Thư Pháp Hội Họa

https://i1.wp.com/i86.photobucket.com/albums/k88/suonglam_2006/ThuphapthoSLcuaNgocChinh/XincaunguyenThuphapNC.jpgBức Tranh Thư Pháp

Portland chiều nay có mưa lạnh. Ngồi bên khung cửa sổ nhìn những hạt mưa rơi trên sân cỏ, tôi buồn nhớ đến những buổi chiều mưa ở Saigon. Khúc phim dĩ vảng quay về với tôi qua những giọt mưa rơi rơi tí tách:

“Tuổi mười tám, những mộng mơ ấp ủ
Tuổi học trò, tôi thích ngắm trời mưa
Bên người yêu, mưa rơi nhẹ cho vừa
Đủ ướt áo cho anh truyền hơi ấm!

Bên hè phố đôi ta cùng lặng ngắm
Những giọt mưa rơi tí tách trên đường
Mưa lạnh buồn, mưa tạo mối yêu thương
Dưới dù nhỏ, đôi ta cùng chung bước”

( Trích trong Nhìn giọt mưa rơi – Thơ Sương Lam)

Tuổi thư sinh có những mối tình học trò đẹp quá phải không bạn? Mưa chiều nắng sớm nào cũng khiến cho những ai có tâm hồn nghệ sĩ cảm thấy trái tim mình xúc động cả. Cũng thấy hay hay!

Tôi quay về bàn viết vào internet đi tìm tài liệu viết bài. Một email đặc biệt với những tấm hình có chữ thư pháp thúc giục tôi phải mở ra xem ngay vì tôi rất thích tìm hiểu nghệ thuật thư pháp. Theo thiển ý của người viết, thư pháp là một phương tiện để thư giãn và hành Thiền. Bạn nghĩ sao?

Ngày xưa các tao nhân mặc khách Trung Hoa đã dùng bút lông mực xạ viết chữ Hán với một phong cách đặc biệt để diễn tả nội tâm, tư tưởng kiến thức của mình và đã đưa cách viết chữ Hán này thành một bộ môn nghệ thuật gọi là “Thư Pháp”. Theo các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật, một số tác phẩm của các thư pháp gia phương Đông như Trương Xu Liêu, Vương Hy Chi, Vương Duy đều mang tính cách Thiền, được thể hiện bằng những nét uốn lượn thanh cao.

Người Nhật đến với môn thư pháp không phải để viết chữ đẹp mà có mục đích tu hành cụ thể là luyện tâm, nhiếp tâm, an tâm. Người Nhật lại đưa bộ môn nghệ thuật đậm nét Đông Phương này lên một tầng bậc cao hơn với tên gọi mới. Đó là môn HIITSUZENDO, tức là thư pháp Thiền.

Ở Việt Nam vào thời điểm này, bộ môn Thư Pháp rất được nhiều người ưa chuộng. Phong trào viết thư pháp đã được thịnh hành trong vòng 10 năm qua. Nhiều câu lạc bộ thư pháp được thành lập. Nhiều “ông đồ” trẻ đã xuất hiện “bên phố đông người qua” trong các lễ hội Xuân hay trong các buổi triển lãm thư pháp.

Người viết thư pháp phải có tâm hồn nghệ sĩ, có nét bút tài hoa, có năng khiếu viết chữ để thể hiện đường nét “rồng bay phưọng múa” và còn phải “nhiếp tâm” với những gì mình sắp sửa viết ra nữa. Như vậy họ phải có tâm hồn thanh thản, phóng khoáng và khi thực hiện tác phẩm, họ phải “nhất tâm bất loạn” du nhập vào thế giới tĩnh lặng của thư pháp. Có như thế thì tác phẩm mới đẹp, mới thanh thoát hương vị Thiền.

Ở Mỹ hiện nay, người viết thư pháp nổi tiếng là nghệ sĩ Vũ Hối. Ở Việt Nam, thư pháp của các nhà thơ Trụ Vũ, Song Nguyên, Nguyễn Thanh Sơn, Hoàng Đức được xem là những mẫu thư pháp đẹp.

Hình ảnh ông đồ của Vũ Đình Liên với
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”

đã được phục hồi! Tốt thay! Lành thay!

Trở về câu chuyện cái email có những bức tranh thư pháp mà tôi nhận được sáng nay thực sự đã làm tôi ngạc nhiên và cảm động vì trong đó có một bức tranh thư pháp do một người “thân quen xưa cũ” viết 4 câu thơ của ngưòi viết được đăng trong bài số 69 MCTN-ORTB để tặng tôi.

“Xin chúc Bạn: Thiện Tâm luôn tinh tấn
Xin nguyện cầu: Nhân Ái trải muôn phương
Để mọi người sống An Lạc, Yêu Thương
Thì trần thế sẽ thiên đàng, hạnh phúc”

(Trích trong bài thơ Sông Cho Biển Nhận – Thơ Sương Lam)

Thời gian trôi qua nhanh quá và có những thay đổi, đổi thay trong cuộc sống đã làm cho chúng ta vui vẻ hoặc đau buồn. Có những người thân quen ngày xưa bây giờ phải nghìn trùng xa cách cả một đại dương và cũng có những người đã ra đi không bao giờ còn được gặp lại nhau nữa.

Bức tranh thư pháp này đã đưa tôi trở về kỷ niệm ở Bộ Xã Hội “vang bóng một thời” vì tác giả là một “đàn em” của tôi ngày xưa. Khi tốt nghiệp QGHC, người viết được bổ nhiệm về Bộ Xã Hội làm việc ở Sàigòn. Đây là một nhiệm sở mà người viết chọn lựa để làm việc khi ra trường vì tôi thích sinh hoạt trong lãnh vực xã hội. Đa số các bạn nam sinh viên cùng khóa với tôi phải lên đường về địa phương làm Phó Quận hoặc Trưởng Ty.

Với hoài bão phục vụ đồng bào, tôi làm việc rất tích cực trong công tác cứu trợ nạn nhân chiến cuộc để giúp đỡ các nạn nhân đã bị thiệt hại về nhân mạng và nhà cửa trong chiến tranh. Có thấy sự mất mát đau khổ của đồng bào ở các vùng hỏa tuyến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Kontum, Pleiku, Bến Tre, Vĩnh Long v..v…, tôi mới biết rằng: “những ai còn được sống an lành với gia đình êm ấm trong chiến tranh thật là có phúc vô cùng.” Người viết và hơn 20 cộng sự viên đã làm việc với nhau một cách hăng say, một cách tích cực để cho những đồng bào nạn nhân đáng thương kia được nhận tiền trợ cấp giúp đỡ của chính phủ trung ương càng sớm càng tốt để an ủi phần nào sự đau thương, mất mát mà họ phải bị gánh chịu vì chiến cuộc.

Rồi vận nước đổi thay, Bộ Xã Hội phải bị giải thể. Các cấp chỉ huy kẻ phải đi học tập cải tạo, người tìm đường vượt biên. Các nhân viên đều bị cho “về vườn.” Dĩ nhiên tôi và các cộng sự viên của tôi phải chia tay từ đấy, không còn tin tức liên lạc với nhau được vì “mạng ai nấy lo, hồn ai nấy giữ”.

Từ một viên chức chỉ huy của chế độ cũ, tôi trở thành một kẻ đôi khi phải hành nghề “chà đồ nhôm” đem ra chợ bán để có tiền mua thực phẩm “bồi dưỡng” cho gia đình. Và tôi cũng đã trở thành một người bán bánh mì thịt ở vỉa hè, vụng về đến nỗi khách mua bánh mì phải nói: “Bà không phải là người bán bánh mì chuyên nghiệp”.
Đúng quá rồi! Còn chối cãi gì nữa bây giờ!

Thế rồi sau 5 năm ở lại sống trong “thiên đường Cộng Sản”, gia đình nhỏ bé của chúng tôi phải tìm đường vượt biên để tìm tự do nơi xứ lạ. Nhờ Phật Trời gia hộ, chúng tôi đã đến được bến bờ tự do bình an và định cư ở xứ Mỹ này gần 30 năm trời.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua. Vợ chồng chúng tôi bắt đầu một cuộc sống mới nơi xứ người từ con số không với hai bàn tay trắng. Chúng tôi trở lại học đường, “học đại” “đại học” để có tiền trả “bill nhà,” “bill địện,” “bill nước,” thực phẩm, quần áo v..v…với số tiền Basic Grant do chính phủ tài trợ khi đi học và tiền làm “work study” ở trường. Tan học về, phu quân tôi phải đi làm “janitor” nơi các công sở mới có đủ tiền mưu sinh trong cuộc sống. Một đôi khi tôi và cậu con trai nhỏ đi theo phụ giúp chàng. Thật là vất vả, thật là đau buồn nhưng chúng tôi phải chấp nhận để mà vươn lên vì chúng tôi vẫn nghĩ “không ai giúp mình được bằng mình tự giúp mình”.

Rồi chuyện gì cũng qua, chúng tôi cũng “xênh xang áo mũ” ra trường thêm một lần nữa ở nước Mỹ. Rồi ông xã tôi phải đi cày hai “jobs,” “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm chủ nhật” để có tiền mua nhà, mua xe, lo cho con cái đi học. Tôi an phận làm một cô giáo tầm thường nơi xứ người. Sau 20 năm trả nợ áo cơm, chúng tôi bây giờ vui thú điền viên, an hưởng tuổi già, vui đùa với cô cháu nội Mya yêu quý của chúng tôi. Thời gian rảnh rỗi, chúng tôi đi sinh hoạt cộng đồng, dạo internet tìm tài liệu về chia sẻ với bạn bè cho vui. Thế là đủ rồi! Thế là hạnh phúc rồi! Quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa đến, Chúng tôi vui hưởng hạnh phúc với những gì đang có trong tầm tay của mình trong hiện tại mà thôi! Bạn thì sao?

Không ngờ cô nhân viên bé nhỏ và đắc lực nhất của tôi ở Bộ Xã Hội ngày xưa bây giờ lại là một “thư pháp gia” có cửa hàng thư pháp ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa gần chùa Vĩnh Nghiêm

Cô vẫn còn nhớ đến tôi và viết thư pháp thơ của tôi để gửi tặng tôi. Đó là một điều đáng quý vì chúng tôi vẫn còn nhớ đến nhau, vẫn còn giữ một chút ân tình thương mến nhau dù bao nhiêu là thay đổi, đổi thay trong cuộc sống.

Cô là một Phật Tử cho nên thường viết thư pháp những bài thơ có tính cách thiền vị với cái tâm tĩnh lặng của người con Phật. Xin cảm ơn em Ngọc Chính đã còn nhớ đến cấp chỉ huy của mình ngày xưa và xin chúc em thành công trong công việc phục vụ nhân sinh với cái tâm của một người nghệ sĩ yêu hai chữ Thiền Nhàn.

Nếu có thiện duyên, xin mời các bạn đến thưởng thức những bức tranh thư pháp đầy thiền vị của Thư Pháp Ngọc Chính.

Chúc các bạn một ngày vui, nhiều sức khoẻ và mọi sự an lành đến với các bạn nhé.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Thiền Nhàn

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi)

Xin mời quý bạn xem thêm các mẫu thư pháp do Ngọc Chính thực hiện với lời thơ Sương Lam để tìm thêm một chút thiền vị trong cuộc sống, bạn nhé.

Suong Lam Portland has shared a video with you on YouTube
Thư Pháp Thơ Sương Lam
Nhà thư pháp Ngọc Chính thực hiện bộ sưu tập Thơ Sương Lam

Mời quý bạn xem playlist Thư Pháp do SL thực hiện qua link dưới đây:

http://www.youtube.com/playlist?list=PLCWHPuqIsqJP_LTAWwzCoV53SxiXgCqq0

https://i1.wp.com/i86.photobucket.com/albums/k88/suonglam_2006/ThuPhapNgocChinh/FolderThuphapthoSL800Frjpg.jpg

Thư pháp và Nhân cách

 photo DSC00912.jpg


Nét chữ thể hiện nết người. Rèn thư pháp chính là rèn nhân cách.

Từ xa xưa các sách dạy thư pháp Trung Quốc đều chủ trương rằng: “Học tập thư pháp có thể tu thân, dưỡng tánh, trui luyện tâm tình”. Từ đó, họ kính cẩn tôn thư pháp lên thành Ðạo (Thư pháp giả, đạo dã), để rồi ở xứ sở mà thậm chí uống trà cũng là đạo thì người Nhật có nệ chi mà chẳng gọi thư pháp là thư đạo (shodo)!

Chữ Hán: Thư là viết chữ; Pháp là cách thức. Hiểu ngắn gọn, thư pháp là cách viết chữ. Trong ngôn ngữ phương Tây (chẳn hạn tiếng Anh), từ calligraphy gồm calli + graphy. Calli do gốc Hy Lạp kalli, phát sinh từ kallos (vẽ đẹp); graphy do gốc Hy Lạp graphen (viết chữ). Vậy thư pháp là cách viết chữ đẹp. Xét như thế, thư pháp rõ ràng không phải là một nghệ thuật của riêng một dân tộc nào; mọi dân tộc đã có chữ viết đều có thể tạo ra thư pháp cho mình.

Thời xưa, khi nghề in chưa có (hoặc đã có mà chưa tinh vi), những văn kiện quan trọng hay tác phẩm thiêng liêng đều cần những nhà thư pháp (calligraphers) nắn nót, trau chuốt từng nét một. Các bản hiến pháp của nhiều nước phương Tây từng được viết bằng bút lông ngỗng là một thí dụ. Ðặc biệt với kinh điển của nhiều tôn giáo, các nhà thư pháp còn dốc lòng tôn kính, trọn gìn trai giới và kiêng tửu sắc trong suốt những ngày tháng tỉ mỉ chép kinh thành những tác phẩm mỹ thuật, mà ngày nay một số kiệt tác còn may mắn giữ được đã trở thành tài sản văn hóa vô giá của các viện bảo tàng tên tuổi trên thế giới.

Như nói trên, thư pháp không bao giờ là độc quyền của một hệ thống chữ viết nào. Họa sĩ Từ Băng (Trung Quốc) từng đến New York dạy cho người Mỹ viết thư pháp bằng tiếng Anh, rất được hoan nghênh (1996). Từ lâu, người Việt đã sớm biết “cách tân” thư pháp chữ Hán thành thư pháp chữ Việt

Lời cầu nguyện của thi hào R. Tagor đã được vị danh sĩ đất Hà Tiên dịch ra song thất lục bát rồi viết bằng bút lông với mực nho trên cánh quạt giấy (1959), được trân trọng lưu giữ ở Ấn Ðộ.

Mỗi nhà thư pháp tên tuổi đều có bút pháp riêng. Về mặt mỹ học, người ta lý luận rằng bút pháp đó có thể mang những tinh chất như: gân cốt, khí lực, uyển chuyển, cân xứng (quân chỉnh) v.v… Vậy căn cứ vào đâu để nhận ra thư pháp nào đẹp hay chưa đẹp? Người xem cần phải biết khá nhiều lý thuyết và kỹ thuật của các “nhà” rồi mới đủ sức cảm nhận cái đẹp của thư pháp không? Trộm nghĩ, cái gì tự nó là đẹp, được cảm thụ trực tiếp và tự nhiên, há phải đợi những biện giải chi li với rườm rà phân tích!

Người viết vốn dĩ từ chỗ xuất kỳ bất ý mới có thể để lại đời nét mực thần với dường bút thánh. Người thưởng ngoạn cũng nên lấy tâm không để lĩnh hội tài hoa. Ðứng trước bức thư pháp, hãy buông xả mọi định kiến và dư luận; hễ tự lòng ta thấy nó đẹp và thực sự thích thú thưởng ngoạn, thế là đủ lắm rồi, dẫu ai kia khác ý thì cũng mặc tình, nào có sao đâu!

Nét chữ thể hiện nết người. Rèn thư pháp chính là rèn nhân cách. Từ xa xưa các sách dạy thư pháp Trung Quốc đều chủ trương rằng: “Học tập thư pháp có thể tu thân, dưỡng tánh, trui luyện tâm tình”. Từ đó, họ kính cẩn tôn thư pháp lên thành Ðạo (Thư pháp giả, đạo dã), để rồi ở xứ sở mà thậm chí uống trà cũng là đạo thì người Nhật có nệ chi mà chẳng gọi thư pháp là thư đạo (shodo)!

Người khổ luyện thực hành thư pháp có thể dùng cái đẹp của chữ và mực để rèn dũa tâm hồn đã đành, mà người chơi thư pháp cũng có thể mượn nét bút tài hoa của người khác để trau tria đời sống tinh thần. Với chủ định này, giờ đây chữ Hán, chữ Việt hay là tiếng Pháp, tiếng Anh chi chi chăng nữa cũng chẳng còn ngăn ngại, miễn sao thực tâm thích cái đẹp của tấm chữ để rồi chọn treo nơi nào mình hay chạm mắt tới. Ngày ngày, ra vào thấy chữ là ngắm nghía trầm ngâm, ngẫm nghĩ răn lòng…

Tùy xu hướng tâm linh, tùy nhu cầu tình cảm, và tùy mục đích đang đeo đuổi mà chọn một chữ, lựa một câu trong thiên kinh vạn quyển của văn hoáa Ðông Tây, cổ kim nhân loại. Giữa buổi lừa lọc, xa hoa có người treo chữ Tín, chữ Kiệm. Bậc chức trọng quyền cao biết giữ cái tâm có thể treo cả câu Quan nhất thời, dân vạn đại. Biết võ vẽ chữ Nho, treo hai chữ Tích thời chỗ học hành hay nơi làm việc, ấy là tự răn mình phải quý tiếc ngày giờ, đừng lãng phí thời gian. Lắm khi chỉ trơ trọi một chữ Nhẫn tung hoành trên giấy mà hàm súc biết bao ý tình hối ngộ của kẻ quen tánh nóng giận buông lung, đang gắng tập kềm thúc ngọn lửa lòng sân nộ.

Lấy chữ làm tranh, mượn cái đẹp ngoại vật hiển bày để làm phương tiện trau dồi cho nên cái đẹp nội tâm tàng ẩn, đó là một trong nhiều cách Học Làm Người. Tự mình nhắc nhở mình bằng lời lẽ trang trọng treo trên vách, ý thức đó và hành vi đó mới đẹp làm sao? Thư pháp và Nhân cách, hai cái đẹp cứ ngỡ rằng biệt lập cách ngăn mà hóa ra vẫn liên hệ tương quan nhiều lắm vậy.

http://www.ptisd.org/use…/Anchor/goldanchor2.jpg
lính thủy,sưu tầm.
(Trích đăng tập san Hoa Nghiêm)

 

Kính mời  quý thân hữu xem các  tài liệu và youtube đặc biệt khác  về Thư Pháp do Sương Lam sưu tầm đem về đây chia sẻ với bạn bè.

 Chúc an vui,

 Sương Lam

http://thuphaptuanthanh.blogspot.com/

THƯ, HỌA

Nguyễn Duy Chính

Cứ theo truyền thuyết, vua Phục Hi nhân việc nghĩ ra bát quái mà sáng tạo “long thư”, vua Thần Nông xem lúa mà chế ra “tuệ thư”, Hoàng Đế nhìn mây mà đặt ra “vân thư”, vua Nghiêu được rùa thần mà làm ra “qui thư”, Đại Vũ đúc chín đỉnh mà tạo ra “chung đỉnh văn”… Thế nhưng đó chỉ là huyền thoại và không còn dấu tích gì để lại, và chính những nhân vật đó cũng không biết thực hư có hay không chẳng khác gì những truyện trong mười tám đời Hùng Vương của ta.

Hầu hết những văn tự trước đời Tần mà người Trung Hoa còn di tích gọi là “kim văn” vì đều là những chữ khắc trên các đồ kim loại nay còn tìm ra được. Sau đời Tần, chữ viết được tìm thấy là chữ khắc trên bia đá, nên gọi là “bi văn”.

Từ những di chỉ mà các nhà khảo cổ đào được, thứ chữ tối cổ của Trung Hoa là chữ khắc trên những mảnh xương (giáp cốt văn). Người ta lần đầu tìm được loại chữ này năm thứ 26 đời vua Quang Tự nhà Thanh (tức năm 1900 sau TL), tại An Dương (Hà Nam) và chính vì căn cứ theo những di tích còn sót trên mai rùa và xương thú nên được đặt tên là giáp cốt. Chữ này do người đời nhà Ân (1766 – 1123 TTL) khắc để dùng vào việc bói toán. Phương pháp là dùng son hay mực viết lên sau đó dùng dao tô lên những nét đó. Theo nét khắc, người ta cho rằng 3000 năm trước người Tàu đã biết dùng bút lông vì nét có chỗ to, chỗ nhỏ không đều.

Cũng khi người ta tìm ra giáp cốt văn thì ở Đôn Hoàng (Cam Túc) và Tân Cương lại tìm thấy một số thư trát tức là những quân lệnh mà các tướng lãnh giao dịch với nhau, viết trên các thẻ gỗ và mảnh giấy, thuộc về đời Hán. Đó là những di tích về chữ viết cổ nhất người ta tìm thấy vào thời đó.

Nếu tính thực sự một bản viết có nghệ thuật còn lưu truyền nghĩa là được bảo tồn vì tài hoa của tác giả, ta có thể kể đến “Bình Phục Thiếp” (Viết sau khi khỏi bệnh) của Lục Cơ (261-303) đời Tấn. Vào thời đó, kỹ nghệ làm giấy còn thô sơ, không giữ được lâu như kim thạch, xương bò, mai rùa hay tre gỗ nên những chữ viết lưu lại tới nay không còn mấy. Ngay cả bức thiếp nổi tiếng là “Lan Đình Thiếp” của Vương Hi Chi viết năm 353, vẫn được coi là chí bảo cũng không phải là bản thực mà là người sau bắt chước lại. Bản mà chúng ta thấy ngày hôm nay là một bản nhại lại viết đời Đường (618-906) nghĩa là sau đến vài trăm năm. Dù người sau có giỏi thế nào thì nét bút cũng không thể hoàn toàn giống, nhất là một bản viết luôn luôn có hồn của thư gia, lại không được quyền dậm lại, nên nhiều lắm thì chúng ta cũng chỉ biết được một cách viết chứ không thể biết được thực sự Vương Hi Chi viết chữ ra sao.

Về thể loại, trước đời Tần người Tàu viết chữ gọi là “đại triện”, là chữ biến thể của giáp cốt văn. Chữ đại triện theo thời gian biến đổi từ đời Thương sang đời Chu đã trở nên vô cùng phức tạp. Đến đời Tần, thừa tướng Lý Tư đơn giản hóa chữ đại triện, tổng hợp và loại trừ những lối viết của các địa phương, thống nhất thành một loại chữ mới gọi là “tiểu triện”. Sang đời Hán, công việc cải tiến chữ viết vẫn được tiếp tục và thành chữ viết mà ngày nay chúng ta gọi là chữ ‘lệ” vì là thứ chữ viết chính thức dùng trong việc giấy tờ, giao dịch. Chữ lệ đường nét đã biến hóa và đậm nhạt khác nhau chứ không còn như chữ triện nữa. Những góc cạnh thường có hình cong nơi chữ triện, nay “ra góc”, nghĩa là chuyển hướng đột ngột từ ngang sang dọc hay ngược lại.

Hình dáng cũng chuyển từ khuynh hướng dọc (chiều dọc dài hơn chiều ngang, tức portrait) sang ngang (chiều ngang dài hơn chiều dọc, tức landscape). Tới thời Nam Bắc triều, từ chữ lệ người ta biến sang chữ khải, tức là thứ chữ chân phương mà người ta còn dùng ngày nay. Công trình biến đổi đó kéo dài và liên tục suốt ba trăm năm.

Vào thời này, hai chính sách của miền Nam và miền Bắc khác nhau. Miền Nam không cho lập bia nên chữ viết còn lại là chữ viết trên giấy. Trái lại miền Bắc lại hay khắc vào đá, nhất là kinh Phật. Nam thiếp, Bắc bi chính là từ đó.

Vào thời kỳ này, nhân vật nổi tiếng nhất trong giới thư mặc là Vương Hi Chi. Vương Hi Chi (307-365?) sống vào thời Đông Tấn, ngay từ khi ông còn tại thế đã nổi danh về bút thiếp. Ông sở trường khải thư và hành thư, rất được người đời Đường ưa chuộng. Vua Đường Thái Tông vì thích chữ của ông nên ban thưởng rất hậu cho những ai dâng tiến bút thiếp họ Vương. Khi được tờ thiếp Lan Đình, ông sai người bắt chước để sao ra nhiều bản, phát cho cận thần. Bản chính của tờ thiếp này sau theo nhà vua chôn trong mộ.

Đời Đường là giai đoạn mà văn hóa Trung Hoa phát triển rất mạnh, nhất là văn chương, thi phú. Văn chương thì cổ văn luật thi được hình thành (tức các thể thơ mà ta gọi là thơ Đường, phép làm thơ gọi là Đường luật). Lý Bạch, Đỗ Phủ, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên… là những thi, văn gia nổi tiếng. Cho đến nay, thơ Đường vẫn phong phú hơn mọi triều đại khác. Chính từ thời nay mà ba lối chữ triện, lệ, chân được kiện toàn và được đặt tên là “cận thể văn”. Lối viết chữ khải được người ta chuộng, là lối chữ viết rõ ràng, đầy đủ nét. Nhiều nho sĩ chỉ vì có tài viết chữ đẹp mà thành danh, nên không lấy làm lạ khi danh thần cũng là danh thư gia. Ta có thể kể Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam, Chử Toại Lương, Tiết Tắc vào thời Sơ Đường, Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền thời Thịnh Đường. Thời Sơ Đường các thư gia nét chữ gầy và mạnh, đến Nhan Chân Khanh thì nét chữ đậm ra và chữ cũng to ngang, còn Liễu Công Quyền coi như người sau cùng của thời chữ khải. Cả sáu người đều là những thư gia tài danh và các đời sau đều coi đó là khuôn mẫu cho kiểu viết chân phương. Hiện nay, các bản tập viết chữ Tàu bày bán tại các tiệm sách thường là chữ phóng của những người này.

Sang đời Tống, thư pháp chú trọng đến “thiếp”. Thiếp tức là những bản mẫu của danh gia được khắc lại trên gỗ hay đá, rồi tô mực mà in lại. Theo nguyên nghĩa thì thiếp là chữ viết thẳng lên lụa hay giấy, khác với “bi” là chữ khắc lên trên các tấm bia bằng đá. Thế nhưng từ đời Tống thì dù bản chính hay bản vỗ cũng đều gọi là thiếp cả. Tuy vẫn theo khuôn mẫu đời Tấn, đời Đường nhưng đời Tống người ta không còn quá thiên về khải thư như trưóc. Các thư gia lúc này nghiêng về mỹ thuật trong phép viết cũng như tạo ra những đường nét riêng, tìm chỗ độc đáo hơn là bắt chước. Bốn người nổi tiếng nhất đời Tống là Tô Thức (Đông Pha), Hoàng Đình Kiên, Mễ Phế và Thái Tương. Người sau xưng là Tô Hoàng Mễ Thái, tứ đại gia.

Đời Nguyên tương đối ngắn, chỉ khoảng một trăm năm (1260- 1368) nhưng lại có một nhân tài kiệt xuất trong lịch sử nghệ thuật Trung Hoa. Đó là Triệu Mạnh Phủ, một thi, họa, thư gia mà rất nhiều người chịu ảnh hưởng. Những người viết chữ nổi tiếng đời Nguyên như Khang Lý Quì Quì, Kha Cửu Tư, Tiên Vu Khu, Trương Vũ đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của ông. Thời Nguyên thư pháp chỉ chuộng lối cổ, thích viết thiếp.

Sang đời Minh, nho gia vẫn tiếp tục con đường mà Tống, Nguyên đã vạch ra, và thời này có rất nhiều nhân tài được coi như thời kỳ cực thịnh của thiếp học. Đầu đời Minh có Tam Tống tức Tống Khắc, Tống Quảng và Tống Toại. Giữa đời Minh có Chúc Duẫn Minh, Văn Trưng Minh, Vương Sủng. Cuối đời Minh có Hình Đồng, Trương Thụy Đồ, Đổng Kỳ Xương, Mễ Vạn Chung, người đời gọi là Hình Trương Đổng Mễ tứ gia. Trong bốn người thì Đổng Kỳ Xương nổi tiếng hơn cả. Đời Minh người ta chuộng lối viết theo kiểu hành thư (viết hơi nhanh, đá thảo) và thảo thư (viết tháu).

Đời nhà Thanh người ta vẫn chuộng đường lối từ thời Minh. Vua Khang Hi (1662-1722) rất thích thư pháp của Đổng Kỳ Xương còn vua Càn Long (1736-1975) thì thích thư pháp của Triệu Tử Ngang (Mạnh Phủ). Vì được hoàng đế ưa chuộng, thư pháp của hai nhà này càng được nhiều người bắt chước. Dưới thời Gia Khánh (1796-1821) và Đạo Quang (1821-1850) người ta lại chuộng lối viết của thư gia đời Đường là Âu Dương Tuân, và vẫn sùng thượng thiếp học. Sang đời Hàm Phong, Đồng Trị vì chưng nhiều cổ tích được khai quật nên người ta vỗ lại được nhiều bản văn khắc trên đồng khí và bia đá.

Đời Thanh nhân tài nhiều người nổi tiếng chẳng hạn như Thanh sơ cóVương Đạc, Phó Sơn, đời Càn Long thì có Trương Chiếu, Lưu Dung. Bi học có Đặng Thạch Như, Hà Thiệu Cơ, Trương Dụ Chiêu. Nhiều vị hoàng đế và thân vương triều Thanh cũng là những người văn mặc tiếng tăm, chẳng hạn như vua Khang Hi, Càn Long, Thành Thân Vương.

Nghi thức mà kẻ sĩ chú trọng trong phép viết chữ gồm cả thái độ khoan dật khi cầm thỏi mực mài trên nghiên, cách cầm ngọn bút, qui tắc của từng nét khi đầu bút chạm vào tờ giấy. Trong suốt hai ngàn năm qua, hầu như những định lệ này chỉ thay đổi rất ít và những phương pháp tập luyện cho đến nay, nếu thực sự muốn trở thành một thư gia, họa gia, người ta vẫn phải cố công theo đuổi một thời gian dài. Người không am tường nhìn vào một bức viết chỉ thấy những nét loằng ngoằng không có ý nghĩa gì. Thế nhưng đối với những người sành sỏi, chuyên môn, một bức viết trở thành sống động, có hồn. Mỗi nét là một nguồn sống, mang lại tiết điệu cho toàn cục. Người xem chữ không những nhìn những nét chữ mà nhìn cả những khoảng trống, từ vị trí mỗi chữ đến khoảng cách của hai hàng. Những ý nghĩa đó chúng ta không tìm thấy trong phương pháp viết của Âu Châu.

Nói đúng ra, phép viết chữ không phải chỉ Trung Hoa mới có mà hầu hết mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ đều có những cách riêng để trình bày chữ viết sao cho cân đối nhịp nhàng. Thế nhưng đặc biệt với ngưòi Trung Hoa, phép viết chữ, và chính những chữ đó đã trở thành thiêng liêng. Bùa chú của họ cũng là một cách đem một uy lực thần bí vào trong chữ viết. Chiết tự cũng là một lối đem ý nghĩa mới vào những nét ngang nét dọc. Thời Hán học còn thịnh hành, những nhà nho khi ra đường gặp một tờ giấy rơi đều nhặt về đem đốt chứ không để cho thứ chữ mà người ta gọi là của thánh hiền đó bị hoen ố, dơ bẩn. Trước đời Đường, viết chữ cũng được coi như một nghệ thuật cao hơn hội họa, một công phu của bậc thượng lưu, vương giả. Hội họa thời đó chỉ được xếp vào hàng kỹ thuật, một tiện nghệ hơn là một thú thanh cao. Nếu một võ sinh trước khi đi quyền phải ngưng thần, tụ khí, tưởng tượng ra một địch thủ vô hình giao đấu với mình thì một thư pháp gia cũng thế. Khi mài mực, tuy bàn tay mài đều đặn nhưng cả một trang chữ đã hiện ra trong đầu và cánh tay đã tự viết những chữ vô hình trên mặt nghiên. Những nét đậm nhạt, nặng nhẹ đã nằm sẵn và thỏi mực, cán bút chính là cánh tay người nghệ sĩ nối dài.

Một điểm đáng lưu ý là chính trong thư pháp, người Tàu đã xây dựng nên một trường phái ấn tượng và từ tinh thần nghệ thuật của thư pháp, họ đã nảy sinh ra họa pháp. Hội họa của Trung Hoa không mang tính chất miêu tả ngoại vật như họa pháp Tây Phương nên cũng không truyền thần cảnh vật. Một bức tranh Tàu bao giờ cũng mang một ý nghĩa và để cho người xem tự mình tìm hiểu lấy bằng cảm nhận, đặt mình vào tâm cảnh mà người họa gia muốn gửi gấm. Không những đường nét nói lên ýnghĩa mà chính những khoảng trống cũng quan trọng không kém[2]. Họa sĩ trước hết phải là một thư gia và đường nét bút mực quan trọng hơn việc ghi hình ảnh trước mắt lên giấy vải. Một bức tranh thủy mặc bao giờ cũng phải có thêm những dòng chữ lạc khoản và đề thơ dù là của chính tác giả hay một người khác và nét nào là nét vẽ, nét nào là nét chữ không phải dễ dàng phân biệt.

Tạ Thạch đời Tống là người giỏi khoa chiết tự. Một hôm nhà vua ăn mặc giả làm thường dân đến thử tài. Gặp Tạ Thạch ở ngoài đường, nhà vua lấy cây gậy trúc cầm tay vạch xuống đất một chữ nhất, bảo đoán thử. Tạ Thạch nhìn người lạ hồ nghi, nói:

–  Chữ nhất hợp với chữ thổ thành chữ vương. Ngài không phải là người thường.

Nài viết thêm một chữ khác để cho rõ. Nhà vua mỉm cười nguệch ngoạc viết một chữ vấn là hỏi. Tạ Thạch giật mình, sụp lạy:

–  Bên trái là chữ quân, bên phải cũng là chữ quân. Hẳn đây là hoàng thượng.

Về sau, Tạ Thạch mắc án phải đi đày. Tù xa qua một chân núi, gặp một người con gái bảo là mình cũng biết xem chiết tự. Tạ viết tên mình hỏi xem cát hung thế nào. Người con gái đáp:

–  Chữ Tạ vốn là ba chữ thốn, ngôn, thân hợp lại. Ông là người chỉ dùng tấc lưỡi, lời nói mà lập thân (thốn ngôn trung lập thân).

Tạ lại hỏi tiếp về tương lai. Cô gái nói:

–  Tên ông là Thạch, thạch gặp bì thành chữ phá.

Quả nhiên người đẩy tù xa họ Bì. Tạ Thạch kinh ngạc, bảo người con gái viết thử một chữ để đoán. Cô gái mỉm cười:

–  Tôi đứng đây cũng thành chữ rồi, việc gì phải viết.

Tạ Thạch nói:

–  Nhân là người, đứng cạnh núi là sơn. Sơn với nhân là tiên. Chẳng lẽ cô là tiên à!

Cô gái không trả lời, biến mất.

Có lẽ đoạn sau đây của Kim Dung trong tác phẩm Ỷ Thiên Đồ Long Ký, mô tả Trương Thúy Sơn viết hai mươi bốn chữ trên vách đá cho chúng ta thấy cái tung hoành, phóng dật của phép viết chữ Hán của một thư gia.

“Trương Thúy Sơn nói:

– Tôi không muốn tỉ thí binh khí với tiền bối, chỉ thi viết vài chữ thôi.

Nói xong, chàng chậm rãi đi đến gần vách đá nơi ngọn núi ở phía bên trái, hít một hơi dài, hai chân nhún một cái, phóng mình nhảy lên. Võ công của phái Võ Đương vốn dĩ đứng vào bậc nhất thiên hạ, lúc này lại là lúc gặp phải hiểm nguy sống chết, lẽ nào lại không hết sức ra tay? Thân hình tung lên khoảng hơn một trượng, lập tức chàng sử dụng công phu tuyệt kỹ Thê Vân Túng, chân phải đạp vào vách núi một cái, mượn sức, lại vọt lên hai trượng nữa. Phán quan bút trong tay nhắm thẳng vào mặt đá, xoẹt xoẹt xoẹt mấy tiếng, đã viết xong chữ “võ”. Một chữ vừa viết xong, thân hình chàng như muốn rơi xuống. Trương Thúy Sơn uốn mình tay trái vung chiếc ngân câu, đã trúng một chỗ nhô ra trên vách, chiếc móc chịu cả sức nặng đong đưa. Tay phải lại tiếp tục viết chữ “lâm”. Hai chữ này, mỗi nét mỗi gạch, đều do Trương Tam Phong đêm khuya suy nghĩ đắn đo mà sáng tạo ra, bên trong bao hàm cương nhu, âm dương, tinh thần khí thế, phải nói là đạt đến cao điểm công phu của phái Võ Đương. Tuy Trương Thúy Sơn công lực còn non, nét bút hằn vào đá chưa sâu mấy nhưng hai chữ rồng bay phượng múa, bút lực hùng kiện, tưởng như dùng khoái kiếm trường thương đục thành.

Viết hai chữ xong, chàng viết tiếp chữ “chí”, chữ “tôn”. Càng viết càng nhanh, chỉ thấy đá vụn lả tả rơi xuống, tưởng như linh xà uốn khúc, trông như mãnh thú vươn mình, khoảnh khắc đã xong hai mươi bốn chữ. Việc khắc chữ lên vách đá có khác gì hính ảnh trong thơ Lý Bạch:

Tiêu phong sậu vũ kinh táp táp,

Lạc hoa phi tuyết hà mang mang.

Khởi lai hướng bích bất đình thủ,

Nhất hàng sổ tự đại như đẩu.

Hoảng hoảng như văn quỉ thần kinh,

Thời thời chỉ kiến long xà tẩu.

Tả bàn hữu túc như kinh lôi,

Trạng đồng Sở Hán tương công chiến.

(Gió rít mưa sa rơi lộp bộp,

Hoa rơi tuyết thổi rét căm căm.

Trên vách viết ra không ngừng lại,

Một hàng chữ to bằng cái đấu.

Bàng hoàng nghe tựa quỉ thần kinh,

Đâu đâu cũng thấy rồng rắn lượn,

Quét phải, uốn trái như sấm chớp,

Khác gì Sở Hán đang giao tranh)

Trương Thúy Sơn viết đến nét cuối của chữ “phong” rồi, cả ngân câu lẫn thiết bút cùng đẩy mạnh vào vách núi, uốn mình rơi xuống đất, nhẹ nhàng khéo léo làm sao đứng ngay bên cạnh Ân Tố Tố.

Tạ Tốn chăm chăm nhìn ba hàng đại tự trên vách núi một lúc thật lâu, không nói một lời. Sau cùng y thở dài một tiếng:

– Tôi không viết nổi, xin chịu thua.

Nên biết là từ “võ lâm chí tôn” cho đến “thùy dữ tranh phong” tổng cộng hai mươi bốn chữ, vốn do Trương Tam Phong ý đáo thần hội, suy đi nghĩ lại mà sáng chế ra, đều do ở bút ý. Một nét ngang, một nét dọc, một cái chấm, một cái phảy, đều là toàn do dung hợp những gì tinh diệu nhất của võ công. Giá như chính Trương Tam Phong đến đây, nhưng trước chưa qua một đêm cùng cực suy nghĩ, ắt cũng không có được cái tâm cảnh như thế. Ví dù có suy nghĩ hồi lâu, muốn viết hai mươi bốn chữ lên vách núi, cũng không thể nào đạt được trình độ xuất thần nhập hóa như thế này. Tạ Tốn có biết đâu nguyên do bên trong, tưởng rằng vì việc bảo đao Đồ Long trước mắt phát khởi tranh chấp, Trương Thúy Sơn lập tức tự ý viết ra ba hàng chữ mà từ lâu cố lão vẫn truyền. Thực ra, ngoài hai mươi bốn chữ này nếu bảo Trương Thúy Sơn viết những chữ khác, so sánh nét bút yếu mạnh, nông sâu sẽ thấy khác xa ngay.” (Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Minh Hà Xã, Hongkong 1976 quyển 1, trang 207-8)

[1] Phép viết chữ

[2] Oriental painting in water color may be said, to be an art of suggestion rather than representation; it achieves the difficult aim of communicating not by what is shown but by what is left empty and inferred. Myers, Bernard S. Understanding the Arts , Henry Holt and Company New York 1958 trang 185

 Thư Pháp

http://www.hkt.vn/kheo-tay/thu-phap/index.1.html

http://www.hkt.vn/kheo-tay/thu-phap/3204-Tranh-ve-chu-tieu-va-thu-phap-phan-1-.html

http://www.hkt.vn/kheo-tay/thu-phap/3241-Phan-1-Tong-quan-ve-Thu-phap.html

http://www.hkt.vn/kheo-tay/thu-phap/3243-Phan-2-Luyen-net-co-ban.html

http://www.hkt.vn/kheo-tay/thu-phap/3244-Phan-3-Cach-viet-chu.html

http://www.hkt.vn/kheo-tay/thu-phap/3245-Phan-4-Cach-rap-chu-va-bo-cuc.html

http://thuphaptuanthanh.blogspot.com/

 

 

Phóng sự TFS – Khắc thư pháp nghệ thuật trên đá – http://www.thachthien.com

http://www.youtube.com/watch?v=MlvVDRaufpc

Nhà sư tí hon múa võ, viết thư pháp

Published on Jun 14, 2013

Sinh ra nặng chỉ 500 gram, lớn lên trong thân hình tí hon, không biết chữ nhưng nhà sư Thích Nhuận Pháp có thể viết thư pháp, múa võ. Nhà sư này vừa được vinh danh là ông đồ nhỏ tuổi nhất Việt Nam.

http://www.youtube.com/watch?v=abRlGW_vntk

THƯ PHÁP – ĐĂNG HỌC

http://www.youtube.com/user/PandaPowerxP/videos

Google Plus Dang Hoc

https://plus.google.com/u/0/b/110248368222500211952/115992101695914256215/posts?pageid=110248368222500211952

Đăng Học – “Chàng trai vàng” của Thư pháp Việt

(Dân trí) – Nếu gặp Đăng Học ngoài đường, bạn sẽ dễ lầm tưởng anh với một diễn viên điện ảnh đẹp trai nào đó. Sở hữu một khuôn mặt sáng, nụ cười rộng… có lẽ Đăng Học hợp với những vai diễn hơn là ngồi phía sau bàn gỗ với những nghiên mực…

Một người “tham lam” nghệ thuật

 Đăng Học tự nhận mình là người tham lam tất thảy những điều có liên quan đến nghệ thuật. Từng là sinh viên trường cao đẳng Sân khấu điện ảnh khoa diễn viên, từng đóng kịch, học cắm hoa và cả thiết kế thời trang, Đăng Học còn là một chàng trai đa tài với khả năng chơi đàn piano và giọng hát ấm với những bản nhạc Trịnh đầy những ý tứ sâu xa.

Đăng Học từng biểu diễn nhạc trên vài sân khấu nhỏ trong những quán bar ở Sài Gòn. Tình yêu dành cho Thư pháp cũng được sinh ra từ những tháng ngày êm đềm ở Việt Nam… Thế nhưng khi quyết định đi Mỹ cùng gia đình năm 21 tuổi, Đăng Học đã bỏ lại tất thảy những điều đam mê thuộc về nghệ thuật ở lại sau lưng.

 

Cuộc sống ở Mỹ cũng có những khó khăn buộc Đăng Học phải cố gắng. Trong những tháng ngày ở đây, Đăng Học lại học thêm về ngành đồ họa, và học cả cách xây hòn non bộ.

 Những ngày bươn chải trên đất Mỹ thật sự là những tháng ngày mang nhiều khó khăn, thời gian này Học đã trau dồi được rất nhiều kinh nghiệm không chỉ trong kiến thức mà còn trong cuộc sống hằng ngày.

 Học làm tất thảy những công việc có liên quan đến nghệ thuật: từ thiết kế sân khấu, bày trí cửa hàng cho đến chuẩn bị cho cả một cuộc triển lãm… Đăng Học chia sẻ.

 Nhưng tình yêu dành cho Thư pháp không ngừng lớn lên trong Học, anh tự tìm tòi, đọc và nghiên cứu thêm về những nét chữ mang đậm chất dân tộc.

 

Những ngày ở đất Mỹ, Học cũng tự sáng tác thơ, chia sẻ những điều đó lên trên một mạng cộng đồng. Rồi Học trở thành thành viên của hội thư pháp quốc tế, với những mày mò tự nghiêng cứu, Học để lại dấu ấn trong lòng những thành viên khác.

 Sau đó Học được một đài truyền hình ở Mỹ phỏng vấn, và khi chương trình được phát sóng trên toàn Mỹ và Canada, cái tên Đăng Học được nhiều người biết đến nhiều hơn với vị trí một chàng trai Việt yêu Thư pháp Việt.

 Kỷ lục Guiness Việt Nam

 Quyết định quay về Việt Nam để sống và theo đuổi công việc có liên quan đến Thư pháp đã khiến ba mẹ, lẫn bạn bè đều ngạc nhiên và phản đối.

 Bởi thứ công việc của Học dễ khiến người ta có cảm giác không đem lại sự ổn định lâu dài cho tương lai. Nhưng với niềm đam mê và tuổi trẻ, cùng với kinh nghiệm cóp nhặt được khi sống ở xứ người, Đăng Học giữ vững ý chí của mình cho con đường mà mình đã chọn.

 

THƯ PHÁP – ĐĂNG HỌC HÁT BÔNG HỒNG CÀI ÁO HQ MV

http://www.youtube.com/watch?v=4WtyPmkFjig

THƯ PHÁP ĐĂNG HỌC – VIỆT THƯ CHI BẢO – English SUB

http://www.youtube.com/watch?v=KdxGUBkVggE

PHAN 1 – LY THUYET – LUYEN THU PHAP VIET VOI DANG HOC

http://www.youtube.com/watch?v=FyU7ZnIKI2k

     

 

 Trang Thư Pháp của Linh Son Viên- Austin- Texas

http://www.linhsonvien.com/thu-phap/

Thu-Phap-2011-21

Thu Phap HX 2011

ॐ Lotus Blessings ॐ

When You Realize
https://www.youtube.com/watch?v=9xO-B8eJ6P8

Advertisements

4 thoughts on “Thư Pháp Hội Họa

  1. Kính gởi cô Sương Lam , tình cờ thấy Wed này , thấy cô thích thư pháp, cháu cũng đã viết thư pháp Việt rất lâu rồi , nay định cư tại Portland , cuối Tuần cũng thường đọc bài của cô trên báo, không biết cô có viết thư pháp không ? cháu rất vui dc làm quen với cô, mong hạnh ngộ, đây là trang Facebook thư pháp của cháu.

    https://www.facebook.com/groups/1380680138837039/

  2. Cám ơn Trung Hải đã vào xem trang Thư Pháp Hội Họa này. Cô SL cũng đã vào xem tranh thư pháp của TH trên Youtube rồi . Đẹp lắm. Cô SL rất thích xem thư pháp vì yêu chữ đẹp mà thôi chứ cô SL không biét viết thư pháp. Smile!
    Cô SL cũng không có Facebook account vì cô SL rất bận nên không dám sinh hoạt trên Facebook, e rằng không trả lời hết thư tín của bạn bè được thì họ sẽ phiền cô SL.
    ChúcTrung Hải thành công và giữ mãi niềm đam mê với thư pháp nhé.
    Cô Sương Lam

  3. Pingback: Happy Anniversary with WordPress.com- Chân thành Cảm Tạ | suonglamportland

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s