai trò trung tâm thương mại quan trọng của người châu Á tại Mỹ.
Trung Dung – Điển hình cho “Giấc mơ Mỹ”
Năm 1984, Trung Dung mới 17 tuổi và đến Mỹ với 2 USD trong tay. Tuy nhiên, ông đã khiến cho cả nước Mỹ phải e dè và nể phục vì khả năng vươn lên của mình.
Chàng thanh niên nghèo năm nào hoàn thành chương trình tiến sĩ và bắt đầu làm việc khởi điểm tại công ty Công ty phần mềm thương mại điện tử OpenMarket.
8 tỷ phú gốc Việt

Với khả năng kinh doanh, sự nhạy bén trong lĩnh vực công nghệ, ý chí không sợ khổ, sợ khó đã giúp Trung Dung trở thành một điển hình trong cuốn sách Giấc mơ Mỹ của tác giả Dan Rather.
Một thời gian sau Trung Dung rời OpenMarket để thành lập công ty OnDisplay vào năm 1996. Với thành công của mình, Trung Dung đã khiến phố Wall kiêng dè về khả năng phát triển trong ngàng Internet Mỹ, vốn là thế mạnh của đất nước này.
Tính đến năm 2000, Trung Dung được cả nước Mỹ biến đến với món “hời” lợi nhuận gần 1,8 tỉ USD từ thương vụ bán cổ phần của OnDisplay.
Hoàng Kiều – tỷ phú giàu nhanh nhất của Forbes
Doanh nhân Việt 71 tuổi Hoàng Kiều sinh ra và lớn lên tại làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Vốn yêu thích công việc kinh doanh từ nhỏ, Hoàng Kiều sớm đạt được thành công ở tuổi 30, khi sở hữu một khách sạn lớn ở Đà Nẵng. Năm 1975, ông sang Mỹ, làm lại từ đầu với hai bàn tay trắng và tìm được công việc tại phòng thí nghiệm điều trị gan của Abbott. Sau 5 năm, ông được đề bạt lên vị trí giám đốc, được cử đi học quản trị kinh doanh, sau đó hùn vốn mua lại một phần cơ sở thí nghiệm này. Từ đây ông lập công ty RAAS và điều hành công việc thu gom huyết thanh chuyên dụng, cung cấp cho ngành công nghiệp phân tách.
8 tỷ phú gốc Việt

Ông Hoàng Kiều từng có ý định bỏ khoảng 500 triệu USD để đưa cuộc thi Hoa hậu Thế giới về Việt Nam vào năm 2008 và 2010
Kinh doanh thành công giúp ông mở rộng RAAS và “bao” luôn dịch vụ thử nghiệm cho các cơ sở sản xuất huyết tương lớn của Mỹ. Năm 1988, ông chuyển một phần việc kinh doanh của mình tới Trung Quốc, lập ra Shanghai RAAS. Khi Shanghai RAAS được IPO trên sàn chứng khoán Thâm Quyến, tài sản của ông Hoàng Kiều gia tăng nhanh chóng, từ mức 1,6 tỷ USD vào khoảng tháng 3/2014 lên mức 2,8 tỷ USD vào tháng 9, xếp thứ 222 người giàu nhất tại Mỹ. Ông cũng được Forbes xếp hạng vào top những doanh nhân giàu nhanh nhất thế giới trong tháng 9 vừa qua.
Nhật Anh (Tổng hợp)

Người Việt đầu tiên nhận giải thưởng khoa học danh giá

Lê Viết Quốc, đang làm việc tại Google, trở thành người Việt Nam đầu tiên đạt được giải thưởng toàn cầu TR35 dành cho 35 nhà sáng tạo trẻ dưới 35 tuổi có cống hiến xuất sắc trong lĩnh vực công nghệ, do tạp chí công nghệ danh tiếng Technology Review trao tặng.
Tiến sĩ Lê Viết Quốc là người Việt đầu tiên nhận giải thưởng danh giá TR35 (Ảnh: Facebook nhân vật)

Tiến sĩ Lê Viết Quốc là người Việt đầu tiên nhận giải thưởng danh giá TR35
(Ảnh: Facebook nhân vật)
Mới đây, tạp chí công nghệ danh tiếng và lâu đời của Mỹ Technology Review (thuộc Học viện công nghệ Massachusetts MIT) vừa công bố danh sách những người được vinh danh trao giải thưởng TR35 năm 2014, dành cho 35 nhà sáng tạo trẻ có cống hiến xuất sắc nhất trong các lĩnh vực công nghệ, khoa học, y tế… đáng chú ý, trong đó có Lê Viết Quốc, hiện đang làm nhà khoa học làm việc tại Google.
Sinh năm 1982 tại một ngôi làng nhỏ ở Hương Thủy (Thừa Thiên-Huế), khu vực mà Lê Viết Quốc sinh ra không có điện, tuy nhiên Lê Viết Quốc thường xuyên đến thư viện gần nhà để nghiên cứu kỹ càng về những phát minh thông qua những trang sách và mơ ước một ngày nào đó sẽ có những phát minh của riêng mình.
Đến năm 14 tuổi, Lê Viết Quốc cho rằng nhân loại sẽ được giúp đỡ bởi cỗ máy đủ thông minh để có khả năng tự sáng chế. Chính suy nghĩ này đã quyết định đến tương lai của Lê Viết Quốc khi anh định hướng theo con đường nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo.
Tốt nghiệp trường chuyên Quốc học Huế, Lê Viết Quốc tiếp tục theo học tại Trường Đại học Quốc gia Australia (Úc) và sau đó thực hiện nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại Đại học Stanford (Mỹ) về trí tuệ nhân tạo.
Trong quá trình theo học tại Úc, Lê Viết Quốc nhận thấy rằng các phần mềm trí tuệ nhân tạo thường phải có sự giúp đỡ và can thiệp của con người, buộc người dùng phải nhập trước dữ liệu để chúng tập trung xử lý. Kiểu công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ này không thu hút Quốc.
Trong khi đang là nghiên cứu sinh tại Đại học Stanford, Lê Viết Quốc đã vạch ra một chiến lược để làm cho phần mềm tự động học hỏi. Thực tế trước đó giới nghiên cứu đã có những kết quả khả năng, nhưng rất chậm, về việc phát minh phương pháp tự học cho máy tính, gọi là “deep learning”, trong đó sử dụng các hệ thống máy tính mô phỏng tế bào thần kinh con người.
Lê Viết Quốc đã tìm ra cách để tăng tốc nghiên cứu này, bằng cách thiết lập các mạng lưới máy tính mô phỏng tế bào thần kinh với quy mô lớn gấp 100 lần thông thường, cho phép truy xuất dữ liệu lớn hơn gấp hàng ngàn lần. Đây là một giải pháp đủ sức thu hút để “gã khổng lồ” Google quyết định tuyển dụng Lê Viết Quốc vào làm việc.
Tại Google, Lê Viết Quốc tiếp tục nghiên cứu và phát triển công nghệ của mình dưới sự hướng dẫn của Andrew Ng, một giáo sư nổi tiếng chuyên về nghiên cứu trí tuệ nhân tạo tại đại học Stanford.
Khi kết quả nghiên cứu được công bố vào năm 2012, Google đã châm ngòi cho một cuộc chạy đua về đầu tư nghiên cứu công nghệ “deep learning” giữa các “ông lớn” như Facebook, Microsoft…
Công nghệ này sau đó đã được áp dụng thử nghiệm bằng cách xây dựng hệ thống có thể tự động nhận diện mèo, con người và hơn 3.000 đối tượng khác nhau chỉ bằng cách xử lý 10 triệu hình ảnh từ các đoạn video được đăng tải trên Youtube mà không cần có sự hướng dẫn của con người. Công nghệ của Lê Viết Quốc đã cho thấy rằng máy móc vẫn có thể tự học hỏi mà không cần có sự trợ giúp từ con người và có thể đạt một mức độ cao về sự chính xác.
Hiện tại công nghệ của Lê Viết Quốc đang được sử dụng trong hệ thống phần mềm tìm kiếm hình ảnh và nhận diện giọng nói của Google.
Được thành lập từ năm 1999 bởi tạp chí công nghệ Technology Review (thuộc quyền quản lý của Học việc công nghệ MIT), giải thưởng thường niên TR35 được trao cho những nhà phát minh có tuổi đời dưới 35, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm y sinh học, điện toán, viễn thông, năng lượng, vật liệu, thiết kế web và giao thông vận tải.
Những người được trao giải là các cá nhân có công trình nghiên cứu được giới khoa học đánh giá cao và hứa hẹn sẽ được áp dụng trong tương lai.
Nhiều tên tuổi lớn của giới công nghệ đã từng được trao giải thưởng TR35, bao gồm Larry Page và Sergey Brin (2 nhà đồng sáng lập của Google), Jonathan Ive (thiết kế huyền thoại của Apple, Linus Torvalds (cha đẻ của hệ điều hành Linux)…
Tiến sĩ Lê Viết Quốc là người Việt Nam đầu tiên nhận được giải thưởng danh giá này.

https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRFCXUB93JPNgDboapIp0NcyL6k2x2D11wTnSUU3_5lx8jqytsGeQ

Kinh nghiệm West Point của Amanda Nguyễn, cô gái Việt nhỏ bé

WESTMINSTER, California (NV) – Khi nhắc đến Học Viện Quân Sự West Point là nhắc đến một đại học với điều kiện nhập học khó khăn bậc nhất với tỉ lệ tuyển sinh 9%, cùng những vòng sát hạch gay gắt. Thế nhưng, trong trường hợp của Amanda Nguyễn, thì việc nhập học West Point, là do chính Học Viện Quân Sự nổi tiếng bậc nhất của Hoa Kỳ, và của cả thế giới này… đề nghị.amanda nguyen 1

Tân thiếu úy Amanda Nguyễn sau buổi lễ tốt nghiệp tại Học Viện Quân Sự West Point, hôm 28 Tháng Năm. (Hình: Gia đình cung cấp)

Lý do chỉ có thể vì bản thân Amanda là một người xuất sắc.

Trong số bốn thanh niên gốc Việt ưu tú vừa tốt nghiệp tốt nghiệp Học Viện Quân Sự West Point vào ngày 28 Tháng Năm vừa qua, Amanda là người có ngạch cao nhất: cô là thủ quân của đội Softball của trường, và trong năm học cuối cùng, đã đạt được thành tích cá nhân đáng ghi nhận như: chơi nhiều trận đấu nhất, at bat nhiều nhất, hit (quất trúng) nhiều nhất và ghi điểm nhiều nhất…

Lọt mắt xanh của West Point

Năm nay 22 tuổi, Amanda sinh ra và lớn lên ở Houston, Texas, là trưởng nữ của một gia đình người Việt tị nạn hiện đang sống ở tiểu bang này.

Cha cô, ông Nguyễn Ngọc Vinh kể rằng hồi còn nhỏ, Amanda “rất chăm học, và rất thích thể thao.” Ngay từ khi ở những lớp 6,7,8, Amanda đã chơi nhiều môn thể thao của trường như bóng rổ, bóng chuyền, điền kinh. v.v… Thêm vào đó, Amanda còn chơi Softball cho Hội tuyển trong vùng.

Lên trung học, ngoài những môn học thường xuyên, Amanda tham dự nhiều sinh hoạt cộng đồng: cô là Tổng thư ký của Hội Latin, là Phó chủ tịch hội ‘Debate’ (tranh luận) của trường, vì thế chỉ còn đủ thì giờ chơi hai môn thể thao mê thích nhất là bóng chuyền và ‘Softball’ (một loại Baseball) cho trường J. Frank Dobie Highschool ở Houston, Texas.

Là một thiếu nữ có tinh thần kỷ luật cao, lại chịu khó luyện tập, vào năm lớp 12, Amanda được bầu là tuyển thủ giỏi nhất của tiểu bang Texas trong vị trí ‘second base’. Thành tích chơi Softball xuất sắc này khiến Amanda được một số trường Đại học theo dõi, và muốn tuyển vào chơi cho trường của họ, từ hồi còn học lớp 10.

amanda nguyen 2

Amanda Nguyễn trong một trận Soft ball tại West Point. (Hình: gia đình cung cấp)

Ông Vinh cho biết để giúp con chọn một trường đại học thích hợp, ông đã cùng vợ đưa Amanda dến thăm viếng một vài trường đại học ở Colorado, Louisiana và Texas, nhưng Amanda chưa chấm trường nào.

Vào giữa niên học lớp 12, gia đình của Amanda bất ngờ nhận được điện thoại của bà Michelle Depolo, head coach đội Softball của Học Viện Quân Sự West Point. Bà Depolo cho biết khi đến quan sát các trận đấu Softball tại Houston, bà đã để ý đến Amanda, rồi khi xem xét điểm học và thành tích lãnh đạo của cô, “thấy vừa ý quá,” nên muốn tuyển mộ Amanda vào West Point chơi cho đội của trường.

Kể lại thời gian này bằng một giọng nói nhỏ nhẹ, đầy nữ tính, Amanda tâm sự rằng từ trước đến giờ cô “không hề nghĩ đến việc gia nhập quân đội,” và cũng chưa nghe đến West Point, nên rất phân vân e ngại, trước lời mời đến thăm khuôn viên đại học.

Amanda hỏi ý kiến mẹ. Mẹ Amanda bảo hỏi bố. Bố Amanda, ông Vinh, thì thú nhận cũng chẳng có kinh nghiệm quân sự, “không biết nghĩ sao,” nên mang sự việc hỏi ông nội của Amanda.

Ông nội của Amanda trước đây là một công chức tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia hành Chánh Việt Nam. Vì sống trong một nước chiến tranh nên ông phải theo học khóa quân sự đặc biệt tại Trường Đồng Đế Nha Trang, vì thế, tuy là dân hành chánh nhưng khi mãn khóa, ông lại là ‘Đồng Thủ Khoa khóa III Sĩ Quan Hiện dịch (1962) dưới thời Tướng Đỗ Cao Trí làm Chỉ Huy Trưởng. Định mệnh hình như đã an bài khi vừa nghe đến tên trường West Point, thì ông nội của Amanda reo lên và nói ngay “cháu không nên bỏ lỡ cơ hội tốt này.”

Thế là vào tháng Giêng năm 2010, Amanda cùng cha mẹ đến thăm West Point. Tại đây, họ được bà head coach Depolo đích thân tiếp đón. Bà Depolo nói ngay: “Ông Bà vui lòng đợi một chút, chúng tôi có một ngạc nhiên bất ngờ.”

Ngạc nhiên bất ngờ là lá thư “chấp nhận” Amanda vào Học Viện Quân Sự West Point, với hai điều kiện: Phải đậu cuộc khám nghiệm sức khỏe và phải có giấy giới thiệu của một thượng nghị sĩ hay dân biểu đại diện nơi Amanda cư ngụ.

Sau 3 ngày ở lại West Point, chăm chú quan sát sinh hoạt của trường và nơi tập luyện thể thao, tiếp xúc với một số người, Amanda nghiêm chỉnh nói với cha mẹ: “Con không muốn đi thăm trường nào khác nữa vì trường này coi trọng kỷ luật nên con muốn theo học và chơi Softball ở đây.”

Sức mạnh đến từ ý chí

Khi biết con đã quyết định, ông Vinh và vợ vừa mừng vui, vừa lo ngại. Ông kể:

“Chúng tôi nửa mừng, nửa lo, mừng vì con đã tỏ ra biết suy nghĩ và chọn cho mình một trường tốt, lo vì thương nó là một thiếu nữ, liệu rồi có đủ sức theo kịp đồng đội không.”

Ngày 28 tháng Sáu, năm 2010, khi bạn bè cùng trang lứa đang bắt đầu nghỉ hè, thì Amanda từ giã gia đình, lên đường trình diện West Point, bắt đầu 6 tuần lễ huấn nhục!

amanda nguyen 3

Amanda Nguyễn (giữa) cùng các nữ sinh viên sĩ quan West Point cùng khóa. (Hình: gia đình cung cấp)

Là cô con gái đầu lòng, Amanda từ nhỏ đã được cha mẹ đặt cho nhiều trách nhiệm, lại tự có tinh thần kỷ luật vì muốn xuất sắc trong môn thể thao mình ưa thích, nên thoạt đầu Amanda nghĩ rằng việc huấn nhục với mình chắc cũng “không đến nỗi nào.” Thế nhưng cô đã lầm.

“Thời gian đầu nhớ nhà không thể nào chịu nổi.” Cô tâm sự là lúc nản lòng nhất đã tự hỏi không biết mình có quyết định đúng chưa.

“Từ trước đến giờ em sống trong một đại gia đình, mỗi cuối tuần luôn luôn có cô cậu đến nhà thăm ông thăm bà nội, các em quấn quýt chung quanh, rồi đùng một cái không còn có người thân nào bên cạnh.” Amanda kể lại.

Nhớ nhà thì gọi phôn cũng đỡ đi cảm giác bị cách biệt, nhưng trong thời gian huấn nhục, trường không cho các sinh viên sĩ quan được dùng điện thoại. Nỗi buồn xa nhà đôi khi làm Amanda hết sức bối rối.

Ông Vinh kể: “Một trong những lá thư của Amanda trong thời gian huấn nhục tỏ lộ sự chán nản: ‘Tại sao mình lại phải một mình ở đây?’ Đọc thư đau lòng, chúng tôi chỉ biết khuyên con hãy ráng tròn bổn phận từng giờ, từng buổi, đừng quá lo nghĩ đến những chuyện ngày mai.”

Nếu bố mẹ khuyên nên cố gắng từng giờ từng buổi, thì cố vấn của trường khuyên cô phải tập trung tư tưởng để vượt qua từng bữa ăn một, và nếu buồn quá thì nói chuyện với những người bạn cùng hoàn cảnh. Amanda nguôi ngoai dần khi thấy bạn bè cũng buồn vì nhớ nhà như mình.

amanda nguyen 4

Tân Thiếu Úy Amanda Nguyễn được cha mẹ gắn lon sau lễ tốt nghiệp. (Hình: gia đình cung cấp)

Ngoài nỗi nhớ nhà, là một phụ nữ theo học chương trình huấn luyện quân sự cô có thêm những khó khăn riêng. Amanda tâm sự:

“Có người cho rằng quân trường không phải là nơi thích hợp cho phái nữ. Người khác nhìn em với những ánh mắt ái ngại rằng làm sao một cô gái nhỏ bé có thể chịu nỗi những khó nhọc mà cả những thanh niên lực lưỡng cũng phải… ngán.”

Trong quá trình huấn luyện, West Point, cũng như bất cứ Học Viện Quân Sự nào khác, đều không phân biệt nam nữ, tất cả đều cùng phải theo chung một chương trình luyện tập. Amanda kể:

“Em chỉ cao 5’2” nặng 110 pounds nhưng vẫn phải chạy bộ 14 miles với backpack nặng 30 lbs giống y như những chàng trai lực lưỡng cao hơn 6′.”

Trả lời câu hỏi làm sao thể chất của đàn bà có thể theo nổi chương trình huấn luyện cho dành cho nam quân nhân Hoa Kỳ, Amanda giải thích:

“Tất cả tùy thuộc vào tinh thần, vào sự quyết tâm. Thật ra chúng ta mạnh mẽ hơn mình nghĩ nhiều. Có nhiều nam sinh viên không chịu nổi khóa huấn luyện, và cũng có những phụ nữ rất xuất sắc. Sức mạnh đến từ một ý chí mạnh mẽ. ”

Không chỉ là tác chiến

Đầu tháng Bảy này, tân Thiếu Úy Amanda Nguyễn sẽ đến Fort Jackson, South Carolina để được huấn luyện 4 tháng trước khi đến phục vụ ở căn cứ Fort Bragg, North Carolina. Dù được huấn luyện để sẵn sàng tác chiến, nhưng ở Fort Bragg cô sẽ làm việc hành chánh tại phòng quản trị nhân lực (human resources).

Theo học ngành khoa học môi sinh (environmental science), Amanda chú trọng đến một vai trò khác  của quân đội Hoa Kỳ. Cô giải thích rằng gia nhập quân đội không nhất thiết là luôn luôn phải tác chiến. Ngay cả khi được điều động đi phục vụ ở một nước khác, vai trò của quân đội Mỹ không hẳn phải là để tham gia trận chiến, mà là để huấn luyện, để giúp những nước này đào tạo được một quân đội hùng mạnh hơn để tự bảo vệ đất nước họ.

“Chẳng hạn quân đội Mỹ hiện đang có những đội ngũ tìm cách phát triển nước trong (clear water) cho một số quốc gia, lại có những đội ngũ giúp quốc gia khác đối phó với ô nhiễm môi sinh. Trách nhiệm của quân đội là bảo vệ, bảo vệ mạng sống và cả những điều kiện liên quan đến mạng sống.”

Được hỏi nếu không chơi soft ball, và nếu phải làm lại từ đầu, cô có muốn nộp đơn vào học ở Học Viện Quân Sự West Point không, Amanda khẳng định: “Có chứ! Không thể đổi kinh nghiệm ở West Point với bất cứ gì khác trên đời.”

Rồi Amanda giải thích:

“Ở đấy em được chen vai thích cánh với những lãnh đạo hàng đầu của Mỹ, hiểu nhiều hơn về quân đội Hoa Kỳ, và thấm thía thế nào là tình đồng đội. Em nhớ vào năm thứ nhất, khi tin Osama Bin Ladin bị giết được loan đi, mọi người trong tất cả mọi lớp học túa ra ngoài, cả trường reo vang, người trèo cây, người la hét, sinh viên thứ nhất ôm chầm lấy sinh viên sắp ra trường, tất cả cùng một mục đích chung, cùng một sứ mệnh, cùng phụng vụ dưới một mầu cờ.”

Về dự tính tương lai, Amanda cho biết cô không có mộng làm một vị tướng trong quân đội, nhưng nói rằng dù có làm gì sau này, thì những điều đã học được ở West Point như rèn luyện ý chí, tinh thần phục vụ và trách nhiệm với quê hương sẽ là hành trang cô mang theo suốt đời.

 Hà Giang/Người Việt
Lễ Tuyên Thệ Nhận Chức Tân Toàn Quyền tiểu bang Nam Úc của ông Lê văn Hiếu.
Joe Vĩnh SA9/2/2014

Lễ Tuyên Thệ Nhận Chức Tân Toàn Quyền tiểu bang Nam Úc của ông Lê văn Hiếu.
Người Việt tỵ nạn đầu tiên giữ chức vụ cao nhất ở nước ngoài.Vào lúc 12 giờ 30, chiều thứ Hai, ngày 01/9/2014, các quan khách đã tề tựu về trước tiền đình và trong phòng tiếp tân của Adelaide Convention center (trung tâm Hội Nghị Trường Adelaide) chờ đúng giờ mở cửa, để vào tham dự Lễ Tuyên Thệ nhận chức của ông Lê Văn Hiếu AO Tân Toàn Quyền tiểu bang Nam Úc.
https://lh6.googleusercontent.com/-W_0vRaUk57U/VAUjAHSsJwI/AAAAAAAAARc/cxQeka9t6yk/w990-h661-no/DSC_0400_resize_resize.JPG

Đúng 01 giờ 00 Sảnh đường bắt đầu mở cửa, quan khách xếp hàng, trình Thiệp Mời với nhân viên an ninh (security) và được Ban Tiếp Tân hướng dẫn vào ghế ngồi, theo thứ tự ưu tiên.

Đúng 01 giờ 30 quan khách ổn định chỗ ngồi. Vị Thẩm Phán tối cao pháp viện mặc áo đỏ, mũ lông trừu và vị nữ Thừa Phát Lại tiến lên sân khấu.

Hàng quân danh dự xếp hàng trước tiền Hội Nghị trường. Và Đội Kèn đồng của lưc lượng cảnh sát tiểu bang

Khi chỉ huy đoàn quân danh dự giàn chào giõng dạc hô “NGHIÊM”…Chúng tôi nhìn lên đại màn ảnh, thấy xe của chính phủ cắm cờ hiệu tiểu bang và huy hiệu vương niệm Nữ Hoàng đến. Xe dừng lại, hai quân nhân tùy tùng mở cửa xe, ông bà Lê Văn Hiếu bước xuống, đoàn quân hô súng “CHÀO” bắt.

Ông bà Lê Văn Hiếu tiến đến, đứng trước đoàn quân, vị chỉ huy phất tay chào và nói lời trình diện đoàn quân trước vị Toàn Quyền.

Ban quân nhạc của cảnh sát trổi lên những bản nhạc hùng tráng, để rước phái đoàn chính quyền vào trong hội trường. Phái đoàn cùng đi với ông bà Lê Văn Hiếu, có ông bà Jay Weathrill thủ hiến Nam Úc, bà đại diện đảng đối lập tiểu bang và một vài vị trong chính quyền Nam Úc.

MC mời quan khách đứng dậy, tiếp đón phái đoàn. Dẫn đầu phái đoàn là nhóm múa lửa thiêng của người Thổ Dân Úc Châu thắp hương trầm, rước khói hương nghi ngút, bay cao lên không trung, vừa ca hát vừa nhẩy múa dẫn phái đoàn tiến lên sân khấu.

Khi phái đoàn tiến lên sân khấu, vị Thẩm Phán và quan khách đã hiện diện trên sân khấu, bắt tay chào từng người. Phái đoàn an toạ, MC chương trình là một nữ Xướng Ngôn Viên của đài truyền hình ABC số 2, giới thiệu tên từng vị trong phái đoàn.

Kế đến vị đại diện nhóm Thổ Dân phát biểu lời chào mừng ông Lê Văn Hiếu lên chức vụ Tân Toàn Quyền tiểu bang nơi vùng đất tổ tiên của họ.

Lễ Tuyên Thệ bắt đầu:

Vị Thẩm phán mời Ông Lê Văn Hiếu lên trước bàn tuyên thệ, đặt tay lên bài Sắc Chỉ của Nữ Hoàng tuyên thệ nhận chức và trung thành với Nữ Hoàng, trước sự chứng kiến của vị Thẩm Phán và Thừa Phát Lại lập vi bằng. Sau đó ông Hiếu ký tên trên bản Tuyên Thệ.

Tiếp theo chương trình MC mời ông Thủ Hiến Jay Weathrill lên phát biểu và nói lý do đề cử Ông Lê Văn Hiếu lên chức vụ Toàn Quyền tiểu bang Nam Úc.

Kế đến là lời phát biểu của Bà Đại Diện đảng Tự Do, đối lập trong quốc hội

Sau cùng là diễn văn nhận chức của ông Lên Văn Hiếu. Ông đã sơ lược qua tiểu và hành trình từ nhỏ tới lúc trưởng thành, rồi lưu lạc xuống xứ Úc, tận cuối của vùng Nam Thái Bình Dương.

Sau diễn văn của vị Tân Toàn Quyền, là lễ chào cờ Úc, với bản quốc ca do giàn nhạc của cảnh sát trổi lên hùng hồn.

18 phát đại bác nổ, vang dội khắp thành phố, do 4 khẩu Canon đặt trên bờ phía nam sông Torens bắn về hướng bắc để chào đón vị Tân Toàn Quyền.

Lễ Tuyên Thệ nhận chức Toàn Quyền chấm dứt với bản nhạc “We are Australians” do ban hợp xướng của Adelaide city đồng ca.

Ban hợp xướng Adelaide city đã giữ phần chính, trình diễn nhạc, từ lúc khai mạc cho đến khi kết thúc.

Sau Lễ Thuyên Thệ, các quan khách được mời ra ngoài hội trường, khu Tiếp Tân để nâng ly chúc mừng, với ông bà Lê Văn Hiếu và tham dự tiệc nhẹ.

Buổi lễ chấm dứt vào khoảng 04 giờ 00 chiều. Tuy nhiên ông bà Lê Văn Hiếu vẫn còn nán lại ít phút để tiếp các vị khách quen thân cho đến khi những nhân viên Body Guard báo hết giờ để đoàn quân danh dự giàn chào tiễn biệ

Thân nhân đến tham dự, chúng tôi nhận thấy có gia đình các Bào Huynh của ông Lê Văn Hiếu ở Adelaide và Sydney đều hiện diện.

Được biết: Ông Lê Văn Hiếu là người Úc gốc Việt tỵ nạn CS đầu tiên, vừa được đề cử lên nắm giữ chức vụ Toàn Quyền, một chức vụ cao trọng nhất từ xưa đến nay, trong chính quyền tiểu bang South Australia.

Theo lịch sử Úc Châu, thì chức vụ Toàn Quyền, từ khi lập quốc đến nay, đều do người bản xứ Úc, gốc Anh nắm giữ. Mặc dầu đã có nhiều sắc dân từ Âu Châu đến Úc định cư cả hai thế kỷ, sau Thế Chiến thứ II như: Hy Lạp, Ý, Đức, Hoà Lan..v..v.. Họ vẫn chưa từng được đề cử giữ chức vụ này.

Thế mà đến nay chức vụ Toàn Quyền tiểu bang đã chuyền sang tay một người Úc gốc Việt, mới chỉ định cư tại Úc Châu hơn 37 năm.
https://lh5.googleusercontent.com/-h8JO8SnfgaU/VAUjSRoeNpI/AAAAAAAAATM/ujn8Pw5vDXM/w990-h661-no/DSC_0424_resize_resize.JPG

XEM HÌNH Xin bấm vào link sau:

https://plus.google.com/photos/106568110265472303159/albums/6054282196762334993?banner=pwa

Ông Lê Văn Hiếu sinh năm 1954 tại Quảng Trị, miền Trung Việt Nam. Ông mồ côi cha từ nhỏ, sau khi tốt nghiệp trung học tại Đà Nẵng, Ô. Lê Văn Hiếu theo học phân khoa chính trị kinh doanh tại đại học Đà Lạt.

Vào tháng 11/1977, khi mới 23 tuổi, Ông cùng vợ, là bà Lan đã vượt biển đên thành phố Darwin miền cực bắc của Úc Châu và xin tỵ nạn tại Australia.

Sau đó gia đình Ông được di chuyển xuống thành phố Adelaide, thủ phủ của tiểu bang Nam Úc.

Tại đây, vợ chồng ông đã phải làm đủ mọi ngành nghề lao động chân tay để kiếm sống và để có tiền theo học tiếp tại đại học Adelaide, tiểu bang South Australia.

Ô. Lê Văn Hiếu tốt nghiệp cử nhân kinh tế, kế toán và đậu bằng cao học về Quản Trị Hành Chính (Master in Business Administration – MBA) đại học Adelaide.

Sau khi đạt được những thành công trên con đường học vấn, ông Lê Văn Hiếu đã được mời làm giảng viên của học viện dịch vụ Tài Chính Australia (Financial Services Institute of Australia), Ông còn giảng dạy tại học viện Cao đẳng TAFE Adelaide, đại học South Australia Unisa, và Đại học Adelaide về các môn Phiên dịch và Luật kinh doanh và là thành viên của Hiệp hội Kế toán Australia (CPA).

Vào đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, Ô. Lê Văn Hiếu là chuyên viên thẩm tra về thị trường đầu tư và tài chính của ủy ban Thanh Tra và Giám Sát các công ty, thị trường chứng khoán và đầu tư thuộc chính phủ Liên Bang Australia (Australian Securities and Investments Commission – ASIC).

Sau hơn một năm làm việc, ông được bổ nhiệm làm giám đốc Thanh tra cho ASIC tại Văn phòng Adelaide. Trách nhiệm chính của ông là thanh tra và giám sát các hoạt động cung ứng dịch vụ về tài chính, thị trường chứng khoán và đầu tư tại Australia.

Không chỉ được biết đến như một chuyên gia tài chính thành công, Ô. Lê Văn Hiếu còn nổi tiếng là một nhà lãnh đạo cộng đồng xuất sắc.

Năm 1995, Ô. Lê Văn Hiếu đã trở thành thành viên Hội đồng Đa Văn Hóa và Sắc Tộc sự vụ của tiểu bang Nam Úc (SAMEAC), nơi có cư dân “đến định cư từ 160 quốc gia khác nhau, nói trên 100 thứ tiếng và thờ trên 100 thượng đế khác nhau”.

Ông là người gốc Châu Á đầu tiên nắm giữ chức vụ chủ tịch Ủy ban Đa Văn hóa và Sắc tộc Sự vụ South Australia (SAMEAC).

Tháng 8/2007, Ô. Lê Văn Hiếu, người châu Á đầu tiên, và đặc biệt là người Việt đầu tiên đã được Nữ hoàng Anh Elizabeth II bổ nhiệm vào chức vụ Phó Toàn Quyền tiểu bang South Australia.

Theo yêu cầu của vị thủ hiến Nam Úc, The Hon. Mike Rann. Sau khi lên nhận chức vụ Phó Toàn Quyền, ông Lê Văn Hiếu vẫn tiếp tục kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch Hội đồng Đa Văn hóa và Sắc tộc Sự vụ.

Toàn Quyền hoặc Phó Toàn Quyền là những chức vụ có tính cách danh dự và biểu tượng, có chức năng đại diện cho Nữ Hoàng Anh trong những dịp nghi lễ, đón tiếp các vị nguyên thủ đến tiểu bang, hoặc khai mạc các buổi họp của các cấp chính quyền.
https://lh3.googleusercontent.com/-k_3epT06gc8/VAUighxLX6I/AAAAAAAAAOk/jcRIMHgkMf8/w990-h661-no/DSC_0369_resize_resize.JPG

Theo truyền thống, vai trò Phó Toàn Quyền do vị chánh án Tối Cao Pháp viện tiểu bang đảm nhận.

Ngày 16/12/2008, Ông được nhận bằng tiến sĩ danh dự do đại học Adelaide trao tặng, vì những đóng góp của Ông cho các dịch vụ xã hội và cũng là người Việt đầu tiên được một trường đại học cấp bằng tiến sĩ danh dự.

Ngày 26/6/2014, Thủ hiến tiểu bang South Australia, The Hon. Jay Weatherill công bố tin, bổ nhiệm ông Lê Văn Hiếu vào chức vụ Toàn quyền tiểu bang.

Thủ hiến Jay Weatherill nhận xét, “Ông Hiếu là người gốc Á Châu đầu tiên trong lịch sử tiểu bang của chúng ta, lên tới chức Toàn Quyền.

Câu chuyện của Ông là một câu chuyện nói lên sự can đảm, vượt qua mọi thử thách và là một ví dụ về sự thành công dù phải đối diện với rất nhiều thiệt thòi và khó khăn, bao gồm những trở ngại về văn hóa hay ngôn ngữ. Ông Lê Văn Hiếu là biểu tượng cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trong xã hội đa văn hóa của chúng ta”
Với việc trở thành người Á Châu đầu tiên là Phó Toàn Quyền đại diện cho Nữ Hoàng Anh ở tại bang Nam Úc ở tuổi 53, ông Lê Văn Hiếu đã góp phần khẳng định vai trò quan trọng và sự thành công của những người Việt Nam ở xứ sở này.
https://lh3.googleusercontent.com/-oMsVc62ygog/VAUjXz0exXI/AAAAAAAAATs/14CN74jhTqw/w990-h661-no/DSC_0432_resize_resize.jpg

Tháng 9/2014, ông Lê Văn Hiếu chính thức đảm nhiệm chức vụ Toàn Quyền tiểu bang South Australia thay thế Đề đốc Kevin Scarce.

Ông Lê Văn Hiếu sẽ là vị toàn quyền thứ 35 của tiểu bang South Australia và là người châu Á đầu tiên đảm nhận cương vị này.

Nói về những thành công của mình, ông Lê Văn Hiếu cho biết khi đặt chân đến nước Úc 37 năm về trước, Ông chẳng có gì mang theo “ngoại trừ một chiếc va li vô hình, chất đầy ước mơ” song khi “được vinh dự nhận chức Toàn Quyền là điều hoàn toàn vượt ra ngoài mọi giấc mơ, dù đó là giấc mộng ngông cuồng nhất” của Ông. (theo tài liệu trên internet)

-Thêm một “TẤM GƯƠNG SÁNG” cho giới trẻ của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu và các Cộng Đồng Người Việt tại hải ngoại trên toàn thế giới “NOI GƯƠNG”

Jo. Vĩnh SAAdelaide
http://www.vietcatholic.net/News/Html/129604.htm

tom-nguyen

Bác sĩ Tom Nguyễn, phụ tá giáo sư chuyên khoa giải phẫu tim thuộc trường Đại Học Y Khoa Texas, y sĩ thường trú tại trung tâm “Health Science” ở thành phố Houston (UTHealth) đã được tờ “Houston Business Journal” (HBJ) chọn đưa vào danh sách “40 Under 40 Class of 2014”.
Danh sách 40 người dưới 40 tuổi đã được tạp chí kinh doanh có uy tín nói trên tuyển chọn lọc từ 400 người được đề cử. Những người được đề cử phải là sáng lập viên của một công ty, hay tổ chức vô vụ lợi hoặc là chuyên viên có thành tích nổi bật, tạo nên một sự khác biệt, một cá nhân xuất sắc trong ngành hiện họ đang phục vụ.
Dr. Tom Nguyễn và nhóm chuyên viên giải phẫu tim mạch cùng làm việc chung với ông đã áp dụng kỹ thuật mới (Van Edwards Sapien) để thay van tim thông qua một vết rạch nhỏ ở háng bệnh nhân thay vì phải giải phẫu mở lồng ngực và buộc tim phải ngưng hoạt động theo phương pháp cũ đã được sử dụng từ trước đến nay. Trong suốt thời gian phẫu thuật, bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo, không cảm thấy đau và chuyên viên giải phẫu không cần phải gây mê cho bệnh nhân.
Bác sĩ Nguyễn đã xuất bản hai cuốn sách, từng là chủ tịch “Thoracic Surgery Residents Association” và là chuyên viên giải phẫu trẻ nhất của Trung tâm Y tế Texas.
Dr. Tom Nguyễn viết trong phần tự giới thiệu cá nhân với tờ Houston Business Journal, “Trong 19 năm liền kể từ sau khi tốt nghiệp trung học, tôi luôn nỗ lực để đạt được mục tiêu đề ra là trở thành một bác sĩ giải phẫu giỏi bằng tất cả khả năng của mình.”
Bác sĩ Tom Nguyễn ra đời ở Việt Nam, trưởng thành ở Houston, hoàn tất chương trình trung học ở Cypress, Texas, cử nhân Đại học Rice, cao học ở UTHealth và tốt nghiệp y khoa tại trường Y khoa John Hopkins, y sĩ giải phẫu tim nội trú thuộc đại học y khoa Stanford.
Ông đã tình nguyện phục vụ với tính cách thiện nguyện tại Phi châu trong 6 tháng và tại Việt Nam 4 tuần lễ.
Lễ trao giải thưởng và vinh danh 40 người trong danh sách ““40 Under 40 Class of 2014” sẽ được tổ chức ở khách sạn Zaza vào ngày 28/10 và sẽ được công bố trên tờ HBJ vào ngày 31/10.

 

Vẻ vang người Việt ; Người đến từ đất Gio Linh khô cằn sỏi đá

 

Cựu Trung Úy Lê Văn Thiệu, tốt nghiệp khóa 1 Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt bị tập trung trong các trại tù cộng sản 7 năm.

Sau khi đi tù về, ông làm nghề thợ mộc nuôi con, cho mãi đến năm 1995, gia đình mới sang Mỹ theo một chương trình H.O. khá muộn màng: H.31. Sau 5 năm định cư tại Hoa Kỳ, năm 2000 con đầu là Lê Thành học xong bằng Master về ngành điện tử tại đại học UTA (University of Texas at Arlington).

Năm 2004 con trai thứ ba, Lê Ðức Hiếu tốt nghiệp Master Computer science.

Năm 2005, Lê Huy, con trai thứ nhì lấy bằng tiến sĩ cũng ngành điện tử.

Năm 2010 con trai út Lê Ðức Hiển, ra đời năm 1982 sau khi ông Thiệu từ trại tù trở về, cũng đã tốt nghiệp y khoa.

Vào năm 2005, nhân ngày lễ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập hội H.O. Dallas-Fort Worth, gia đình ông Lê Văn Thiệu đã được vinh danh là một gia đình đến Mỹ muộn màng nhưng đã sớm thành công trên đất người.

Năm 2006, ba anh em nhà họ Lê thành lập công ty “Luraco technologies, Inc.” sử dụng kỹ thuật cao (high-tech) chuyên về nghiên cứu và chế tạo sản phẩm cho quốc phòng Mỹ.

Ba năm trước công ty được cấp kinh phí từ US Army để nghiên cứu và chế tạo ra một bộ cảm ứng thông minh (Intelligent Multi-Sensor) cho hai động cơ trực thăng chiến đấu hàng đầu của Mỹ là Blackhawk và Apache.

Ðể làm được điều này, nghiên cứu (research proposal) của công ty Luraco phải xuất sắc và vượt trội hơn nhiều công ty danh tiếng khác. Phát minh bộ cảm ứng thông minh này của công ty Luraco sẽ tiết kiệm hàng tỷ Mỹ kim mỗi năm cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về vấn đề bảo trì và an toàn cho hai loại máy bay trên. Hãng WPI tại Fort Worth, Texas đã mời Tiến Sĩ Lê Huy làm việc với chức vụ là khoa học gia (scientist) để đảm trách việc nghiên cứu về Flexible Active Circuits và Optical Sensors dùng trong hỏa tiễn và phi thuyền không gian. Hai năm qua công ty Luraco cũng thắng được hai hợp đồng với US Air Force và được cấp kinh phí để chế tạo hệ thống kết nối những sensors FADEC (Full Authority Digital Electronic Control) trong động cơ phản lực F.35 của Không Quân Hoa Kỳ. FADEC là project lớn dưới sự giám sát của cơ quan NASA Hoa Kỳ.

Ngoài NASA, công ty Luraco vinh dự được làm việc chung với Boeing và GE là hai công ty chế tạo động cơ phản lực (jet engine) cho phản lực cơ Hoa Kỳ. Ðây là công ty duy nhất của người Việt Nam nhận được kinh phí trực tiếp từ Bộ Quốc Phòng Mỹ để nghiên cứu và chế tạo những sản phẩm kỹ thuật cao cho quân đội. Người Mỹ khó tin được là các em trong công ty mới mẻ này là con một gia đình tỵ nạn cộng sản chỉ mới đặt chân đến Hoa Kỳ từ năm 1995. Thực dụng trong ngành thẩm mỹ ở Mỹ, Luraco là công ty đầu tiên sáng chế ra ghế Mini Pedicure Spa cho trẻ em, Jet nam châm (Magna-Jet) cho bồn Spa, máy khử mùi hóa chất (ChemStop) và máy hút bụi nail (Partigon) cũng như ghế Massage iRobotics.

Hai năm liền 2010 và 2011 công ty Luraco được vinh dự đón nhận bằng khen là một trong 50 công ty Châu Á phát triển nhanh nhất trên toàn quốc Hoa Kỳ. Năm 2010 công ty Luraco được xếp hạng thứ 69 trong 100 công ty phát triển nhanh vùng Dallas Fort Worth do Khoa Thương Mại trường Ðại Học SMU bình chọn. Trong bốn anh em nhà họ Lê, Tiến Sĩ Kevin Huy Lê là một thành viên trong Hội Quang Học Quốc Tế (The International Society for Optical Engineering) và là người giám định (Peer Reviewer) cho nhiều công bố về khoa học kỹ thuật cũng như tác giả của hơn 20 “technical publications in journals and conference proceedings.”

Những ngày ở Gio Linh Nhớ lại những ngày xa xưa, Lê Thành, giám đốc công ty Luraco, ngày nay cũng là một MC và “Mạnh Thường Quân” của cộng đồng tị nạn tại Dallas, Ft. Worth đã nói rằng anh không bao giờ quên những ngày khốn khổ ở vùng quê Gio Linh, một vùng bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, ngổn ngang những đống gạch vụn và những hố bom. Sau tháng 4, 1975, khi thân phụ phải vào trại tù tập trung, mẹ anh phải đưa các con về nương tựa bên ngoại. Khi mẹ anh kiếm được một chân y tá tại trạm y tế Gio Linh, Thành mới lên 5 tuổi, cùng với đứa em kế theo mẹ về trạm xá, còn hai em nhỏ trong đó có một đứa mới sinh phải “rứt ruột” gởi cho ông bà ngoại nuôi. Ba mẹ con ở trong một căn phòng lợp tranh, vách đất, không có điện bên cạnh trạm xá. Sau những giờ đi học, Thành phải đi mót củi, nấu cháo hay khoai và trông chơi với em.

Thành rất thương mẹ, nhớ đến những lúc mẹ khóc, nước mắt ướt cả mặt anh, vì cuộc sống quá cơ cực, cô đơn, mà chồng không biết lưu lạc ở trại tù nào. Con đến trường thì bị gọi là “con ngụy,” mẹ nơi chỗ làm thì được xem là “chồng có nợ máu!”

Sau 7 năm, khi cha của ông đi tù về mở một tiệm mộc, mẹ ông bỏ việc trở về sum họp với gia đình tại thôn Gio Mai. Thành lên trung học rồi thi đỗ vào Ðại Học Sư Phạm Huế, những năm cuối cùng trước khi lên đường đi Mỹ, Thành dạy tại trường Cao Ðẳng Sư Phạm Quảng Trị. Nhờ những tín chỉ của ÐH Sư Phạm, chỉ 5 năm sau khi đến định cư tại Dallas- Ft Worth, Lê Thành đã lấy xong Master ngành điện tử, cùng với các em Lê Hiếu, bốn năm sau lấy bằng tiến sĩ cùng ngành để xây dựng lên một công ty có đủ khả năng cạnh tranh với các công ty lớn của Mỹ.

So với những gia đình cựu tù nhân khác, gia đình ông Lê Thiệu đến Mỹ tương đối muộn, vì lúc ra tù, ông tìm về quê cũ, một vùng đất xa xôi, nghèo khổ, xa ánh sáng đô thị, thiếu hẳn tin tức và bạn bè. Nhất là sau khi Thừa Thiên, Quảng Trị sát nhập với Quảng Bình của miền Bắc để thành Bình Trị Thiên, tỉnh này thuộc cơ chế hành chánh của miền Bắc, khắt khe và đầy sự kỳ thị.

Mãi đến đầu năm 1990, khi thấy thấy rõ, chắc chắn bạn bè lên đường đi định cư ở Mỹ, ông Lê Thiệu mới dám nộp đơn cho công an địa phương. Nhờ tinh thần hiếu học và sự cố gắng vươn lên trong hoàn cảnh khắc nghiệt của tuổi ấu thơ, đến Mỹ, anh em nhà họ Lê như giống tốt gặp môi trường đất đai, khí hậu, phân bón tốt đã đâm chồi, nẩy lộc, cho trái tốt. Tuy vậy “nhớ công ơn cha mẹ đã trải qua những nỗi nhọc nhằn, tạ ơn nước Mỹ, đất của cơ hội đã cưu mang cho chúng con một đời sống mới, và cộng đồng người Việt tị nạn luôn luôn gần gũi, thương yêu gia đình chúng con,” đó là những lời giãi bày của những đứa trẻ từ mảnh đất Gio Linh nghèo khó, hôm nay đã thành công trên đất nước Hoa Kỳ.

Học sinh gốc Việt được trường Harvard và Stanford cấp học bổng

Với 36/36 điểm ACT – kỳ thi chuẩn hóa để xét tuyển vào ĐH của Mỹ, điểm trung bình (GPA) xuất sắc và nhiều bằng khen, Bryan Phan Hồ được Harvard Summer School (thuộc ĐH Harvard, Mỹ) cấp học bổng toàn phần.

Bryan Phan Hồ (tên Việt là Hồ Phan Vương Bảo, 15 tuổi), là học sinh lớp 10 trường Mision Viejo (California). Tháng 10 vừa qua, em đạt điểm tuyệt đối 36/36 của kỳ thi chuẩn hoá để xét tuyển vào ĐH của Mỹ – American College Testing (ACT). Trường Harvard Summer School (thuộc ĐH Harvard, Mỹ – Top 5 ĐH tốt nhất thế giới) và Stanford Summer School College (thuộc ĐH Stanford – đứng thứ 7 thế giới) hứa hẹn cấp học bổng toàn phần cho em.
Trong suốt 10 năm học, Bảo luôn đạt thành tích xuất sắc, nhận được nhiều bằng khen. Em từng đạt giải nhất cuộc thi Olympic Toán của tiểu bang Connectticut (lớp 6); thuộc top 5 học sinh có điểm số cao nhất cuộc thi Olympic Toán liên bang Hoa Kỳ; chứng nhận thành tích xuất sắc trong cuộc thi học thuật quốc tế IAC về Toán với hơn 5.000 học sinh trung học tham gia. Bảo còn nhận được bằng khen của Tổng thống Mỹ cho những kết quả học tập đáng nể. 
Bryan Phan Hồ (tên Việt là Hồ Phan Vương Bảo, 15 tuổi, học sinh lớp 10 trường Mision Viejo-California) đã được nhận nhiều bằng khen cho thành tích học tập xuất sắc, trong đó có giấy khen của Tổng thống Mỹ. Ảnh: NVCC.
Khi là học sinh lớp 8, Bảo đã được ĐH University of Washington (đứng thứ 48 trong số các ĐH tốt nhất của Mỹ) và Cal State Los Angeles (đứng thứ 84) nhận thẳng vào ĐH theo chương trình bỏ qua cấp 3 vì đạt 30/36 điểm ACT. Vì còn nhỏ, gia đình không muốn em phải xa nhà sớm nên từ chối nhập học. Cũng trong năm này, Bảo học song song 2 chương trình lớp 8-9 và đến nay đã hoàn thành chương trình Toán của cấp 3.
Từ bé, Bảo đã mong muốn được vào học hai ĐH top đầu thế giới – Harvard University và Stanford. Biết các trường này có khóa học mùa hè dành cho học sinh cấp 3, dù với yêu cầu rất cao (điểm ACT 32-35/36, điểm học tập gần tuyệt đối cộng với các hoạt động ngoại khóa, tỷ lệ cạnh tranh khoảng 5/100), Bảo vẫn quyết tâm thi vào. “Em mong muốn khoá học cùng các giáo sư hàng đầu thế giới và anh chị sinh viên sẽ mang lại kinh nghiệm về cuộc sống ĐH, giúp em tin tưởng khi chọn lựa ngành học chính thức, cũng như mở ra cơ hội tham gia các khoá học sau này”, Bảo tâm sự. 
Với nỗ lực của mình, cậu học sinh Hồ Phan Vương Bảo đã đạt tuyệt đối 36/36 điểm ATC. Điểm trung bình các môn học (GPA) của em cũng thuộc diện xuất sắc 4.6/4.0 (ở các lớp, điểm GPA tối đa là 5.0/4.0). Thành tích ấn tượng này giúp Bảo nhận được học bổng toàn phần của những trường thuộc top ĐH hàng đầu thế giới. “Em sẽ nghiên cứu về vi trùng học ở Harvard, Stanford, John Hopkins hay đâu đó. Nếu trở thành bác sĩ, em sẽ chỉ chữa bệnh được cho từng người, nhưng nghiên cứu ra loại thuốc tiêu diệt vi trùng, virus, em có thể chữa bệnh cùng lúc cho hàng triệu người”, Bảo nói.

Cô bé 12 tuổi người Mỹ gốc Việt đoạt danh hiệu Miss Spirit-New Jersey

New Jersey) Tên bé Amanda Nga Phan được xướng lên đến 2 lần liên tục cho 2 giải thưởng, và giá trị nhất là danh hiệu Miss Spirit New Jersey – NAM 2013.  
Amanda Nga Phan, 12 tuổi, người Mỹ gốc Việt đã đoạt vương miện Miss Spirit trong cuộc thi chung kết National American Miss (NAM) 2013 của tiểu bang New Jersey, diễn ra tại Hilton Hotel – East Brunswick NJ, vào ngày 18 tháng Tám.

Đương kim Miss Pre-Teen 2012 trao giải cho Amanda Nga Phan
Vòng chung kết của cuộc thi có 184 thí sinh được tuyển chọn trên 7,000 thí sinh dự thi của 21 counties trong tiểu bang NJ, trong số đó chỉ duy nhất có Amanda Nga Phan 12 tuổi là một người Mỹ gốc Việt, với thành tích xuất sắc và khá ấn tượng như:
– High Honor Rolls niên khoá 2012 và 2013
– Overall Best Element Video 2013
– Swimmer Certificate of Excellence 2012
– 1st Place in the 200 yard Freestyle 2013
– 1st Place in the 100 yard Butterfly 2012
– Qualified to the New Jersey Junior Olympics 2013
Ngoài ra, với năng khiếu ca hát và khả năng chơi được nhiều nhạc cụ như Keyboard, Piano, Violin , đàn tranh, cô bé Amanda đã tham gia rất tích cực các hoạt động sinh hoạt văn hóa văn nghệ trong cộng đồng người Việt tại New Jersey, Philadelphia và New York. 
Amande cũng từng đạt được nhiều giải thưởng văn nghệ và học bổng từ cộng đồng người Việt tại đây. Amanda Phan còn có thể sử dụng thành thạo bốn ngôn ngữ: Việt, Anh, Tây Ban Nha, Hoa và là thành viên tích cực trong nhóm Students Raising Students chuyên vận động quyên góp giúp đỡ các học sinh Châu Phi có được nền giáo dục tốt hơn.

Amanda Nga Phan trong phần thuyết trình
Với các thành tích xuất sắc nổi bật nêu trên, BGK NAM 2013 đã quyết định đặc cách tuyển thẳng Amanda Phan vào State Final List vượt qua hơn 1,000 thí sinh trong county để đến với cuộc thi chung kết NAM 2013 New Jersey độ tuôi Pre-Teen.
Một trong những hành trang mà cô bé Amanda Nga Phan mang đến với cuộc thi chung kết lần này là hình ảnh một cô gái Việt Nam trong tà áo dài với cây đàn tranh, lời giới thiệu và tấu khúc nhạc phẩm “Lòng Mẹ” của nhạc sĩ Y Vân. Em đã tạo được ấn tượng rất tốt đẹp cho BGK cuộc thi.

Amanda Nga Phan trong phần thi năng khiếu, biểu diễn đàn tranh
Một chi tiết rất thú vị là chính Cha của cô bé Amanda Phan, ông Thắng Phan đã thực hiện các kiểu tóc cho cô bé trong cuộc thi. Mẹ cô bé là  bà Thuý Hằng Trần, một nghệ sĩ đàn tranh hiếm hoi ở vùng đông bắc Hoa Kỳ, người đã truyền dạy và nuôi dưỡng cảm hứng âm nhạc cho Amanda. Để có được sự thành công của cô bé như ngày hôm nay, phần công sức tận tâm dạy dỗ và tình yêu thương vô bờ của cha mẹ đã góp một phần không nhỏ.

Amanda Nga Phan trong trang phục dạ hội

  Amanda Nga Phan trong trang phục thời trang công sở
Thật hãnh diện cho Cộng Đồng Người Việt New Jersey nói riêng và Cộng Đồng Người Việt Hoa Kỳ nói chung, xin chúc mừng bé AMANDA NGA PHAN, chúc mừng cha mẹ bé đã có công nuôi dưỡng và dạy dỗ để bé có được sự thành công như ngày hôm nay.
Chúc cô bé Amanda Nga Phan luôn có thành tích tốt trong học tập, thể thao, văn nghệ và đạt được thứ hạng cao hơn nữa ở các cuộc thi sắc đẹp và tài năng khác trong tương lai. 

Amanda Nga Phan
Chung kết cuộc thi National American Miss (NAM) 2013 của tiểu bang New Jersey diễn ra trong 2 ngày, từ 17 đến 18 tháng Tám, gồm 4 nội dung tranh tài chính: Formal Wear (30%); Personal Introduction (30%); Interview (30%); Community Involvement (10%) và các nội dung tự chọn: Talent; Casual Wear; Spokesmodel; Actress; Photogenic; Top Model.
National American Miss là một cuộc thi sắc đẹp & tài năng dành cho lứa tuổi từ 4 đến 20 được tổ chức hàng năm từ tháng Ba đến tháng Chín tại 50 tiểu bang, Washington DC và Puerto Rico.
Các thí sinh được chia thành 6 độ tuổi: Princess từ 4 đến 6 tuổi, Junior Pre-Teen từ 7 đến 9 tuổi, Pre-Teen từ 10 đến 12 tuổi, Junior Teen từ 13 đến 15 tuổi, Teen từ 16 đến 18 tuổi và Miss từ 19 đến 20 tuổi.
Mỗi tiểu bang sẽ chọn ra một thí sinh đại diện cho từng độ tuổi tiếp tục dự thi chung kết liên bang tại California vào tháng Mười Một.

Daniel TA
Bênh cạnh đầu tư cho việc học để đạt thành tích cao, Hồ Phan Vương Bảo còn nhiệt tình tham gia các hoạt động từ thiện ở thư viện thành phố hay bệnh viện. Trong ảnh, Bảo và Andy – con cá heo được em tài trợ cho trại cá heo ở Cabo San Lucas, Mexico. Ảnh: NVCC.
Cha của Bảo, anh Hồ Hoàng Giang, Phó chủ tịch một công ty về IT ở California cho biết, con trai mình rất say mê và có trách nhiệm trong học tập. Bố mẹ đã vất vả lập nghiệp từ hai bàn tay trắng trên đất Mỹ nên từ bé Bảo được giáo dục về ý thức và tầm quan trọng của việc học. Gia đình em cũng có truyền thống nghiên cứu khoa học, ông nội Bảo là tiến sĩ ngành địa chất Hồ Vương Bính.
Song song việc dạy dỗ nghiêm khắc, Bảo nhận được sự động viên, tạo điều kiện học tập tốt nhất từ gia đình. Em không bị thúc ép học bài mà có thời gian để vui chơi bên người thân, bè bạn, tham gia những trò chơi yêu thích của trẻ thơ như: game, liên hoan, du lịch vào mỗi kỳ nghỉ cùng gia đình… “Quan trọng nhất là phải dạy cho con tính tự chủ, biết học tập từ thất bại. Chúng tôi không bao giờ kiểm tra đúng sai từng bài tập của con mà chỉ hỏi con làm xong bài chưa. Tôi muốn để tự cháu biết sai và học lại”, anh Giang nói.
Ngoài việc đầu tư thời gian, tâm sức rất lớn cho việc học, Hồ Phan Vương Bảo còn tham gia nhiều hoạt động thể thao, giải trí như: bóng rổ, tennis, đánh cờ, diễn kịch, piano… Em là thành viên của chương trình tranh luận Model United Nations – hội nghị mô phỏng các phiên họp của Liên Hợp Quốc dành cho học sinh, sinh viên Mỹ. Ở đó, các bạn trẻ sẽ đóng vai đại biểu của các quốc gia cùng nghiên cứu, bàn luận và tìm giải pháp cho những vấn đề mang tính toàn cầu như: môi trường, hòa bình, HIV… Vương Bảo cũng làm thiện nguyện ở bệnh viện và trung tâm phục vụ cộng đồng… Mùa hè vừa qua, em đã dành trọn thời gian để giúp đỡ trẻ em trong trương trình đọc sách tại thư viện thành phố.
 NguyenDacSongPhuong

 

 

 

 

One thought on “Vẻ Vang Dân Việt

  1. Pingback: Happy Anniversary with WordPress.com- Chân thành Cảm Tạ | suonglamportland

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s