Phiếm Luận Về Ngũ Hành – Đỗ Chiêu Đức

ĐẤT VÀ NƯỚCPosted by GLN

1- Đất và nước có những khả năng rất lạ
Trời nắng lửa, nóng hun mặt đất , nhưng khoét sâu xuống đất thì thấy đất mát
Mặt nước nóng ran nhưng chuồi sâu xuống vài mươi phân lại thấy nước mát lạnh. Bánh chưng luộc nóng vớt ra, buộc dây thả xuông giếng thơi ba tháng vớt lên vẫn ăn được bình thường, không hỏng.
Trời rét mà xới đất lên, thấy đất ấm. Mầm cây bỏ quên trên mặt đất ẩm thì rễ nó bắt xuống ngay, chỉ một thời gian ngắn là cây mọc lên đủ lá cành. Cỏ mọc sát mặt đất thì không bao giờ bị tiêu diệt. Đất như người mẹ nâng niu sự sống
Hạt thóc hạt lúa lấy từ đất và nước. Đất nước là cội nguồn của loài người. Đất nước là sự sinh sôi.
Con chuột con mèo con chó hay bất kì con vật gì chết là chôn thẳng xuống đất thì “ tiêu” rất nhanh, và rất nhanh tan vào đất, làm cho đất màu mỡ… Các loài thực vật cũng vậy, về với đất là hòa nhập ngay, rồi từ đó lại hóa thân trở về trong sắc xanh của lá, vẻ đẹp của hoa và thấm vào trái cây hạt thóc. Được thế nghĩa là khi về với cội nguồn là được sự đón tiếp nồng hậu và tiếp tục thúc đẩy sự sống..
Đi trên đường những ngày nắng lửa, sà vào bóng cây, nằm vật ra trên mặt đất chỉ một lúc thấy hết mệt. Thoáng chốc sức lực hồi phục khi con người tiếp xúc với đất. Trên trái đất này, người Hị Lạp đã vinh danh mẹ đất là thần Gaia- Mẹ đất. Còn với người Việt chúng ta thì vinh danh đất nước bằng hai từ “Tổ quốc”.
2- Trước đây gian thờ chính điện của đình làng, khi dựng đình người ta thường bớt lại vuông đất chừng 6 mét nền đất nện mà không lát gạch. Chủ tế đứng làm lễ ngay trên mặt đất nện đó với ý âm dương thông thiên thì lời thỉnh cầu thần linh mới linh nghiệm. Người xưa ứng xử với đất kĩ càng như vậy. Bây giờ nhiều ngôi đình sang sửa không thấy còn vuông đất ấy. Người ta thường lát gạch toàn bộ, bỏ đi một cách nghĩ đầy tính giáo huấn về giá trị tâm linh vè đất một thời.
3- Ngày bé tôi thường cứu gà con chẳng may bị gió lăn đùng, hoặc bị va đập mạnh bằng cách để gà nằm trên đất, bóc lấy ít đất vách bóp vụn rắc lên người chúng. Con gà thở thoi thóp rồi vục đứng dậy chạy được. Cũng không nhớ ai truyền dạy cho cách đó nhưng khá hiệu nghiệm. Với nghề thuốc, khi chế biến rất nhiều vị có công đoạn “sao vàng hạ thổ” để cho thuốc “ôn” đi, lành đi, triệt tiêu độc tính trong thuốc, mới dùng được. Có khá nhiều loại rượu thuốc hoặc rượu bổ người ta cho vào hũ sành, gắn xi hạ thổ ba tháng mười ngày để rượu hút cái ấm mát của lòng đất, ruợu trở nên quí hơn, ngon hơn, tốt hơn mà khoa học kĩ thuật gì cũng không làm thay được…
Nói thế để biết đất là Bà mẹ Đất tuyệt vời của con người, nhận cả đắng cay độc hại để cứu con người, chia sẻ cho con người những cái tốt nhất như tình người Mẹ dành cho con cái.
Con người mất đi về lòng đất là về với mẹ. Nhập về đất mẹ để rồi vào cõi luân hồi chứ có đâu xa!
Đất và nước là Cha Mẹ của con người vậy mà con người đối xử với đất và nước nhiều khi như đứa con tệ bạc. Tranh nhau tí đất không vì yêu đất mà hành vi đó là chà đạp lên người mẹ chung để kiếm lợi riêng trong thoáng chốc cuộc đời, để lại đời không biết bao nhiêu oán hận.
Phải chăng vì thế mà tuổi thọ con người ngắn tũn so với đất nước trường tồn? 

Chieu Duc's profile photo

Chieu Duc

unread,

Aug 19, 2024, 6:46:03 PM (6 days ago) 

to Cvaxagan, CVA60s, Dien Dan Duoc Khoa VN, DiendanTuoiHac, PhucHungViet DienDan, DaiHocSuPham-VanKhoaSG, Võ B? Qu?c Gia Vi?t Nam, Lai T. Nguyen, George Nguyen, Caroline Nguyen, Huy Bich Tran, Diep Ho, Huynhchieudang, HUY DANG

Kính quý Tiền bối,

            Đỗ Chiêu Đức có viết mấy bài phiếm luận về ĐẤT VÀ NƯỚC . Kính gởi đến qúy Tiền bối đọc chơi tiêu khiển .

                                                                               Nay kính,

                                                                             Đỗ Chiêu ĐứcTạp ghi và Phiếm luận : 
                                      THỦY là NƯỚC Đỗ Chiêu Đức

Inline image

       Nước là chất lỏng có ký hiệu là H₂O, chữ Nho gọi là Thủy 水, thuộc dạng chữ Tượng Hình trong CHỮ NHO … DỄ HỌC, được hình thành theo diễn tiến của chữ viết như sau :

       Giáp Cốt Văn    Kim Văn          Đại Triện         Tiểu Triện        Lệ Thư  

Inline image

Ta thấy:

       Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Tiểu Triện đều là hình tượng của một dòng nước, 4 chấm 2 bên là tượng trưng cho dòng nước đang chảy. cho nên, có nước là có dòng nước chảy, như suối, khe, sông, biển … và nơi nào có suối, khe, sông, biển là nơi đó có nguồn sống, có dân cư. Cái quần thể dân cư nầy sinh sống phát triển là nhờ dựa vào nguồn nước. Cho nên ông bà ta có câu “Uống nước phải nhớ nguồn”, và có phải vì thế mà dân ta gọi một Quốc Gia là Một Nước ? Không có nước sẽ không có người sinh sống và cũng sẽ không có quốc gia nào hình thành được cả !

       Nước mất thì nhà tan, quốc phá thì gia vong ! Không có nước sẽ không có nhà, mà không có Nhà thì cũng không thành … Nước ! Cho nên, ta lại có từ NHÀ NƯỚC  để chỉ Chính Quyền của một Quốc Gia. 

       Nước là thủy, thủy là nước. Bên dòng nước là bên dòng sông, nên thủy cũng là sông, như Hương Giang còn gọi là dòng Hương Thủy; tương tự, Tương Giang cũng gọi là Tương Thủy như trong bài thơ ” Tảo hàn giang thượng hữu hoài ” của Mạnh Hạo Nhiên đời Đường :

                 我家襄水曲,    Ngã gia Tương Thủy khúc,

                 遥隔楚云端.    Dao cách Sở vân đoan.

Có nghĩa :

                            Sông Tương quê cũ vời trông,
                     Ngẩn ngơ mây Sở cách ngăn mấy lần.
 

      H₂O là phân tử nước do 2 nguyên tử Hidro và 1 nguyên tử oxy kết hợp mà thành, đó là theo công thức Hóa học. Còn theo Âm Dương Ngũ Hành của Kinh Dịch thì Kim sanh Thủy. Nước là do … vàng sinh ra, và theo một câu trong sách Thiên Tự Văn 千字文 là KIM SANH LỆ THỦY 金生麗水. Có nghĩa:  Khi vàng bị nung chảy thì trở thành một chất lỏng lắp lánh đẹp đẽ. Nhưng căn cứ vào thực tế thì không phải như thế, vì chất lỏng lóng lánh của vàng sẽ rất nhanh đong cứng lại thành chất rắn của kim loại. Nên … 

      KIM SANH LỆ THỦY ở đây là chỉ dòng sông Kim Sa Giang 金沙江 ở tỉnh Vân Nam thuộc nước Sở thời Chiến Quốc. Vì có rất nhiều cát vàng ở trong lòng sông, nên nước sông lắp lánh rất đẹp, vì thế mà dân chúng mới gọi Kim Sa Giang là LỆ GIANG 麗江 hay là dòng LỆ THỦY 麗水, có nghĩa là dòng nước đẹp ! Đẹp vì cái Thần của con sông là vàng là Kim, nên chi vị Thủ Tướng đầu tiên của nước Việt Nam ta là cụ Trần Trọng KIM mới lấy hiệu là LỆ THẦN 麗神, là cái THẦN của dòng sông LỆ, chính là KIM đó vậy !

Inline image

                           Nội các của Thủ Tướng Lệ Thần Trần Trọng Kim

      Trong mùa xuân thì nước gọi là Xuân Thủy. Từ những băng tuyết trên nguồn tuôn chảy thành những khe suối trong veo vào mùa xuân, rồi chảy thành những dòng sông len lỏi qua thôn xóm mang lại nguồn sống cho dân cư, như trong thơ của Đổ Phủ :

                  一徑野花落,   Nhất kính dã hoa lạc,

                  孤村春水生.     Cô thôn xuân thủy sinh.

Có nghĩa :

                      Bên đường hoa dại rụng đầy, 

               Nước xuân trong vắt đâu đây xóm nghèo.

      Nước xuân trong vắt như ánh mắt của các cô thôn nữ mộc mạc ngây thơ như lời thơ của Thôi Ngọc trong Đường Thi :

            两臉夭桃從镜發,  Lưỡng kiểm yêu đào tòng kính phát,

            一眸春水照人寒。  Nhất mâu xuân thủy chiếu nhân hàn.

Có nghĩa :

                        Má đào ửng đỏ trong gương

                Một làn xuân thủy vấn vương lòng người.

      Xuân thủy là ánh mắt xuân của các cô gái ngây thơ trong trắng, khác với thu thủy là ánh mắt gợn buồn đa sầu đa cảm của các giai nhân tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều :

                        Làn Thu Thủy, nét xuân sơn,

                Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh !

     Thu Thủy là nước mùa thu, trong veo, lạnh lùng mà se sắt dễ làm rung động và cũng dễ làm tê tái lòng người.

     Theo Âm Dương Ngũ Hành, thủy thuộc cung Hợi và Tý, có màu đen và nằm ở phương bắc. Bắc phương Nhâm Qúy Thủy mà ! Nên, ở Bắc bán cầu nầy, thường các dòng sông đều phát nguyên từ vùng Tây Bắc và chảy về hướng Đông Nam mà đổ ra biển theo như một câu nói xưa :

                 世間無水不朝東.    Thế gian vô thủy bất triều đông.

Có nghĩa :

        Trên đời nầy không có dòng nước nào mà không chảy về hướng Đông cả !

      Hãy nghe Lý Bạch mở đầu bài Tương Tiến Tửu bằng câu :

             君不見  

                        黃河之水天上來,奔流到海不復回? 

      Quân bất kiến

                 Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải

                                     bất phục hồi ?

Có nghĩa :

         Bộ bạn không thấy sao, nước sông Hoàng Hà như từ trên trời đổ xuống, chảy cuồn cuộn về biển rồi không quay trở lại nữa ?  

          Nước chảy cuồn cuộn mất hút vào biển đông, cũng như thời gian cứ vùn vụt mất hút về qúa khứ, cho nên ông viết tiếp :

               人生得意須盡歡, Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,

               莫使金樽空對月。 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt !

Có nghĩa :

                   Đời người đắc ý nên vui thích,

                   Chớ để chai vàng hết dưới trăng !

      Có dịp vui chơi đắc ý thì hãy vui cho đến cùng, đừng để cho cụt hứng nửa chừng mà hết rượu dưới ánh trăng còn đang vằng vặc !

      Khác với Tản Đà trong ” Thề Non Nước ” vì không phải ” Nước đi đi mãi không về cùng non “, mà …

                    Nước đi ra bể lại mưa về nguồn,

      để cho …
                    Nước non hội ngộ luôn luôn.

      và …

                    Nghìn năm giao ước kết đôi 
             Non non nước nước không nguôi lời thề !

      ” Thề Non Nước ” là Hải thệ sơn minh, là ” Thề non hẹn biển “. Biển và Non cũng là thế thân của Non và Nước. Nhưng Non và Nước sống động hơn, khắng khít hơn với cái vòng tròn hóa thân của nước, nước chảy ra bể bốc hơi rồi lại mưa về nguồn với non xanh đang mõi mòn chờ đợi !   

Inline image

       Nước là nguồn tươi mát mang lại sức sống cho con người và vạn vật. Không có nước con người sẽ khô cằn, cỏ cây sẽ héo úa. Nước đem sinh khí đến cho muôn loài. Nên trong ca dao dân gian của ta mới ví :

                               Công cha như núi Thái Sơn,

                   Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra !

       Nước trong nguồn chảy ra thì không bao giờ cạn kiệt, cũng như tình mẹ bao la không bờ không bến vậy. Sự mát mẻ của nước còn được ví như trong đêm thanh vắng, êm ả dịu dàng như câu thơ của Đỗ Mục trong bài Thu Tịch :

            Thiên giai dạ sắc lương như thủy    天街夜色涼如水

Có nghĩa :

        Đường phố trong Kinh thành lúc về đêm cũng mát mẻ như nước vậy.

        Trong đêm thanh vắng, nước là những giọt sương khuya mờ ảo mát lạnh mà nên thơ, làm cho lòng người lâng lâng như 2 câu thơ toàn là thanh bằng trong bài Nhị Hồ của Xuân Diệu :

                 Sương ngưng theo trăng ngừng lưng trời,

                 Tương tư nâng lòng lên chơi vơi !…

       Nước được ví như những tình cảm nhe nhàng, tình yêu nồng thắm làm mát dịu tâm hồn với thành ngữ NHU TÌNH TỰ THỦY 柔情似水 êm ái mát mẻ như nước hồ thu làm say đắm lòng người, nhẹ nhàng trôi chảy như những dòng sông dài êm đềm về tận chốn xa xăm :

                         Sông dài cá lội biệt tăm,

              Phải duyên phu phụ ngàn năm em cũng chờ …

      Nhưng lắm khi …

            Lạc hoa hữu ý mà lưu thủy lại vô tình, làm cho lỡ vỡ mộng ngày xanh, lỡ làng duyên cá nước ! Như lời than thở của cô gái xóm đông :

                  Cây da tróc gốc, thợ mộc đang cưa,

                  Đôi đứa ta ra đi cũng xứng mà …

                  Đứng lại cũng vừa.

                  Tại cha với mẹ còn kén lừa suôi gia !

        ” Kén lừa suôi gia ” nên để lỡ làng ” duyên cá nước !”

       Nhắc đến duyên cá nước lại nhớ đến câu NHƯ NGƯ ĐẮC THỦY 如魚得水 với tích của Lưu Bị trong Thục Thư thời Tam Quốc :

       Lúc bấy giờ, Lưu Bị đang nương nhờ vào Lưu Biểu ở Kinh Châu, đóng quân ở Tân Dã để cầm cự với quân Tào Tháo. Nhờ sự tiến cử của Từ Thứ và lòng thành của Lưu Bị phải Tam cố thảo lư 三顧草廬 ( 3 lần đến cầu cạnh ở gian nhà cỏ nơi Ngọa Long Tiên Sinh ở ) mới gặp được mặt Khổng Minh Gia Cát Lượng, bất chấp sự phản  đối quyết liệt của Quan Vũ và Trương Phi. Lưu Bị nói rằng : ” Cô chi hữu Khổng Minh, do ngư chi hữu thủy dã 孤之有孔明,猶鱼之有水也 “. Có nghĩa : ” Ta mà có được Khổng Minh, thì như là cá mà gặp được nước vậy !”. Khiến cho Quan Trương 2 người đành im hơi, không dám phản đối nữa !

Inline image

                                           Tam cố thảo lư
 

       Còn ” Cá Nước ” bây giờ thường được dùng để chỉ về duyên đôi lứa, tình yêu trai gái khi gặp được đối tượng xứng ý vừa lòng :

                       Đôi ta như lúa đòng đòng,

                 Như cá gặp nước thỏa lòng mẹ cha. 

     hoặc …

                       Tình anh như nước lên cao,

                   Tình em như cá lội vào nước anh …    

      Nước là Thủy, đi với Sơn thì thành SƠN THỦY 山水, mà Sơn Thủy là … Phong cảnh. Nhớ hồi nhỏ đến rạp hát xem các họa sĩ vườn vẽ phong cho gánh hát, bà con cứ nói là : ” Đi coi cái thằng cha đó vẽ SƠN THỦY !”. Thực tế thì phong cảnh cũng phải có sơn có thủy có núi có nước thì mới đẹp, và ít nhất thì cũng phải có nước, phải có những dòng sông con rạch với những ngọn dừa lả bóng như đồng bằng sông Cửu Long thì mới là cảnh đẹp được ! Trong văn chương cổ điển thì ca ngợi  cảnh đẹp bằng Sơn Minh Thủy Tú 山明水秀, Thanh Sơn Lục Thủy 青山綠水, là non xanh nước biếc như trong ca dao của ta :

                   Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,

                Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.  

                         Ai vô xứ Nghệ thì vô !   

      Khi Dương Qúy Phi bị bức tử ở Mã Ngôi Pha rồi, Đường Minh Hoàng chỉ còn lại một mình chạy vào đất Thục, mà lòng vẫn không nguôi thương nhớ đến Dương Phi. Bạch Cư Dị đã viết trong Trường Hận Ca là :

             Thục giang thủy bích Thục sơn thanh,  蜀江水碧蜀山青,

             Thánh chúa triêu triêu mộ mộ tình !    聖主朝朝暮暮情。

Có nghĩa :

                  Sông Thục kia nước xanh biêng biếc,

                  Núi Thục kia biêng biếc non xanh.

                  Ngày sầu đêm thức năm canh,

                  Não lòng thánh chúa tình thành chiêm bao !

      Nước ướt át là thế, tình tứ là thế, dịu dàng là thế. Thế nhưng, khi gặp phải phong ba bão tố thì nước lại trở nên cuồng nộ hung hăng, nhấn chìm tất cả xuống lòng sông, lòng biển, lòng đại dương một cách vô tình không thương xót.

       Người con gái chết đuối đầu tiên thời thượng cổ là con gái của Viêm Đế : Nữ Oa 女娃 ( Trung Hoa cổ xưa gọi các cô gái chưa chồng là  Nữ Oa, như ta gọi các cô gái con của vua Hùng là Mỵ Nương vậy ). Trong một lần đi chơi ở biển đông, Nữ Oa đã bị chết bởi một trận ba đào cuồng nộ. Ức lòng vì chết trẻ, hồn Nữ Oa đã hóa thành con chim Tinh Vệ 精衛, hàng ngày tha sỏi đá cỏ cây để lắp bằng biển đông cho hả giận.

        Trong Truyện Kiều lúc lập đàn tế  Thúy Kiều trên sông Tiền Đường, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tích nầy để tả nổi oan khiên của cô Kiều :

                      Tình thâm bể thảm lạ điều,

                Nào hồn Tinh Vệ biết theo chốn nào ?

      Trong truyện Sãi Vãi, khi bàn về chữ MUỐN, cụ Nguyễn Cư Trinh cũng cho ông Sãi nói rằng :

                  Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,

                  Đất nghỉ phù muốn đắp để nên non …

Inline image

                            Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,

       Không phải chỉ riêng chim Tinh Vệ, mà những người Việt Nam vượt biên tìm tự do sau 1975 cũng muốn lắp cho cạn biển Đông, cũng như những người Syria tị nạn hiện nay muốn lắp cho cạn Địa Trung Hải vậy. Nước đã nhấn chìm biết bao sinh linh, biết bao là hy vọng, biết bao niềm mơ ước để đến được bến bờ tự do, để đến được miền đất hứa, để xây dựng một cuộc sống mới trong hòa bình thịnh vượng. Hết ý thức hệ rồi lại đến chiến tranh khủng bố làm rối loạn, xáo trộn cuộc sống yên bình của cư dân địa cầu, và … để cho nước lại có dịp dìm chết những dân thường vô tội, vì chẳng đặng đừng mới phải bỏ quê Cha đất Tổ, nơi chôn nhau cắt rốn để ra đi !         

       Hơn 2000 năm trước, Tuân Tử đã ghi lại lời nói giữa Khổng Tử và Lổ Ai Công là : Quân dã, chu dã; thứ nhân dã, thủy dã. Thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu. 君者,舟也;庶人者,水也。水则载舟,水则覆舟. Có nghĩa : ” Vua là thuyền, dân là nước. Nước có thể chở thuyền thì nước cũng có thể lật thuyền “. Đó là 2 mặt của nước, khi bình thường trôi chảy thì nước có thể chở thuyền đi muôn ngàn dặm; còn lúc ba đào dậy sóng thì nước sẽ nhấn chìm thuyền trong chớp mắt mà thôi. Nếu biết lợi dụng cái ưu thế ” Nước ” của mình, thì tất cả những dân tị nạn sẽ không phải bỏ đi đâu cả, cứ nhấn chìm cái ” Thuyền ” mình đang chở là được ngay !

        Nhưng, thực tế cũng đâu phải dễ, vì muốn cho thuyền chìm thì nước cần phải có cuồng phong yễm trợ, không có gió to thì nước làm sao có thể dậy sóng để nhấn chìm thuyền cho được ! 

                   Inline image 
                         Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền.
     

       Nước mang đến cái lợi mà cũng mang đến tai họa nữa. Cái lợi  do nước mang đến cho con người gọi là THỦY LỢI 水利. Cái lợi trước tiên, nước là thức uống không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Ta có thể ba ngày không ăn chớ không thể 3 ngày không uống nước. Nước dùng để tưới tiêu, nước dùng để tắm gội, nước dùng để giặt giũ, nước dùng để nấu ăn … Cái LỢI của nước thật to lớn vô cùng, nhưng người đời thường chỉ biết THỦY LỢI là dẫn thủy nhập điền, là đưa nước vào với ruộng đồng cho tiện việc tưới tiêu, tăng gia sản xuất mà thôi … Thậm chí sau 1975, hễ nhắc đến từ THỦY LỢI là thanh niên ở thành thị đều xanh mặt, vì đi làm công tác Thủy Lợi là đi … Đào Đất !

       Còn tai họa lớn nhất do nước đem đến là Lũ Lụt, là THỦY HỌA 水禍. Nước lụt cuốn trôi tất cả nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, trâu bò, gia súc… Ruộng đồng tan hoang, vườn tược xơ xác, nhà cửa điêu tàn… như đồng bào miền Trung của ta hằng năm phải gánh chịu :

                  Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm,

              Khiến đau thương thấm tràn ngập Thuận An… 

       Còn đồng bào Nam Kỳ Lục Tỉnh vùng An Giang Châu Đốc thì lạc quan hơn. Bà con gọi mùa lũ lụt hằng năm bằng ” Mùa Nước Nổi “. Mùa nước nổi cũng là mùa len trâu (đọc truyện của nhà văn Sơn Nam) bà con xoay qua đánh bắt thủy sản, mọi người đều hối hả đua nhau đặt dớn, bơi xuồng giăng câu, thả lưới… ai cũng vui đón mùa nước nổi về để được thưởng thức các món ngon như : Lẩu cá linh, canh chua nấu bằng bông điên điển, cá lóc bọc lá sen nướng hay chuột đồng nướng trui là những món đặc sản ngon nổi tiếng của Đồng Tháp trong mùa nước nổi.

Inline image

                         Đặt dớn bắt cá    Đặt trúm bắt chuột, lươn.

       Cơn lụt lớn nhất của nhân loại là cơn Đại Hồng Thủy trong  Thánh Kinh Cơ  Đốc, nhưng cơn lụt để lại nhiều huyền thoại nhất là cơn Đại Hồng Thủy do sông Hoàng Hà gây nên, khiến Cổn 鯀 phải bị tội vì suốt 9 năm mà không trị được thủy. Con ông Cổn là Hạ Vũ 夏禹 phải mất thêm mười ba năm đôn đốc toàn dân phá núi khai kinh dẫn nước từ cao xuống thấp, lại mở rộng thêm cửa sông cho nước chảy ra biển, mới chấm dứt được cơn hồng thủy, nên cửa biển mới được gọi là Vũ Môn 禹門, nơi mà theo tương truyền cá chép nào vượt qua được sẽ hóa thành rồng (nên còn gọi là Long Môn 龍門) Nhưng không phải con cá nào cũng muốn hóa rồng cả. Ta hãy nghe cô gái Nam Bộ hát trên sông nước như sau :

                                 Khá khen con cá hóa long,

                      Hóa long không hóa, hóa lòng thương anh !

                             …quả là tình nghĩa thắm thiết biết bao nhiêu !

       Trở lại chuyện Hạ Vũ trị thủy, trong qúa trình làm cái công việc của một Công Trình Sư thủy lợi, tương truyền ông đã sáng chế ra  Viên Quy 圓規 ( compasses ), Phương Củ 方矩 là Thước vuông góc ( Rectangular ) ta quen gọi là cái ” Ê-Ke ” ( Không có QUY thì vẽ không TRÒN, không có CỦ thì kẻ không VUÔNG. Nên QUY CỦ 規矩 là cái nguyên tắc phải tuân theo để làm việc, không có QUY CỦ 規矩 sẽ bị méo mó mà chẳng làm nên cơm cháo gì cả !) và ông cũng quy  định lại thước tấc để đo đạc và vẽ đường cho … nước chảy ! Trong Tây Du Ký, Ngô Thừa Ân đã huyền thoại hóa cây thước nầy thành Cây  Định Hải Thần Châm của Đông Hải Long Vương để dằn dưới rốn biển cho biển  đừng dao động, bị Tề Thiên  Đại Thánh Tôn Hành Giả lấy làm binh khí và gọi nó là Như Ý Kim Cô Bổng mà ta quen gọi là cây Thiết Bản của Tề Thiên, chính là cây thước đo đạc dùng để trị thủy của Hạ Vũ ngày xưa đó. Vì trị thủy mang lại cuộc sống ổn định cho dân chúng, nên mọi người tôn xưng ông là ĐẠI VŨ 大禹 ( là ông VŨ vĩ ĐẠI : xin đừng nói lái ) và vua Thuấn nhường ngôi cho ông để lập nên nhà HẠ. Nhà Hạ truyền được 471 năm, qua 17 đời vua, đến vua Kiệt 桀 vì si mê Muội Hỉ, hoang dâm vô độ, dân tình khốn khổ, nên bị Thành Thang tiêu diệt, lập nên nhà Thương.

         Vua VŨ vì giúp dân trị thủy, thoát khỏi thãm họa do lũ lụt gây nên mà được nhường ngôi vua. Còn vua KIỆT 桀 vì ham mê nữ sắc mà mất ngôi vua. nên sử sách ví cái họa của nữ sắc như là cái họa do nước mang đến. Vì thế mà có thành ngữ HỒNG NHAN HỌA THỦY 紅顏禍水. Và cái HỌA THỦY của HỒNG NHAN nầy còn được chứng minh dài dài qua các triều đại kế tiếp, như …

        Nhà Thương truyền được 526 năm, đến đời vua Trụ, vì si mê Đắc Kỷ giết hại công thần, mà bị Châu Võ Vương tiêu diệt, lập nên nhà Châu. Nhà Châu truyền 803 năm, đến đời U Vương lại vì si mê Bao Tự muốn cho nàng cười mà phải đốt Phong Hỏa Đài để gạt chư hầu rồi … bị mất vào tay nước Tần sau đó. Thời Chiến Quốc, Ngô vương Phù Sai cũng bị mất nước vì mê Tây Thi, Hạng Võ Sở Bá Vương cùng Ly Cơ tự vẫn trên bến Ô Giang, Đường Minh Hoàng vì Dương Qúy Phi mà phải chạy loan An Lộc Sơn ẩn mình nơi đất Thục  … Nên sử sách  đều cho là Muôi Hỉ, Đắc Kỷ, Bao Tự, Tây Thi, Ly Cơ, Dương Qúy Phi … đều là Hồng Nhan Họa Thủy, mà không biết rằng tại các hôn quân đó qúa … mê gái rồi tự làm cho mình mất nước, mắc cở và thẹn qúa nên mới đổ thừa cho HỒNG NHAN là HỌA THỦY ! Nhưng …

          Họa Thủy thì họa thủy, thi sĩ thì vẫn cứ yêu người đẹp như thường, gần ba ngàn năm sau, Xuân Diệu đã viết :

                   Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,

                   Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng,

                   Tôi muốn tôi là Đường Minh Hoàng,

                   Trong cung nhớ nàng Dương Qúy Phi !

                    Inline image
                        Muội Hỉ             Đắc Kỷ            Bao Tự              Tây Thi
 
        Sự thật thì ” Đằng sau sự thất bại của người đàn ông, lúc nào cũng có bóng dáng của một người đàn bà !”. Đây gần như là sự thật hiễn nhiên, không sai bao giờ !.

       Nhưng dù cho thánh hiền, vua chúa, hiền nhân quân tử hay anh hùng hảo hán … gì gì đi nữa, thì cũng phải chịu chung cái quy luật của thời gian. Thời gian sẽ cuốn trôi và xóa nhòa tất cả như bài đề từ Lâm Giang Tiên 臨江仙 của Hứa Thận 許慎 đời Minh cho quyển Tam Quốc Chí của La Quán Trung như sau :

Inline image

      滾滾長江東逝水,     Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy, 
      浪花淘盡英雄。        Lãng hoa đào tận anh hùng.
      是非成敗轉頭空。     Thị phi thành bại chuyển đầu không. 

      青山依舊在,           Thanh sơn y cựu tại,

      幾度夕陽紅。           Kỷ độ tịch dương hồng. 

      白髮漁樵江渚上,    Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, 
      慣看秋月春風。       Quán khan thu nguyệt xuân phong. 
      一壺濁酒喜相逢。    Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.

      古今多少事,          Cổ kim đa thiểu sự,

      都付笑談中.            Đô phó tiếu đàm trung !

NGHĨA BÀI TỪ :

         Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay  đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão  đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu mà thôi !

      Thật là cảm khái ! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả  đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 

DIỄN NÔM :

Inline image

         Trường giang cuồn cuộn nước về đông,

         Sóng xô đào thải hết anh hùng.

         Thị phi thành bại quay đầu : hết !

         Núi xanh vẫn còn đó,

         Bao lượt nắng chiều hồng.

         Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,

         Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,

         Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,

         Xưa nay bao thế sự,

         Cười nói cũng như không !

Lục bát :

             Trường Giang cuồn cuộn về đông,

         Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.

             Thị phi thành bại trên đời,

         Quay đầu là hết núi đồi còn đây.

             Núi xanh sừng sửng tháng ngày,

         Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.

             Ngư tiều đầu bạc ven thôn,

         Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.

             Một bầu rượu lạt ngà say,

         Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?

             Nói cười nhấp rượu như không !

Inline image

     Xin được kết thúc bài Phiếm luận về NƯỚC theo dòng đào thải của thời gian ở nơi đây !

                                                                                          杜紹德

                                                                                      Đỗ Chiêu Đức          Tạp ghi và Phiếm luận :                                       THỔ là ĐẤT

Image result for thổ là đất

          THỔ 土 là ĐẤT, đất là ĐỊA 地, trong chữ Địa có Bộ Thổ, nên Địa cũng là Đất. Ta có từ kép Thổ Địa 土地 là Đất Đai. Thổ cũng thuộc một trong 214 bộ của CHỮ NHO… DỄ HỌC, theo diễn tiến của chữ viết như sau : Giáp Cốt Văn     Kim Văn       Đại Triện      Tiểu Triện       Lệ Thư

Inline image

Ta thấy :
         Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Triện đều là hình tượng của một mô đất trên mặt đất, nên Thổ vừa là chữ Tượng Hình vừa là chữ Chỉ Sự, chỉ một đống đất trên mặt đất, đến Tiểu Triện thì các nét mới được kéo thẳng ra thành biểu tượng của chữ viết, cho đến Chữ Lệ thì mới hoàn chỉnh như chữ viết hiện nay THỔ 土 là ĐẤT.

         Có tất cả 463 chữ được ghép bởi bộ Thổ nầy để chỉ những gì có liên quan đến Thổ là Đất. Ta có các từ về Thổ là Đất rất lý thú và cũng không kém phần rắc rối như sau :


  – Thổ Địa 土地 : là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất trên đời nầy.
  – Thổ Nhưỡng 土壤 : cũng là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất dùng để trồng trọt.
  – Thổ Cư 土居 : chỉ tất cả các loại đất dùng để ở.
  – Thổ Canh 土耕 : là tất cả các loại Đất dùng để canh tác, làm ruộng.
  – Thổ Trạch 土宅 : là tất cả các loại Đất dùng để cất nhà ở, biệt thự.
  – Thổ Mộ 土墓 : là tất cả các loại Đất dùng để chôn cất người trong gia tộc, còn gọi là Đất Hương Hỏa, là đất dùng để lo nhang đèn hương khói cho người thân đã chết.

          Theo Tử Vi đẩu số ta còn có 6 loại đất sau đây :


  * Lộ Bàng Thổ 路旁土 : Đất bên đường.
  * Thành Đầu Thổ 城頭土 : Đất đầu thành.
  * Ốc Thượng Thổ 屋上土 : Đất trên mái nhà.
  * Bích Thượng Thổ 壁上土 : Đất trên vách.
  * Đại Trạch Thổ 大澤 土 : Đất trong đầm lầy lớn.
  * Sa Trung Thổ 沙中土 : Đất trong cát.
    và…
           Mặc dù Mộc khắc Thổ, cây cối mọc lên hút hết chất bổ của đất làm cho đất trở nên cằn cỗi, và cây gỗ để ở dưới đất lâu ngày sẽ bị đất làm cho mục nát hết. Cái nầy kêu bằng tương khắc với nhau, nhưng…
           Lộ Bàng Thổ (đất ven đường), Đại Trạch Thổ (Đất trong đầm lầy lớn) và Sa Trung Thổ (Đất pha cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.

          Thành Đầu Thổ (Đất đầu thành), Bích Thượng Thổ (Đất trên vách) và Ốc Thượng Thổ (Đất mái nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. Ba hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bách Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ.

Inline image

         Thổ là Đất, giá trị của đất tăng theo tỉ lệ thuận với số lượng của đất, chưa có một vật chất nào có giá trị từ số không, rồi sau đó cứ tăng dần đến vô tận như đất cả ! Hốt một nắm đất cho không, không ai thèm lấy cả, mặc dù họ không có đất để cắm dùi, nhưng nếu cho một vuông đất để che chòi ở, để cất nhà, thì không ai nở… từ chối cả ! Và cứ thế tăng dần, một công đất để trồng rẩy, một mẫu đất để cày ruộng… cho đến một xã, một làng, một huyện, một tỉnh, một nước… giá trị của đất cứ tăng mãi đến vô cực là… Trái Đất, là cả Quả Địa Cầu nầy !  

        Ông bà ta nói:
                   Tiền tài như phân thổ,        錢財如糞土,
                   Nhân nghĩa trị thiên kim.    仁義值千金。
Có nghĩa :
            Tiền của tài sản như phân như đất,
            Nhân nghĩa mới đáng giá ngàn vàng.
là ý ông bà muốn đề cao nhân nghĩa mà xem nhẹ tiền tài, tiền tài chỉ như phân như đất mà thôi, cũng như lời cô Kiều đã nói với Kim Trọng khi biết Kim đã nhặt được chiếc kim thoa của mình :

     Chiếc thoa là của mấy mươi,
                  Mà lòng trượng nghĩa khinh tài xiết bao !

         Nhưng người đời thường xem trọng kim tiền hơn nhơn nghĩa, nên câu nói trên còn được bà con bình dân  sửa lại một cách mĩa mai như sau :


                      Tiền tài như…. ông tiên tổ,
                      Nhơn nghĩa tợ… cục cứt khô !


         Ông bà ta lại dạy rằng : “Tấc đất là tấc vàng” để con cháu biết quý trọng cái cuộc đất mà ta đang sở hữu, nếu biết sử dụng đất một cách thích đáng, biết bỏ công sức lao động canh tác trồng trọt, thì “tấc đất sẽ cho một tấc vàng” như chơi mà thôi !


        Nhớ khi xưa cái miếu Thổ Địa ở đầu làng quê tôi có đôi câu đối như sau :

    THỔ năng sanh bạch ngọc,       土能生白玉,
                     ĐỊA khả xuất hoàng kim.          地可出黃金。
Có nghĩa :
               Đất có thể sanh ra ngọc trắng, và
               Đất cũng có thể cho ra vàng ròng !


       Hạt ngọc trắng ở đây chính là hạt gạo trắng ngần đã nuôi sống chúng ta hàng ngày, còn vàng ròng sẽ có được nếu chúng ta chịu cày sâu cuốc bẫm. Đất chẳng những cho ta chỗ ở, cho ta việc làm, còn cho ta cái ăn cái mặc nữa, nên ông bà ta rất coi trọng đất và luôn quan niệm rằng : ” Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá “. Thổ Công là ông thần đất, còn được gọi là Thổ Thần, nên khắp cả các thôn làng, nơi nào cũng có Thổ Công của nơi đó, và ông thần đất nầy cũng luôn luôn được cúng tế đầy đủ ở bất cứ lễ lạc nào. Trong Truyện Kiều tả lúc Bạc Hạnh thành thân với cô Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :    

    Bạc sinh qùy xuống vội vàng,
                      Qúa lời nguyện hết Thành Hoàng Thổ Công.

Inline image

        Câu đối thường thấy nhất của các miếu Thổ Thần ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh quê tôi là :


                       土旺人從旺,     Thổ vượng nhân tòng vượng,
                       神安宅自安。     Thần an trạch tự an.
Có nghĩa :
             Đất có vượng thì người cũng sẽ vượng theo, và…
             Thần có được yên ổn, thì nhà cũng sẽ tự nhiên được yên ổn mà thôi !

       Thổ ngoài nghĩa là Đất ra, còn có nghĩa là : Cái gì đó thuộc về bản xứ, bản địa. Ta quen miệng gọi là đồ lô-can (local). Bây giờ thì Thổ được sử dụng như là một Hình Dung Từ (Tính Từ), như :


  – Thổ Dân 土民 : Dân cố hữu của một địa phương hay của một vùng nào đó. Ví dụ : Thổ Dân của Châu Mỹ là những Bộ tộc mọi Da Đỏ chẳng hạn…
  – Thổ Sản 土產 : là Đặc sản riêng của một vùng nào đó , Như Thổ Sản của Lái Thiêu là Sầu Riêng chẳng hạn…

  – Thổ Cẩm 土錦 : là Gấm được dệt ở địa phương, là Gấm nội hóa.
  – Thổ Âm 土音 : là Tiếng nói và Âm sắc riêng của địa phương nào đó. Như Giọng Bắc, Giọng Huế, Giọng Nam của ta vậy…
  – Thổ Hào 土豪 : là Cường hào ác bá ở địa phương.
  – Thổ Phỉ 土匪 : là các phe nhóm băng đảng cướp bóc ở địa phương.
  – Thổ Công 土公 : là Ông Thần Đất của địa phương nào đó như ta đã nói ở trên…

 – Thổ Quan 土官 : là Ông quan ở địa phương, như Trưởng thôn, Trưởng Làng, hay cao hơn là Tri Châu, Tri Huyện… Như trong Truyện Kiều, Hồ Tôn Hiến sau khi ngủ với Thúy Kiều một đêm rồi sợ mang tiếng ” Quan trên ngó xuống người ta trông vào “, nên sáng ngày mới ép nàng lấy Thổ Quan : 

   Lệnh quan ai dám cãi lời,
                      Ép tình mới gán cho người Thổ Quan.

        Thổ còn là cái Phong Thổ 風土, là phong thủy thổ nhưỡng, phong tục tập quán, là nếp sống của một địa phương nào đó, mà người ta thường gọi là Phong Thổ Nhân Tình 風土人情, Đi đến đâu, ta cũng phải tìm hiểu cái phong thổ nhân tình của nơi đó để dễ dàng hòa nhập vào nếp sống của địa phương đó.

       Ngoài Phong Thổ, ta còn có Thủy Thổ 水土, là Nước và Đất của một nơi nào đó kể cả khí hậu thời tiết nắng mưa của nơi đó luôn. Nếu không hợp với Thủy Thổ của nơi đó sẽ làm cho con người sanh ra bệnh hoạn, súc vật thì gầy còm, cây cỏ thì èo ọt… như câu chuyện ứng đối lý thú của Tướng quốc nước Tề với vua nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc như sau :

      
       Yến Anh 晏嬰, còn được gọi là Án Anh, người đời sau tôn trọng ông, nên còn gọi là Án Tử, ông sinh năm 578 TCN ở Sơn Đông, mất năm 501 TCN ở Truy Bác, tự Bình Trọng là một nhân vật lịch sử nổi tiếng, sống và làm quan ở hai triều vua Tề Trang Công và Tề Cảnh Công thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ông có dáng thấp nhỏ như đứa bé, nhưng có trí tuệ thông minh và là một vị quan có tài ứng đối giỏi của nước Tề.

       Một lần Án Tử vâng lệnh vua Tề đi sứ sang nước Sở. Vua Sở định làm nhục để thử tài của Án Tử, nên sau khi ban rượu, thì cho lính dẫn một người bị trói đi ngang qua. Vua Sở mới hỏi là người đó phạm tội gì ? Lính đáp, đó là một người ở nước Tề, phạm tội ăn trộm ngựa. Vua Sở bèn cười mà quay sang hỏi Án Tử là : “Người nước Tề hay ăn trộm lắm hay sao ?”. Án Tử mới đứng dậy chắp tay thưa rằng : “Thần nghe nói, cây quít trồng ở phương bắc thì cho trái to và ngọt, nhưng khi đem trồng ở phương nam thì lại cho trái nhỏ và chua, là bởi vì đâu ? Đó là đều do Thủy Thổ mà ra cả ! Nay người nước Tề ở nước Tề thì không trộm cắp, sang qua ở nước Sở lại sinh ra trộm cắp, thần nghĩ chắc cũng do cái Thuỷ Thổ bất đồng mà sinh ra như thế chăng ?! “. Vua Sở cười rằng : ” Ta vì muốn nói chơi mà bị nhục ! “. Thế mới biết kẻ cả không nên nói chơi bao giờ !

Inline image

                                     Án Tử đi sứ nước Sở

        Thổ là Đất, mà đất còn là quê hương đất nước. Cố Thổ 故土 là Cố Hương 故鄉, là quê cũ, quê xưa, quê nhà , là Cố Quốc 故國, là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi mà ta được sinh ra và lớn lên, như trong bài Độ Long Vĩ Giang 渡龍尾江 của cụ Nguyễn Du :


                    故國回頭淚,   Cố quốc hồi đầu lệ,
                    西風一路塵。   Tây phong nhất lộ trần.
Có nghĩa :
                        Ngoảnh đầu quê cũ lệ rơi,
                   Dọc đường cát bụi tơi bời gió tây.


         Ngoảnh đầu trông lại quê hương mà khôn ngăn hai hàng lệ nhỏ. Lại thêm gió tây thổi suốt dọc đường gió bụi. Vừa qua khỏi sông Long Vĩ thì thân ta đã là người tha hương rồi… Trong Truyện Kiều, tả lúc Hoạn Thư bắt Kiều về làm nô tì, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :

                        Lâm truy chút nghĩa đèo bòng,
                        Nước non để chữ tương phùng kiếp sau.
                        Bốn phương mây trắng một màu,
                        Trông vời CỐ QUỐC biết đâu là nhà.


… và như lời than của một cung nhân đời Đường qua lời thơ của Trương Hỗ 張祜 là :


                   CỐ QUỐC tam thiên lý,          故國三千里,
                   Thâm cung nhị thập niên.    深宮二十年.
Có nghĩa :
                   QUÊ CŨ ba ngàn dặm,
                   Thâm cung hai mươi năm !


        Cách xa quê hương ba ngàn dặm và bị nhốt trong cung hai mươi năm thì còn gì là tuổi xuân nữa ! Trông người lại ngẫm đến ta, chúng ta đã lưu vong ở Mỹ trên bốn mươi năm và cách xa quê hương trên hai mươi ngàn dặm, chỉ còn đợi gởi nắm xương tàn nơi ” Ngoại Thổ 外土” mà thôi !

        Theo Ngũ hành Sinh khắc thì Thổ khắc Thủy, có nghĩa là Đất khắc chế được Nước. Nói theo binh pháp ngày xưa là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn như cụ Đào Duy Từ  đã khuyên Chúa Sãi không nhận sắc phong của vua Lê do Chúa Trịnh áp đặt, với diễn tiến câu chuyện như sau :

      Năm 1627, chúa Trịnh Tráng muốn lấn vào Nam bèn sai Nguyễn Khắc Minh đi sứ, mang tiếng là phong tước cho chúa Nguyễn nhưng đồng thời cũng để dò xét tình hình đàng trong. Lúc bấy giờ Đào Duy Từ là Tham Tán bèn khuyên chúa Nguyễn che giấu lực lượng và tạm nhận phong để hòa hoãn với chúa Trịnh. Chúa Trịnh cũng đồng thời đòi chúa Nguyễn cho con ra Bắc chầu, nộp 30 voi đực và 30 chiến thuyền để đi cống nhà Minh bên Trung Quốc, Duy Từ khuyên là không  thực hiện rồi bày kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục để phòng thủ, với ý là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn . Chúa Nguyễn nghe theo và thực hiện ngay.

       Về việc sắc phong, vào năm 1630 Duy Từ cho người làm một cái mâm đồng hai đáy bên trong đựng sắc của chúa Trịnh, trên phủ lụa vàng rồi sai Trần Văn Khuông đi sứ. Trần Văn Khuông theo lời Duy Từ dặn dò, đối đáp, dâng mâm cho chúa Trịnh, rồi kiếm cớ trốn về. Chúa Trịnh thấy sứ đoàn vội vã đi về, sinh nghi, bèn cho lục mâm đồng thì thấy tờ sắc của mình trước đó còn có kèm theo một bài thơ như sau :

                  Mâu nhi vô dịch,          矛而無剔,

                  Mịch phi kiến tích.        覔非見迹.

                  Ái lạc tâm trường,        愛落心腸,

                  Lực lai tương địch!        力來相敵 !

Có nghĩa :

                Cây mâu mà không đâm, không khều.

                Tìm mãi mà không thấy tung tích gì cả.

                Thương đến nỗi rớt cả lòng dạ ruột gan.

                Nếu dùng sức mạnh đến đây, thì sẽ đối địch với nhau mà thôi !


         Cả triều không ai hiểu là ý muốn nói gì ?!. Giai thoại kể rằng :

         Chúa Trịnh cho mời Phùng Khắc Khoan (1528 -1613, trong khi sự kiện này xảy ra năm 1630 nên không chính xác) đến hỏi thì mới vỡ lẽ, trong chữ Hán cổ, chữ MÂU  viết không có dấu phết thì thành chữ DƯ , nghĩa là ta; Chữ MỊCH  mà bỏ chữ KIẾN  chỉ còn lại chữ BẤT  nghĩa là không. Chữ ÁI   nếu viết thiếu chữ TÂM  thì ra chữ THỤ  nghĩa là nhận.  Chữ LỰC   ghép với chữ LAI  sẽ thành chữ SẮC   là sắc phong. Ghép 4 chữ của bốn câu trên lại ta có câu :

      Dư Bất Thụ Sắc 予 不 受 勑 ( Có nghĩa là : Ta không nhận sắc phong ). Chúa Trịnh hiểu ý là Chúa Nguyễn trả lại sắc phong, nổi giận, cho người đuổi theo sứ đoàn của Chúa Nguyễn, thì cả sứ đoàn của Trần Văn Khuông đã đi xa rồi !

      Chuá Trịnh cả giận cử binh hỏi tội, nhưng đụng phải lũy Trường Dục của Đào Duy Từ, nên bị Chúa Nguyễn đánh cho thua chạy tơi bời ! 

Inline image

         Đào Duy Từ được tiếng là nhà chính trị quân sự, vừa là thầy giáo, vừa là bậc khai quốc công thần lớn nhất của 9 đời Chúa Nguyễn và 13 đời vua nhà Nguyễn, trong khi Gia Cát Lượng chỉ phò trợ có 2 đời Thục Hán mà thôi !

         Thổ là Đất, mà Đất còn là Nước, ta có từ kép Đất Nước để chỉ Lãnh thổ 領土 của một quốc gia, còn được gọi là Quốc Thổ 國土, Cương Thổ 疆土 là phần đất ở sát biên cương với nước láng giềng mà ta có được, nói theo lịch sử của thời phong kiến, thì đó là Hoàng Triều Cương Thổ 皇朝疆土 là đất của vua , đất của triều đình. Hoàng Triều Cương Thổ lớn nhất, mở mang nhất nước ta là dưới thời vua Minh Mạng, tiêu diệt và đồng hóa Chàm (Champa), lấn chiếm Chân Lạp (Campuchia), sát nhập đất Phù Nam (Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau) để có được bản đồ hình cong chữ S như hiện nay. Nên, không có Đất là không có Nước, dân không có đất là dân vong quốc, chính quyền không có đất là chính quyền lưu vong, sẽ không làm nên trò trống gì cả ! Từ đó cho thấy ĐẤT quan trọng biết chừng nào ! Nhưng, nếu chính quyền lưu vong mà lập quốc được như dân Do Thái, thì chữ Nho gọi là “Quyển thổ trùng lai 卷土重來” Có nghĩa là : Cuốn đất mà trở lại, theo như ý của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Đề Ô Giang Đình 題烏江亭” của Đỗ Mục 杜牧 khi đến bến Ô Giang nơi mà Hạng Võ Sở Bá Vương đã tự sát :


              勝敗兵家事不期,     Thắng bại binh gia sự bấtkỳ
              包羞忍恥是男兒.       Bao tu nhẫn sĩ thị nam nhi
            江東子弟多才俊,     Giang Đông tử đệ đa tài tuấn
              捲土重來未可知。     Quyển thổ trùng lai vị khả tri !

Có nghĩa :
                   Thắng bại chuyện binh ai biết trước ,
                   Làm trai nhịn nhục cứ dửng dưng.
                   Giang Đông tuấn kiệt còn đầy rẫy,
                   Cuốn đất làm nên chửa biết chừng !


        Ý của Đỗ Mục là : Nếu như Hạng Võ cố chịu nhục mà về Giang Đông chiêu mộ thêm anh tài còn đầy rẫy nơi đó mà phất cờ đánh lại Lưu Bang, thì chưa biết chừng đã làm nên cơ nghiệp lớn ! Cũng như Nhà nước Israel hiện đại đã được hoàn thành năm 1948 sau hơn 60 năm nỗ lực của các nhà lãnh đạo phái Zion (Chủ nghĩa lập quốc Do Thái) nhằm thiết lập chủ quyền và quyền tự quyết trên một Tổ quốc Quốc gia Do Thái vậy.

Inline image

 Hạng Võ Sở Bá Vương         Bản đồ Do Thái lập quốc

          Thổ là Đất, Nhất Phầu Hoàng Thổ 一抔黃土 là Một nấm đất vàng, thường dùng để chỉ một nấm mộ, nhất là những nấm mộ hoang như của Đạm Tiên :


                              Xè xè nấm đất bên đường,
                       Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.


          Còn sống thì phong lưu tiêu sái, hương trời sắc nước, nguyệt thẹn hoa nhường hay sự nghiệp lẫy lừng, danh vang bốn bể, anh hùng cái thế … Nhưng khi chết đi rồi thì tất cả cũng đều vùi chôn dưới một nấm đất vàng ô trọc mà thôi ! Nên chi, Tào Tuyết Cần mới cho người đẹp u sầu muôn thuở Lâm Đại Ngọc chôn xác hoa rơi với “Nhất Phầu Tịnh Thổ 一抔淨土” là một nấm đất tinh khiết không ô nhiễm bụi trần :

          Người đẹp Lâm Đại Ngọc 林黛玉 trong Hồng Lâu Mộng 紅樓夢 của Tào Tuyết Cần 曹雪芹, là người đẹp đa sầu đa cảm đa tài, rất giỏi về văn thơ đã thương khóc cho những cánh hoa rơi như thương cho thân phận của chính mình, rồi chôn hoa, rồi ngâm thơ điếu hoa hẵn hoi với bài TÁNG HOA NGÂM 葬花吟 với những lời thơ thật đẹp như sau :

              … 願儂此日生雙翼﹐      Nguyện nông thử nhật sanh song dực,
                  隨花飛到天盡頭         Tùy hoa phi đáo thiên tận đầu.
                  天盡頭!何處有香丘﹖Thiên tận đầu ! Hà xứ hữu hương khâu ?
                  未若錦囊收艷骨         Vị nhược cẩm nang thu diễm cốt,
                  一抔淨土掩風流﹐      Nhất phầu tịnh thổ yễm phong lưu !…

Có nghĩa :
 Ước gì hôm nay ta chắp được đôi cánh, để cùng với các cánh hoa rơi bay đến tận cuối chân trời. Ở nơi cuối chân trời kia, không biết là nơi đâu có mồ hoa thơm đẹp. Ta chưa kịp may túi gấm để thâu táng thân xác đẹp đẽ của hoa, thôi thì đành mượn một nắm tịnh thổ để vùi chôn một kiếp phong lưu diễm lệ !….
       Lục bát :
   …. Theo hoa bay đến cuối trời,
                  Chắp đôi cánh đẹp rạng ngời như hoa.
                        Cuối trời xa, cuối trời xa !…
                   Tìm hương mộ đẹp la đà xác thơm.
                        Chưa may túi gấm chiều hôm,
                   Vùi nông một nắm tủi hờn phong lưu !….

Inline image

Người đẹp Lâm Đại Ngọc chôn hoa


          Người xưa để lại một câu nói ý vị sâu xa để khuyên răn người đời là :


                        Đản tồn phương thốn thổ,      但存方寸土,
                        Lưu dữ tử tôn canh.               留與子孫耕。
Có nghĩa :
           Làm sao cũng phải chừa lại một tấc đất nào đó, để cho con cháu sau nầy có đất mà canh tác.


       Một tấc Ta ngày xưa chưa bằng được ba phân Tây bây giờ, thế thì một tấc đất làm sao mà canh tác ?! À, thì ra câu nói còn có ” ý tại ngôn ngoại “. Đất là một thực thể chứng minh cho sự sở hữu ngày xưa, ai chiếm hữu đất nhiều thì người đó sẽ giàu có, sẽ là chủ đất đầy quyền uy. Nên đất được mượn để chỉ mọi vật chất qúy giá và khi dùng rộng ra thì chỉ cả những giá trị tinh thần nữa. Như câu “Quảng chủng phước điền 廣種福田” có nghĩa : Trồng cho rộng ra mảnh ruộng phước đức. Ruộng Phước đức không phải là mảnh ruộng có thật, mà là muốn khuyên ta nên làm nhiều chuyện phước để “để đức” lại cho con cháu. Nên câu nói ” Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh ” có ý khuyên ta :


   – Làm việc gì đó, đừng qúa cạn tàu ráo máng, đừng qúa tuyệt tình, hãy chừa một chút gì đó để lại cho con cháu về sau. Như đừng qúa cậy thế hiếp người, đừng ví người khác vào bước đường cùng, hãy chừa cho người ta một con đường sống, biết đâu sau nầy cũng vì thế mà con cháu ta cũng được người khác niệm tình mà tha cho con đường sống như thế.

   – Đừng sử dụng hết những uy tín, tín dụng mà mình có được, phải biết chừa lại cho con cháu. Ví dụ như : Ta dùng uy tín và sự tín dụng của mình để lừa hết người nầy đến người khác để thủ lợi, thì con cháu sau nầy sẽ bị mang tiếng là “Con cháu của tên lừa đão”, chẳng những mọi người không chịu kết giao giúp đỡ, mà còn không tin tưởng để giao phó công việc nữa. Con cháu sẽ không còn “chút đất nào để cày bừa” nữa cả !


     Nói theo trào lưu trước mắt là :
   – Phải biết yêu qúi và bảo vệ môi trường sống trước mắt, đừng quá phung phí không khí trong lành mà phải biết tiết chế để chừa lại phần nào môi trường và không khí trong sạch cho con cháu sau nầy !

     Nói theo bình dân mà ông bà ta thường nhắn nhủ : “Làm việc gì đó phải cho có hậu”. Đừng làm việc đoản hậu, mà phải biết chừa cái hậu cho con cháu về sau. Đó là tất cả những gì mà cổ nhân đã gói ghém trong câu : ” Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh ” là thế !

        Bà con vùng đồng bằng sông Cửu Long thường hay nói chơi với nhau rằng : “Làm cho lắm tắm cũng ở truồng !”. Ý muốn nói dù cho thị phi thành bại gì hễ nhắm mắt buông xuôi thì đều “Nhập thổ vi an 入土為安” mà không thể mang theo thứ gì cả, như “tắm” thì làm sao mà “mặc đồ” cho được ! Bôn ba vất vả một đời, cuối cùng thì cũng đành chịu vùi sâu dưới ba tấc đất. Con người sống nhờ đất, chết lại về với đất, và cứ thế mà luân hồi mãi như Nguyễn Gia Thiều đã nói trong Cung Oán Ngâm Khúc :

                           Tuồng huyễn hóa đã bày ra đấy,
                           Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

                           Trăm năm còn có gì đâu,
                          Chẳng qua một nắm cổ khâu xanh rì !

Inline image

         Xin được kết thúc bài phiếm luận “Thổ là Đất” ở nơi đây, và để thực hiện câu :


                           Đản tồn phương thốn thổ,     但存方寸土,
                           Lưu dữ tử tôn canh.              留與子孫耕。

    
         … xin mọi người hãy hỏa thiêu thân xác sau khi chết, để chừa lại tấc đất và môi trường sạch cho con cháu sau nầy !


             Mong lắm thay !

                                                                                   杜紹德
                                                                               Đỗ Chiêu Đức       

To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/daihocsupham-vankhoasg/127329311.8020085.1724114693548%40mail.yahoo.com.

Tạp Ghi và Phiếm Luận :
                              KIM là VÀNG

Inline image

 Kim 金 là Vàng, là kim loại qúy có ký hiệu hóa học là Au (L. aurum) và số nguyên tử là 79. Nhưng người đời chỉ biết đến vàng 24K hoặc vàng 4 số 9 mà thôi. Vàng 24K, giới bình dân quen gọi là Vàng ròng, nghĩa là vàng không có pha thêm tạp chất nào cả, là Vàng thứ thiệt !       Kim 金 cũng là một trong 214 bộ của CHỮ NHO… DỄ HỌC, thuộc dạng chữ Hội Ý theo diễn tiến của chữ viết như sau : Chung Đỉnh Văn     Đại Triện     Tiểu Triện     Lệ Thư

Inline image

Ta thấy :        Chung Đỉnh Văn và Đại Triện đều được ghép bởi chữ Nhân 人 ở trên, tượng trưng cho sự che đậy như hình ngọn núi; chữ Thổ 土 là đất và chữ Nhị 二 là số 2 ở phía dưới; hàm ý là thứ vật thể được vùi chôn dưới 2 lớp đất của một ngọn núi, đó chính là Khoáng vật kim loại nói chung, mà Vàng là tiêu biểu nhất cho các kim loại đó. Đến Tiểu Triện và chữ Lệ thì đã thành hình chữ viết như ngày hôm nay KIM 金 là Vàng. Nên ta có từ …         Ngũ Kim 五金 để chỉ chung cho tất cả kim loại mà vàng được xếp đầu tiên là : Kim, Ngân, Đồng, Thiết, Tích 金、銀、銅、鐵、錫 là Vàng, Bạc, Đồng, Sắt, Nhôm. Ta thấy các chữ Ngân, Đồng, Thiết, Tích 銀、銅、鐵、錫 đều có Bộ KIM 金 đi bên trái và có tất cả 694 chữ có bộ Kim để chỉ tất cả những gì có liên quan đến Kim Loại .
        Kim 金 là Vàng, là kim loại qúy nhất trong các kim loại, có màu vàng óng ánh và không sợ lửa, lửa có đốt như thế nào cũng không sao làm phai đi màu vàng của… kim được . Nên ông bà ta thường nói “Vàng thật không sợ lửa” là thế ! Từ ngàn xưa vàng đã được tôn vinh cho sự cao sang quyền qúy, nhà của người giàu luôn được sơn son thiếp vàng, nhà để cho người đẹp ở thì phải là nhà vàng, nhất là những người đẹp lại tài hoa như Thúy Kiều, khiến cho Hoạn Thư cũng phải buộc miệng :
  Ví chăng có số giàu sang,
                  Giá này dẫu đúc Nhà Vàng cũng nên!
         Vàng chẳng những Phú mà còn Qúy nữa, cái bảng đề tên các sĩ tử thi đậu ngày xưa được gọi là Bảng Vàng, như các cụ đồ Nho thường kháo nhau về Tứ Khoái của người đời là :
                Cữu hạn phùng cam võ,     久旱逢甘雨,                Tha hương ngộ cố tri .        他鄉遇故知.                Động phòng hoa chúc dạ,   洞房花燭夜,                Kim Bảng quải danh thì !    金榜掛名時 !Có nghĩa :                Hạn lâu mưa như trút,

                Xứ lạ gặp người quen,

                Đêm động phòng hoa chúc,

                Bảng Vàng thấy đề tên !
         Ngày xưa đâu còn có gì hơn là thi đậu sau những tháng năm đèn sách dùi mài kinh sử : ” Thập niên song hạ vô nhân thức, nhất cử thành danh thiên hạ tri ! 十年窗下無人識,一舉成名天下知!” là : Mười năm dùi mài dưới song cửa không người biết đến, nhưng hễ thi đậu một cái là cả thiên hạ đều biết tên. Cho nên Trần Tế Xương mới ngông nghênh khi thấy tên mình trên bảng vàng :
 Ông trông lên bảng thấy tên ông,

                  Ông tợp rượu vào ông nói ngông !…
    … Ý là chỉ mới đậu có Tú Tài thôi đó, chớ đậu cao hơn nữa thì ai chịu đời cho thấu với ông Tú Vị Xuyên đây ?!
        Nhà quyền qúy thì vào sân chầu đeo ngọc như ý, nhà giàu sang thì cửa sơn son thiếp vàng, nên khi gặp Kim, Kiều đã xem tướng mạo của chàng và bi quan cho số phận của mình như sau :
  Nàng rằng trộm liếc dung quang ,

               Chẳng sân Ngọc Bội cũng phường Kim Môn.

                    Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,

               Khuôn duyên biết có vuông tròn mà hay !?            Ngày xưa, nam thì trông công danh thi cử, nữ thì chỉ mơ ước được một tấm chồng có tình có nghĩa, mười hai bến nước trong nhờ đục chịu, nên khi bán mình và sau khi trối trăn với Thúy Vân xong, thì Kiều đã kêu lên trước khi ngất xỉu :
          Ôi Kim lang, hỡi Kim lang,               Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !

Image result for truyện kiều
Image result for truyện kiều

       Phận gái khi xưa, rất khó tìm được người thương mình thật sự, nên khi gặp gia biến phải bán thân và phải rời xa Kim Trọng, cô Kiều mới đau xót đến thế. Người xưa cũng thường nói :
               Dị cầu vô giá bảo,            易求無價寶,               Nan đắc hữu tình lang.     難得有情郎。Có nghĩa :           Vật báu dù vô giá đến đâu cũng dễ cầu để mà có được, còn …           Đàn ông thì khó mà tìm được một người có tình nghĩa và chung tình lắm !       Đàn ông xưa nay vốn nổi tiếng là “bạc tình” mà ! Nhất là đàn ông Á Đông với truyền thống năm thê bảy thiếp, thì làm sao có thể chung tình cho được.
       Kim Lang 金郎 là Chàng Kim, là chàng Kim Trọng 金重, mà chữ Kim 金 ghép với chữ Trọng 重 là chữ CHUNG 鍾, nên khi thất thân với Mã Giám Sinh, cô Kiều đã than rằng :
 Biết thân đến bước lạc loài,

                Nhụy đào thà bẻ cho người tình CHUNG.      Sao cô không nói :                Nhụy đào thà bẻ cho người tình LANG.      hay … Nhụy đào thà bẻ cho người tình XA …v.v. và…v.v. mà phải là “người tình CHUNG” ? À, thì ra cụ Nguyễn Du nhà ta đang chơi chữ một cách rất tài tình, vì “người tình CHUNG 鍾” là ” người tình tên KIM TRỌNG 金重 ! Không phải là tôi cố bới lông tìm vết để … bóc thơm cụ Nguyễn Du, cũng không phải cụ Nguyễn Du ngáp phải ruồi mà sử dụng đúng từ CHUNG 鍾 là tên của KIM TRỌNG 金重, mà nói có sách mách có chứng đàng hoàng :
 Cuối đời nhà Minh, có một thư sinh họ Cổ tên Tấn, ở đảo Hải Nam lai kinh ứng thí. Khi đi đến Quế Lâm, nơi nổi tiếng với bún gạo thật ngon, vì là thư sinh nghèo phải ở trọ trong chùa, nên chỉ ăn ké được có bửa ngọ trai. Buổi chiều dạo ngang qua hàng bún gạo Quế Lâm thơm phức nhưng chỉ dám đứng nhìn mà thôi. Bất ngờ ông lão chủ quán thấy điệu bộ thèm thuồng của anh ta, bèn cất tiếng hỏi : “Này anh thư sinh, lão có một vế đối tả lại công việc hàng ngày của lão, nếu anh đối được, lão sẽ mời anh một tô bún khỏi trả tiền !” Cổ Sinh khẩn khoản xin vế đối, Ông lão chủ quán bèn đọc là :               Bát đao phân mễ phấn,        八刀分米粉,
      Mễ Phấn 米粉 là Bột Gạo, mà cũng có nghĩa là Bún Gạo nữa, nên vế  đối trên có nghĩa : Xắt tám dao để chia bún gạo ra thành từng sợi. Câu đối mới nghe tưởng dễ, chừng nhẫm đọc lại anh chàng Cổ sinh mới tá hỏa, vì chữ Bát 八 chồng lên chữ Đao 刀 thành chữ Phân 分, mà chữ Phân 分 ghép với chữ Mễ 米 thì thành chữ Phấn 粉 là Bột. Vế ra qúa hay và qúa hóc búa . Còn đang ngồi thừ ra đó để suy nghĩ, thì ông lão chủ quán đã nấu xong tô bún gạo thơm phức mang tới và cười bảo : ” Ăn trước cho no bụng đi, rồi thủng thẳng hãy đối cũng chưa muộn, không sao đâu !”. Vừa thẹn vừa ngỡ ngàng nhưng bụng đói qúa, anh chàng thư sinh đành cắm đầu ăn hết tô bún, nói lời cám ơn rồi đi riết về chùa. Nằm bên mái hiên chùa trằn trọc mãi không sao ngủ được. Trăn trở đến nửa đêm bỗng nghe trên chánh điện vang lên một tiếng “Boong” thật lớn, chạy lên xem, thì ra một chú mèo ăn đêm làm rơi một miếng ngói rớt trúng qủa chuông vàng trên chánh điện. Cổ Sinh như chợt tỉnh ngộ ra, mình từ ngàn dặm đi thi mới đến được đây để nghe tiếng chuông vàng nầy, bèn ứng khẩu đọc ra vế đối : Thiên lý trọng kim chung 千里重金鍾, có nghĩa : “Ngàn dặm đến đây để trân trọng tiếng chuông vàng nầy”. Hôm sau, vừa sáng sớm, Cổ Sinh bèn tươi cười ra gặp ông lão chủ quán mà đọc rằng:                Bát đao phân mễ phấn,        八刀分米粉,                Thiên lý trọng kim chung.     千里重金鍾.

       Ông lão nghe xong vế đối, bèn nấu bưng ra một tô bún gạo Quế Lâm thơm phức để đãi chàng thư sinh tài hoa, vì vế đối qúa hay : Chữ Thiên 千 chồng lên trên chữ Lý 里 thành chữ Trọng 重, chữ Trọng 重 ghép với chữ Kim 金 thành chữ Chung 鍾 là Cái Chuông. Và cũng vì thế mà ta mới có được 2 câu thơ tuyệt vời của cụ Nguyễn Du để cho cô Kiều nuối tiếc khi phải thất thân với Mã Giám Sinh :           Biết thân đến bước lạc loài,                     Nhụy đào thà bẻ cho người tình CHUNG.
Inline image
                                       Bún gạo Quế Lâm

       Để kể chuyện cho có hậu, kính mời đọc tiếp phần cuối của câu truyện trên …
 … Sau khi ăn xong tô bún thưởng, ông chủ quán còn cho tiền lộ phí để Cổ Tấn lai kinh ứng thí. Khoa đó chàng đậu ngay Tiến Sĩ cập đệ, khi vinh quy bái tổ trở về ngang Quế Lâm, chàng ghé lại thăm và tạ ơn ông chủ quán, mới biết ông cụ họ Trịnh, mấy đời đều sinh nhai bằng nghề làm và nấu bún gạo bán. Thấy hoàn cảnh ông cụ cũng neo đơn, Cổ Tiến bèn nhận ông làm nghĩa phụ và phụng dưỡng ông cụ suốt đời.    
         Theo âm dương ngũ hành thì Tây phương Canh Tân Kim, nên Vàng thuộc hướng Tây, gió hướng tây là gió mùa thu, nên còn được gọi là Kim Phong là Gió Vàng, như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mở đầu Cung Oán Ngâm Khúc bằng 2 câu :
 Trải vách quế Gió Vàng hiu hắt,

                   Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng.         Kim là Vàng, nhưng Kim Ngư 金魚 không phải là Cá Vàng, mà là Cá Thia Thia Tàu. Kim Ô 金烏 không phải là con quạ Vàng, mà là chỉ Mặt Trời, Ta thường nghe nói “Vầng Kim Ô vừa ló dạng”, có nghĩa là “Mặt trời vừa mới mọc”. Kim Kinh 金經 không phải là quyển sách vàng, mà là chỉ chung các quyển kinh Phật (có thể là do từ Kim Cang Kinh mà ra). Kim Liên 金蓮 không phải là hoa sen vàng, mà là chỉ các gót sen nhỏ nhắn dễ thương của các bà các cô ngày xưa với : Tam thốn Kim Liên tứ thốn yêu 三寸金蓮四寸腰, có nghĩa là : “Ba tấc gót sen bốn tấc eo” mà thôi. Trong Kiều tả lúc cô Kiều đi tìm Kim Trọng sau khi “Thời trân thức thức sẵn bày” thì …
Gót Sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.
…và khi tả hồn ma Đạm Tiên đến báo mộng cho Kiều, cụ Nguyễn Du cũng viết :

                     Sương in mặt tuyết pha thân,

                Sen Vàng lãng đãng như gần như xa !…
       Kim Hầu 金猴 Không phải là con khỉ vàng, mà là con khỉ mặt xanh có bộ lông vàng lắp lánh. Kim Khẩu 金口 Không phải là cái miệng bằng vàng, mà là chỉ cái miệng của những người quyền quý, ngày xưa dùng để chỉ cái miệng của ông vua, còn trong văn thơ Tiền Chiến nhà thơ Xuân Diệu dùng để  chỉ cái miệng của những người  đẹp :
Mở miệng vàng… và hãy nói yêu tôi…
                 Dẫu chỉ là trong một phút mà thôi…

        Kim Lan 金蘭 Không phải chỉ hoa lan bằng vàng, mà chỉ tình bạn bè gắn bó, có xuất xứ từ kinh “Chu Dịch-Hệ Từ thượng” : Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn KIM; Đồng tâm chi ngôn, kỳ khứu như LAN《周易·系辞上》:“二人同心,其利断金;同心之言,其嗅如兰”。Có nghĩa :        Theo Hệ Từ thượng của kinh Chu Dịch có câu : Hai người cùng đồng lòng thì cái lợi (sự bén nhọn) có thể làm đứt KIM loại; Những lời nói đồng lòng thì có mùi thơm như hoa LAN. Nên … Kết nghĩa Kim Lan 結義金蘭 là hai người bạn thề cùng đồng tâm hiệp lực, sống chết có nhau như anh em ruột thịt. Ta có thành ngữ Kim Lan Chi Giao 金蘭之交 cũng đồng nghĩa với …       Kim Thạch Chi Giao 金石之交 : Kim là Kim loại rắn chắc không đổi màu; Thạch là Đá, cứng ngắt và bền vững. Nên Kim Thạch Chi Giao là sự giao tình bền vững và rắn chắc như vàng như đá vậy. Tương tự ta có thành ngữ …       Kim Thạch Chi Ngôn 金石之言 : là lời nói hoặc lời hứa chắc chắn như vàng như đá không hề thay đổi. Ta nói là Những lời vàng đá hoặc đá vàng, là những lời nói “Chắc như đá, vững như vàng”, của trai gái dùng để hứa hẹn thề thốt khi yêu nhau, như khi Kim Trọng tỏ tình trong cảnh “Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng” thì cô Kiều cũng nhận lời bằng câu đổ thừa rằng :
 Đã lòng quân tử đa mang,

                Một lời vâng tạc ĐÁ VÀNG thủy chung !… và kịp đến khi “Trên hai đường với cùng là hai em, Tưng bừng sắm sửa áo xiêm” để mừng sinh nhật ngoại gia, để lại có một mình Thúy Kiều ở nhà, nên nàng mới hẹn ước để gặp chàng. Trai đơn gái chiếc trong đêm thanh vắng, nên khi ” Sóng tình dường đã xiêu xiêu, Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” Nàng mới stop chàng lại bằng chuyện tình dưới Mái Tây :
 Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

                 Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương,

                       Mây mưa đánh đổ ĐÁ VÀNG,

                 Qúa chìu nên đã chán chường yến anh !

Inline image

              
 khi Thúc Sinh muốn chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, cô kiều lo cho thân phải làm lẻ mọn của mình, lại sợ Thúc Ông chê mình là ” liễu ngõ hoa tường” rồi ” lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh“, thì chàng Thúc đã vổ ngực nói là :
    Đường xa chớ ngại Ngô Lào,
                   Trăm điều hãy cứ trông vào một ta .
                         Đã gần chi có điều xa ?
                ĐÁ VÀNG đã quyết phong ba cũng liều !

                 … và khi Kim Trọng trở lại vườn Thúy để tìm Kiều, chàng cũng đã nói với Vương Ông là :
   Rằng: Tôi trót quá chân ra,

                  Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo.

                       Cùng nhau thề thốt đã nhiều,                 Những điều VÀNG ĐÁ phải điều nói không!

       Đá Vàng là Vàng Đá là Kim Thạch, là biểu tượng của Rắn chắc và Bền vững. Nhưng nhắc đến Kim Thạch lại làm cho ta nhớ đến vở tuồng KIM THẠCH KỲ DUYÊN của Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa kể lại chuyện tình của 2 họ Kim và họ Thạch nhằm đề cao Trung hiếu tiết nghĩa của người đời.       Ngoài Duyên Kim Thạch, ta còn có Duyên Kim Cải do thành ngữ Châm Giới Tương Đầu 針芥相投, có xuất xứ từ câu nói trong Tam Quốc Chí là “Từ thạch dẫn châm, Hổ phách thập giới 磁石引针,琥珀拾芥”。Có nghĩa : Đá nam châm hút kim loại, cón hổ phách thì hút hạt cải; Ý chỉ thứ nào thì hút theo thứ đó, tình đầu thì ý hợp, như trai gái, vợ chồng gắn bó khắng khít với nhau vậy. Trong truyện Nôm Quan Âm Thị Kính tả lại mong ước của Thị Kính khi lấy chồng là Thiện Sĩ có câu :
 Kể từ Kim Cải duyên ưa,.
                   Đằng leo cây bách mong chờ về sau.

Inline image

        Trong Kiều tả lúc Kiều bán mình chuộc cha, Vương Viên Ngoại cũng vì nàng mà than oán :
  Vì ai rụng Cải rơi Kim,

                 Để con bèo nổi mây chìm vì ai ?!
…. và lúc Kim Kiều tái hợp, trong buổi tiệc đoàn viên, khi “Tàng tàng chén cúc dở say” Thúy Vân cũng đã nói lẫy :
  Gặp cơn bình địa ba đào

                Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.Cũng là phận Cải duyên Kim,

                Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao !…              
        Nhưng, trong Phật Giáo thành ngữ Châm Giới Tương Đầu 針芥相投, là Duyên kim cải theo kinh Phật, ý nói hột cải ném ra ghim trúng đầu mũi kim, là một chuyện khó xảy ra. Nhà thiền mượn cụm từ này để chỉ thầy trò nhân duyên tương hợp, ăn khớp với nhau thật đặc biệt hiếm thấy. Tiểu truyện Thiền Sư Tĩnh Lực trong kinh TUTA ghi : Du học thì, ngộ Tiên Du Đạo Huệ, châm giới tương đầu, thê tâm Phật địa 遊學時遇仙遊道惠針芥相投棲心佛地。Có nghĩa : Khi du học, sư được gặp thiền sư Đạo Huệ ở Tiên Du, thầy trò nhân duyên tương  hợp một cách thật đặc biệt hiếm thấy, bèn dốc lòng nương nhờ đất Phật.
        Kim là Hoàng Kim 黃金, là Vàng ròng mà người đời trân qúy nhất, nên Thời Đại Hoàng Kim 黃金時代 là khoảng thời gian rực rỡ nhất thành công nhất trong đời của một người, trong sự nghiệp tiến hóa của một dân tộc, trong một giai đoạn lịch sử huy hoàng nhất của bất cứ quốc gia dân tộc nào trên thế giới nầy. Thời đại hoàng kim là vang bóng một thời của dĩ vãng, là rực rỡ huy hoàng của hiện tại, là kỳ vọng vươn tới của tương lai. Mỗi người đều có thời đại hoàng kim của riêng mình, nên phải biết trân trọng, lợi dụng và kiến tạo riêng cho mình một thời đại hoàng kim mà người khác không sao có được !

        Kim còn là Tiền, Hiện Kim 現金 là Tiền mặt. Nguyệt Kim hay Tân Kim 薪金 là Tiền lương hàng tháng. Chức Kim 職金 là Tiền trả cho chức vụ đảm nhiệm.. Dưỡng Kim 養金 là Tiền cấp dưỡng nuôi nấng. Bảo Kim 保金 là Tiền Bảo trợ hay Bảo đãm việc gì đó. Tư Kim 私金 là Tiền của riêng tư. Mỹ Kim 美金 là tiền “Đô”, tiền của nước Mỹ mà ai cũng thích cả …
Inline image                                        Mỹ Kim             Hiện Kim 
     Kim là Vàng, là tượng trưng cho những gì cao qúy, hiếm hoi hay được mọi người chiêm ngưỡng trọng vọng như Kim Thân 金身của đức Phật, là tượng Phật được thiếp vàng. Kim Bài 金牌 là cái Huy chương Vàng cho hạng Nhất; Kim Bài còn là những khuôn có chữ vàng lộng kiếng để mừng sinh nhật, tân gia … Ngày xưa, Kim Bài còn là những lệnh bài của vua ban ra, nhất là những tấm “Miễn Tử Kim Bài 免死金牌” dành cho những người có công to với triều đình thì vừa qúy giá vừa hãnh diện biết bao. Kim Hôn 金婚 là chỉ những cặp vợ chồng kết hôn và chung sống với nhau 50 năm mà vẫn còn đủ cả 2 người, còn được gọi là Kim Khánh 金慶 hay “Kim Giai Ngẫu 金佳偶 là Cặp Đôi Vàng”. Kim Long 金龍 là Rồng Vàng, con vật thần thoại tượng trưng cho vua chúa thời phong kiến, chỉ có vua mới được mặc áo thêu hình Kim Long mà thôi. Ở cạnh cố đô Huế, không ai không biết đến bến đò Kim Long qua câu dân ca nổi tiếng :
Thuyền về Đại Lược,

                         Duyên ngược Kim Long.

                       Đến đây là ngã rẽ của lòng,

                  Gặp nhau còn biết trên sông bến nào ?… các cô gái Huế dễ thương đã đổi lại 2 câu chót như sau :
Đến đây là ngã rẽ của lòng,               Biết nơi mô bến đục, bến trong cho em nhờ !                               Kim Qui 金龜 là Rùa Vàng, tượng trưng cho sự phú qúy. Theo Tân Đường Thư-Xa phục chí 新唐書·車服志 có ghi lại :          Đời sơ Đường, nội ngoại quan viên từ ngũ phẩm trở lên đều phải đeo túi thêu hình cá, gọi là Ngư Đại 魚袋. Đến đời Võ Tắc Thiên mới đổi hình cá thành hình rùa, gọi là Qui Đại 龜袋.. Từ tam phẩm trở lên thì thêu bằng chỉ màu vàng kim, tứ phẩm màu bạc và ngũ phẩm màu đồng. Nên Kim Qui tượng trưng cho quan quyền phú qúi, từ Kim Qui Tế 金龜婿 còn dùng để chỉ chàng rể hoặc chồng có thân phận cao qúi giàu sang. Như trong bài thơ Vị Hữu 爲有 của Lý Thương Ẩn 李商隱 sau đây :                Vị hữu vân bình vô hạn kiều ,           爲有雲屏無限嬌,
                Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu. 鳳城寒盡怕春宵.
                Vô đoan giá đắc Kim Qui tế ,            無端嫁得金亀婿,
                Cô phụ hương khâm sự tảo triều  .   辜負香衾事早朝.Có nghĩa :         Vì có bức bình phong vẽ mây ngũ sắc đẹp vô vàn, nên ở đất Kinh thành nầy lúc cuối đông hết lạnh, lại thấy lo sợ cho những đêm xuân, vì  khi khổng khi không lại lấy phải ông chồng làm quan lớn thế nầy, nên chi sáng xuân (là thời khắc mặn nồng nhất của đôi lứa) ông ta lại phụ rãi bỏ mặc nệm ấm chăn êm thơm phức để đi chầu Vua mỗi buổi sáng sớm !

Inline image

Diễn Nôm :
 Bình phong đẹp đẽ yêu kiều
                Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài
                Vô duyên lấy phải quan ngài
                Gối chăn bỏ hết mặc ai,… đi chầu !

       Kim Qui Tế của thời buổi hiện nay là các chàng kỹ sư, bác sĩ, các thương gia, đại gia … lắm tiền nhiều của !
      Còn ở Việt Nam ta thì Kim Qui là vị thần khả kính trên hồ Hoàn Kiếm, đã tặng gươm thần cho Lê Lợi đứng lên khởi nghĩa ở Lam Sơn, dựng nên nhà Hậu Lê. Trong bài thơ Nước Tôi của nhà thơ Nguyễn Văn Cổn thời tiền chiến có câu hỏi ví von như sau :
  Rùa thiêng nổi trước thuyền rồng,

                   Trên hồ Hoàn Kiếm anh hùng là ai ?… và trong một vế thơ sau, ông đã xác định là :                  Gươm thần Lê Lợi ghi thiên anh hùng !

       Kim Tháp 金塔 là cái tháp bằng vàng, mà cũng là tên riêng của thành phố Phnom-Penh, còn được gọi là Kim Biên 金邊, Nam- Vang thủ đô của nước Cambodia mà ta quen gọi là xứ Chùa Tháp, vì các tháp chùa ở đây thường được dát vàng nên mới có tên là Kim Tháp. Nếu thêm vào giữa từ Kim Tháp một chữ Tự, thì ta sẽ có …
      KIM TỰ THÁP 金字塔 là những cái tháp khổng lồ đầy bí ẩn của Ai Cập có hình dáng giống như chữ Kim 金 mà thành tên. Đến năm 2008, có tất cả 138 Kim Tự Tháp được khám phá, hầu hết là các lăng mộ của các vua (Pharaon) và hoàng hậu Ai Cập, trong hai thời kỳ Cổ Vương Quốc và Trung Vương Quốc ( từ 2630 – 2611 trước Công Nguyên).

Inline image

        Các thành ngữ có liên quan đến chữ Kim thì rất nhiều, ta chỉ điểm qua các thành ngữ thường thấy mà thôi. Nhớ hồi nhỏ đọc các Truyện Tàu như Tiết Nhân Qúi Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây, La Thông Tảo Bắc, Thuyết Đường Diễn Nghĩa … hay gặp thành ngữ “Minh Kim Thu Binh 鳴金收兵” mà không hiểu là nghĩa gì. Sau học lõm bõm chữ Nho mới biết Minh Kim 鳴金 là “Làm cho kim loại kêu lên”, có nghĩa Gỏ kẻng, gỏ chiêng hay gỏ phèng-la để thâu binh về. Nghề võ thì có thế Kim Kê Độc Lập 金雞獨立, một chiêu thức võ công độc đáo, đứng thẳng một chân với nhiều tư thế, hai tay cung ra hai bên với nhiều điệu bộ khác nhau. Đây cũng là một chiêu thức của môn Thái Cực Quyền, đồng thời cũng là một phương pháp dưỡng sinh độc đáo có một không hai để phòng ngừa các bệnh như Tiểu đường, Cao huyết áp, Mất trí nhớ …
         Cuối Truyện Kiều được kết thúc bằng một thành ngữ có từ  KIM rất có hậu, đó là khi Kim Trọng thi đậu làm quan đã nhớ đến Thúy Kiều :
    Ấy ai dặn ngọc thề vàng,
               Bây giờ KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG với ai ?!

        KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG 金馬玉堂, thành ngữ có xuất xứ từ đời Hán. KIM MÃ là KIM MÃ MÔN, là Cửa Kim Mã, nơi mà các Học Sĩ đợi chiếu chỉ của nhà vua ban xuống. NGỌC ĐƯỜNG là NGỌC ĐƯỜNG ĐIỆN, nơi nghị sự của các Học Sĩ, là Hàn Lâm Viện của các Hàn Lâm Học Sĩ. Thành ngữ Kim Mã Ngọc Đường dùng để chỉ sự đổ đạt vinh hiển làm quan, đắc ý vì công thành danh toại.              Nhất Tiếu Thiên Kim 一笑千金, cười một cái giá đáng ngàn vàng. Có xuất xứ ở đời Hán, từ câu nói “Thôi Nhân -Thất Y”: Hồi cố bách vạn, nhất tiếu thiên kim 回顾百万,一笑千金. Có nghĩa : Quay nhìn một cái giá đáng trăm vạn, Mĩn cười một cái giá đáng ngàn vàng. Trong Truyện Kiều, khi đã rước được cô Kiều về đến “trú phường”, Mã Giám Sinh đã ngầm đánh giá nàng Kiều :
   Đã nên quốc sắc thiên hương,

                Một Cười này hẵn Ngàn Vàng chẳng ngoa.

                       Về đây nước trước bẻ hoa,

                Vương tôn qúi khách ắt là đua nhau !…… Qủa nhiên gặp phải Thúc Sinh là tay ăn chơi bạt mạng :
     Thúc Sinh quen thói bốc rời,

                  Trăm nghìn đổ một trận cười như không !Inline image

       Nhất Khắc Thiên Kim 一刻千金, là Một khắc giá đáng ngàn vàng. Có xuất xứ từ câu thơ đầu tiên trong bài thơ Xuân Dạ 春夜 (Đêm Xuân) của Tô Đông Pha đời Tống như sau :              春宵一刻值千金      Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kimCó nghĩa :           Đêm xuân một khắc giá đáng ngàn vàng.       Ý của Tô Đông Pha là đêm xuân khí trời êm ả trong mát, thanh tịnh, khiến con người cảm thấy thoải mái dễ chịu … Nhưng sau nầy người ta thường hiểu nghĩa của câu nói với một ý khác hẵn ý của Tô Đông Pha lúc ban đầu.
       Kim Ngọc Mãn Đường 金玉滿堂 là Vàng ngọc đầy nhà, là câu nói chúc phúc thường được dán trên các bàn thờ vào dịp Tết Nguyên Đán để cầu mong cho năm mới giàu sang sung túc. Ai cũng ao ước có được thật nhiều vàng ngọc, nên ta còn có thành ngữ …         Điểm Thạch Vi Kim 點石為金 là chỉ đá hóa vàng, theo như tích sau đây :
  Xưa có một người rất nghèo khổ, nhưng lại rất tin tưởng và thờ phượng Lữ Tổ 呂祖, tức là Lữ Thuần Dương Tổ Sư 呂純陽祖師 Lữ Động Tân 呂洞賓, là một trong những tổ sư của Đạo Giáo. Cảm vì lòng thành của anh ta, nên một hôm, Lữ Tổ hiện ra, thấy cảnh nhà tiêu điều nghèo khổ, động lòng thương xót, mới chỉ vào tảng đá trước sân nhà, trong một thoáng, tảng đá bỗng hóa thành vàng rực rỡ, đoạn quay sang hỏi anh ta : “Cho anh  tảng vàng này, anh có thích không ?”. Người kia lạy phục dưới đất đáp rằng :”Không thích !”. Lữ Tổ rất cảm động bảo rằng :”Khá lắm, anh không có lòng tham lam, thật qúy hóa vô cùng, ta sẽ truyền đạo pháp cho anh tu tập !” Người kia đáp : “Không phải thế, tôi chỉ muốn xin ông cho tôi cái ngón tay chỉ đá hoá vàng của ông mà thôi !”. Lữ Tổ nghe xong, giật mình biến mất.

Inline image

      Lòng tham của con người qủa là không đáy, khiến thần tiên cũng phải hoảng sợ. Tảng vàng tuy to lớn nhưng xài lâu thì cũng hết, chỉ có “ngón tay chỉ đá hóa vàng” là không bao giờ hết vàng được mà thôi ! Vì tích nầy mà ngạn ngữ lại có câu : “Chỉ thạch hóa vi kim, nhân tâm do vị túc 指石化為金,人心猶未足。Có nghĩa : Chỉ đá hóa ra vàng mà lòng người còn chưa thấy đủ !“.

      Kim Thiền Thoát Xác 金蟬脫殼, là Ve sầu lột xác, là kế thứ 21 trong 36 kế theo binh pháp ngày xưa : Để nguyên doanh trại, để nguyên cờ xí rực rỡ, rồi âm thầm rút lui. Đến lúc quân địch biết được thì quân ta đã đi xa rồi, như ve sầu đã lột xác, chỉ để lại cái xác không mà thôi. 36 kế còn gọi là 36 chước, mà chước cuối cùng là bỏ trốn, như Sở Khanh đã dụ Thúy Kiều :
 Thừa cơ lẻn bước ra đi,

                Ba mươi sáu chước chước gì là hơn ?!            Kim Cốc Tửu Số 金谷酒數 là số rượu ở Kim Cốc, có xuất xứ từ bài Tự của Lý Bạch : Xuân Dạ Yến Đào Lý Viên Tự 春夜宴桃李園序, câu cuối của bài tự là : Như thi bất thành, phạt y Kim cốc tửu số 如詩不成,罰依金谷酒數. có nghĩa : Nếu thơ làm không xong, thì sẽ bị phạt theo số rượu ở Kim Cốc. Kim Cốc Viên là vườn nhà của cự phú Thạch Sùng đời Tấn, luôn có yến tiệc chiêu đãi tao nhân mặc khách. Nếu trong tiệc, ai không làm được thơ thì sẽ bị phạt uống ba đấu rượu. Cho nên Kim Cốc Tửu Số là 3 đấu rượu, 3 chung rượu hay 3 ly rượu như ngày nay trong tiệc rượu ta hay phạt những người đến trễ vậy ! Các bợm nhậu quê tôi thường phạt nhau bằng câu thiệu sau đây : Vô cửa “bửa” một ly; ngồi xuống “uống” một ly và gắp mồi “bồi” một ly nữa là đúng 3 ly, như Lý Bạch đã nói :
              三杯通大道,   Tam bôi thông đại đạo,              一斗合自然。   Nhất đấu hợp tự nhiên.
              但得酒中趣,   Đản đắc tửu trung thú,              勿為醒者傳。   Vật vi tỉnh giả truyền ! Có nghĩa :                 Ba ly khai thông đạo lớn,

                 Một đấu hợp lẽ tự nhiên.

                 Muốn được vui say trong rượu,

                 Đừng làm kẻ tỉnh huyên thuyên !

Inline image

   Vàng qúy giá thật, nhưng có những thứ còn qúy giá hơn vàng, đó chính là đàn ông, mà là đàn ông … hư  biết quay đầu trở lại . Các cụ Đồ Nho thường nhắc câu : Lãng tử hồi đầu kim bất hoán 浪子回頭金不換!Có nghĩa : Các chàng lãng tử giang hồ ăn chơi mút mùa, nếu chịu quay đầu làm lại cuộc đời thì … vàng cũng không thể đổi được ! Tại sao ? Thưa, vì các chàng đó đã quá rành qúa chán và qúa ngán với cảnh ăn chơi trác táng rồi, bây giờ chịu chí thú làm ăn sẽ không còn sợ bị cám dỗ và sa ngã nữa, sẽ dễ dàng làm nên sự nghiệp một cách vững chắc không sợ lung lay ! Nhưng dù sao thì bà con ta vẫn còn ngại câu “Ngựa quen đường cũ”…
        Chỉ có một thứ chắc chắn là vàng 24K hoặc vàng 4 số 9 cũng không mua nổi, đó chính là thời gian, như câu nói Nho sau đây :
               Nhất thốn quang âm nhất thốn kim,    一寸光陰一寸金,
               Thốn kim nan mãi thốn quang âm !     寸金難買寸光陰。
Có nghĩa :
 Một tấc thời gian là một tấc vàng, nhưng …
              Tấc vàng không thể mua được tấc thời gian !

Inline image

          

        Quang là Sáng, Âm là Tối; Sáng là Ban ngày, Tối là Ban đêm; hết sáng đến tối, hết ngày tới đêm. Nên Quang Âm là Ngày đêm là thời gian, mà thời gian đã qua đi rồi thì không bao giờ còn có thể trở lại được. Ta chỉ có thể quay ngược được kim đồng hồ, chớ không thể quay ngược được thời gian trở về với qúa vãng. Trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu khuyên rằng :
              Thiếu tráng bất nổ lực,     少壯不努力,
              Lão đại đồ bi thường !      老大徒悲傷。
Có nghĩa :
              Còn trẻ còn khoẻ mà không biết cố gắng, đến …
              Khi lớn khi già rồi có tiếc thương thì cũng vô ích mà thôi !
        Mong rằng tất cả các bạn trẻ, bạn già … đều phải nên trân trọng cái “thời gian” mà ta “còn” có được, vì “nó” qúy hơn VÀNG !

                                                                                      杜紹德                                                                                  Đỗ Chiêu Đức   

To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/daihocsupham-vankhoasg/554842121.12003032.1724622968323%40mail.yahoo.com.

4 attachments — Download all attachmentsView all images

1686575404853blob.jpg
197K View Download
1686575715894blob.jpg
173K View Download
1686580350718blob.jpg
133K View Download
1686574796313blob.jpg
141K View Download

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Tạp Ghi và Phiếm Luận :                                        MỘC là CÂY

                             Inline image

       Theo âm dương ngũ hành thì Đông phương Giáp Ất Mộc. Nên hành Mộc thuộc hướng đông. Mộc 木 là tên gọi chung của tất cả cây cỏ lá hoa, nên ta lại có từ Thảo Mộc 草木 để chỉ chung cho các loài thực vật. Cỏ cây hoa lá sinh sôi nẩy nở được là nhờ ánh nắng của ba tháng mùa xuân, nên ông bà ta lại có câu :

                  Hướng dương hoa mộc tảo phùng xuân       向陽花木早逢春
Có nghĩa :
             Hoa cỏ nào hướng về ánh nắng mặt trời thì sẽ đón nhận mùa xuân sớm ngay từ tia nắng ban đầu của mùa xuân !

     Mộc là Cây cỏ thực vật có hình dáng hẵn hoi, nên chữ Mộc cũng thuộc dạng chữ Tượng Hình theo diễn tiến của chữ viết như sau : Giáp Cốt Văn        Kim Văn           Đại Triện             Tiểu Triện          Lệ Thư

甲骨文金文金文大篆小篆繁体隶书

Ta thấy :
    Từ Giáp Cốt Văn cho đến Kim Văn và Đại Triện đều là hình vẽ của một cây con có hai lá mầm đưa lên trên và hai nhánh rể ăn xuống dưới; cho đến Tiểu Triện thì các nét vẽ được nối lại cho liền lạc và khi đến chữ Lệ thì các nét đã được kéo thẳng ra thành các biểu tượng của chữ viết như ngày hôm nay : MỘC 木 là Cây Cối.

     MỘC 木 còn là Kiều Mộc 喬木 là loại cây có thân cao to thẳng đứng. Chương Chu Nam trong Kinh Thi có bài :
                        南有乔木,     Nam hữu kiều mộc,
                        不可休思.       Bất khả hưu tư.
Có nghĩa :
              Phía nam có cây kiều mộc, mà…
              Ta không thể nghỉ ngơi dưới cây nầy được !

      Kiều Mộc là cây cao bóng cả, tại sao lại không thể hóng mát dưới cây được ? À thì ra còn hai câu sau nữa :
                       漢有游女,     Hán hữu du nữ,
                       不可求思。     Bất khả cầu tư.
Có nghĩa :
           Bên dòng sông Hán có cô gái đang bơi lội trên đó, mà ta không thể cầu xin nhớ nhung được ( Ý nói : Không thể tỏ tình để yêu nàng được ).

     Xin được diễn Nôm bài Kinh Thi đó theo Ca dao của ta như sau :

          Phía nam cao ngất có cây,
                 Ta không thể hóng mát ngay dưới tàn.
                        Bên sông Hán thủy có nàng,
                 Thầm thương trộm nhớ ai màng đến ta !

Inline image

        Người mà chàng yêu dấu, có thể gặp mà không thể cầu. Đối tượng mà chàng trai theo đuổi chẳng ở đâu xa, chỉ ở bên kia sông thôi, có thể nhìn thấy nàng nhưng không thể tiếp cận với nàng được, chỉ mãi mãi tương tư tưởng nhớ về nàng và biết sẽ mãi mãi không bao giờ có được nàng. Vì sao ? thì người đọc tự suy diễn và tự hiểu lấy !

       Ngoài Kiều Mộc 喬木 ra, ta còn có từ Cù Mộc 樛木, cũng là một loại cây to nhưng thân uốn lượn bên dưới thẳng bên trên, cành lá xum xuê như cây sồi, cây da… Chương Chu Nam Quốc Phong trong Kinh Thi cũng có bài :

                     南有樛木,    Nam hữu cù mộc,
                     葛藟累之。    Cát lũy luy chi.
                     乐只君子,    Lạc chỉ quân tử,
                     福履绥之。    Phúc lý tuy chi.

Có nghĩa :
Phương nam cù mộc một cây,
                Kóc kèn bìm bịp mọc đầy leo quanh.
                     Vui thay quân tử chí thành,
                Trên hòa dưới thuận yên lành tề gia.

      Cù Mộc cũng là cây cao bóng cả, chỉ người chồng và vợ lớn, còn Cát Lũy 葛藟 là Dây sắn, dây bìm bịp, kóc kèn leo quanh cây Cù Mộc, được ví như vợ bé vợ mọn. Cô Kiều đã mượn ý nầy để ví với thân phận lẻ mọn của mình khi về với Thúc Sinh là :

 Sắn Bìm chút phận con con,
                Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?

và…
       Khi khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư là vợ cả, cô Kiều cũng đã biết thân biết phận của mình mà nói với Thúc đừng có :

Mặn tình Cát Lũy, nhạt tình tào khang.

      Trong đoạn kết của Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du lại mượn hình tượng của cây Cù Mộc để ví với cái gia đình vinh hiển của Kim Trọng là :

                       Thừa gia chẳng hết nàng Vân
                    Một cây Cù-Mộc, một sân quế hòe, 


  
   Một sân Quế Hòe chỉ Thúy Vân sanh nhiều con trai và đều thành đạt.

     Trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng cho nàng cung nữ ngao ngán cho cái thân phận phải chờ đợi của mình là :

  Ngán thay cái én ba nghìn,
                  Một cây Cù-Mộc biết chen cành nào ?

Image result for 南有樛木 葛藟纍之
Inline image

    Mộc 木 là Cây, nhưng song mộc liền nhau thì không phải là Cây nữa mà là LÂM 林 là Rừng, theo như câu nói của các ông Đồ Nho ngày xưa :

                  Song mộc thành lâm        雙木成林
   và…
                  Tam mộc thành sâm        三木成森
Có nghĩa :
             Ba cây chồng lên nhau là Rừng Rậm.

   Nên…
                 Độc mộc bất thành lâm      獨木不成林
Có nghĩa :
               Một cây thì không thành rừng được.

như ông bà ta đã nói :
        Một cây làm chẳng nên non,
                  Ba cây chụm lại nên… hòn núi cao.

      Nhưng trong chữ Nho thì có tới… 5 cây lận, 5 chữ Mộc ghép lại thành một Từ. Đó là từ :
SÂM LÂM 森林 : có nghĩa là Rừng Rậm, rừng thẳm âm u che khuất cả ánh sáng mặt trời, như câu hát mở đầu bài “Chiều Trong Rừng Thẳm” của tác giả Anh Việt :

Trong rừng xa vắng âm u nhuộm ánh sương mờ…

Tiếng gió rít lên . . . ngàn cây xác xơ…

… làm cho tôi nhớ lại hồi nhỏ hay nghe các cô chú lớn tuổi hơn sửa lời hát lại thành :

  Cô mười cô chín hai cô anh muốn cô nào?
                Lén lén dắt đi… đừng cho má nó hay !…

      Mộc 木 là Cây, Nhưng nếu ghép với bộ Nhân 亻 là Người ở bên trái thì đọc là HƯU 休 theo phép Hội Ý là Người đứng hay ngồi dựa vào cây, nên có nghĩa là Nghỉ Ngơi. Từ đó ta có các nghĩa phát sinh là Hưu Trí, về Hưu, nghỉ Hưu …

Inline image

  Hình tượng của chữ HƯU là Nghỉ ngơi

        Mộc 木 là Cây, Nhưng nếu thêm một nét ngang ngắn phía trên để chỉ phần ngọn, thì đọc là VỊ 未, có nghĩa là CHƯA, chỉ phần cây còn chưa lớn. Vị Ngộ 未遇 là Chưa gặp, ý chỉ Chưa gặp thời, như một câu trong bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ là :

 Lúc Vị Ngộ hối tàng nơi bồng tất
có nghĩa là :
        Khi chưa gặp thời còn ở ẩn trong gian nhà cỏ. Và ta lại nhớ đến câu thơ của La Ẩn là :

                 Ngã Vị công thành khanh Vị giá         我未功成卿未嫁
là….
                 Ta Chưa đậu đạt nàng Chưa gả !

       Nhưng nếu nét ngang ngắn nằm ở phía dưới nét ngang dài, thì ta có chữ MẠT 末, có nghĩa là Cuối, là Tận Cùng. Như Mạt Lộ 末路 là Cuối đường, là cùng đường. Anh Hùng Mạt Lộ 英雄末路 là Anh hùng đã đến bước đường cùng. Từ đó ta có các từ phát sinh như Lê Mạt là Cuối đời Lê; Mạt Vận là Vận cùng, là Hết Thời rồi….

Và…
       Nếu trên đầu chữ MỘC 木 có thêm một nét phẩy về phía bên trái như một bông lúa trổ nặng oằn đầu xuống 禾, thì đọc là HÒA, có nghĩa là Cây Lúa, như ông bà xưa đã dạy :

                   Học giả như HÒA như đạo,         學者如禾如稻,
                   Bất học giả như cảo như thảo.   不學者如稿如草,
có nghĩa :
     Người có học thì như Cây Lúa, hạt lúa, còn…
     Người không có học thì như cọng rơm cọng cỏ.

    Cây lúa hạt lúa nuôi sống con người thì giá trị cao hơn là cọng cỏ cọng rơm chỉ nuôi sống có trâu bò mà thôi !

Inline image

              VỊ là Chưa                     MẠT là Cuối                     HÒA là Cây Lúa

       Ngoài ra, nếu phía dưới phần rể của  Mộc 木 là Cây có thêm một nét ngang ngắn nữa, thì đọc là BỔN 本, có nghĩa là Cái Gốc cây, cái Cội Cây, như ông cha ta đã dạy :

                       MỘC BỔN Thủy Nguyên        木本水源
là…
                       Cây có cội, nước có nguồn.

Inline image

       Nên BỔN hiểu rộng ra là cái nguồn gốc, cái Vốn Liếng lúc ban đầu. BỔN là Tiền vốn, nên khi khai trương buôn bán hay khi Tết nhứt, giới thương buôn hay chúc nhau câu :

                      Nhứt BỔN vạn lợi               一本萬利
có nghĩa :
      Một đồng vốn, một muôn (mười ngàn) đồng lời ! Quả là tham lam quá độ, trong khi người Việt Nam ta chỉ chúc nhau có :

                      Một đồng Vốn Bốn đồng lời …  mà thôi !

     BỔN 本 là Vốn, cả đến khi dùng làm Phó Từ Bổn Lai 本來 cũng có nghĩa Vốn Dĩ, Vốn Là, như trong thành ngữ Bổn Lai Diện Mục 本來面目 : là Mặt Mũi Vốn Có, là Mặt mũi gốc, là Bộ mặt thật. Hai câu chót trong bài kệ : Bồ Đề bổn vô thọ, Minh kính diệc phi đài 菩提本無樹,明鏡亦非臺 của Lục Tổ Huệ Năng là:

                   BỔN LAI vô nhất vật,       本來無一物,
                   Hà xứ nhạ trần ai ?          何處惹塵埃 ?
Có nghĩa :

               Vốn dĩ không có vật gì cả, thì lấy chỗ nào để mà nhuốm bụi trần đây ?

       Mộc là cây, nhưng Mộc Nhĩ 木耳 không phải là Lổ Tai Cây, mà là Nấm Mèo, một loại nấm có hình dạng giống như là Lổ Tai của con mèo. Cũng như Mộc Ngư 木魚 không phải là Con cá bằng cây, mà là cái Mỏ của các nhà sư dùng để gỏ lốc cốc khi tụng kinh niệm Phật. Và Mộc Kê 木雞 không phải là Con gà gỗ, mà là Hình Dung Từ chỉ sự Ngẩn Ngơ như con gà bằng gỗ, đứng Đực ra một chỗ. MỘC NGẪU 木偶 : là Hình Cây, là con rối, có nghĩa như là Bù Nhìn, thường dùng để chỉ người không linh động, phải giựt dây mới nhúc nhích ! Còn đối với dân bợm nhậu thì ta có từ “Mộc Tồn”. Mộc Tồn 木存 không phải chỉ Cây Còn mà là chỉ… “Con Cầy”, một loại chó nhỏ như con chồn thịt rất ngon, nhậu rất bắt.

Inline image

               Mộc Nhĩ : Nấm mèo     Mộc Ngư : Cái mỏ     Mộc Tồn : Cây Còn là Con Cầy

       Mộc là Cây, nhưng cây cũng dùng để xẻ thành ván, nên Mộc cũng có nghĩa là Ván, như trong thành ngữ Mộc Dĩ Thành Chu 木已成舟. Ta nói là Ván Đã Đóng Thuyền, như trong lời nói của Vương Viên Ngoại an ủi Kim Trọng khi chàng trở lại Vườn Thúy tìm Kiều :

        Bây giờ Ván Đã Đóng Thuyền,
                   Đã đành phận bạc khôn đền tình chung.

      Nhưng cũng có những chiếc thuyền không cần phải đóng, chỉ khoét bọng thân cây lớn là ta đã có ngay một chiếc Thuyền Độc Mộc. Còn Cầu Độc Mộc thì chỉ cần một thân cây bắt ngang qua mương rạch là ta đã có ngay một Độc Mộc Kiều 獨木橋, với câu tục ngữ : “Anh đi đường cái quan của anh, còn tôi qua cầu độc mộc của tôi”.Ý chỉ việc ai nấy làm, không nên chen vào việc làm của người khác . Người Hoa nói là : Nễ tẩu nễ đích dương quan đạo, ngã qúa ngã đích độc mộc kiều 你走你的陽關道,我過我的獨木橋 ! Và như câu thơ đầu tiên của Thế Lữ trong bài “Giây Phút Chạnh Lòng” :

                     Anh đi đường anh, tôi đường tôi,

                        Tình nghĩa đôi ta có thế thôi !…

     Mộc còn là tên gọi chung cho Hoa Thảo Thọ Mộc 花草樹木, ta nói là Cỏ Cây Hoa Lá, là những thực vật khô héo úa tàn trong mùa đông lạnh lẽo, chỉ hồi sinh và sống lại trong ánh nắng ấm áp của mùa xuân mà thôi. Nên ông bà ta cũng thường nhắc nhở con cháu bằng câu :

                 Khô mộc phùng xuân do tái phát,       枯木逢春猶再發,
                 Nhân vô lưỡng độ tái thiếu niên..        人無兩度再少年。
Có nghĩa :
          Cây khô khi gặp mùa xuân còn tái phát để xanh tươi trở lại, chớ…
          Con người thì không có hai lần được trẻ lại bao giờ. 

          Cho nên phải cố gắng mà trân trọng lấy tuổi xuân của mình để phát huy hết những ưu thế của tuổi hoa niên như bài thơ Vãn Xuân 晚春 của Hàn Dũ 韓愈 sau đây :

             草木知春不久歸,     Thảo mộc tri xuân bất cửu quy,
             百般紅紫鬥芳菲。     Bách ban hồng tử đấu phương phi.
             楊花榆莢無才思,     Dương hoa du giáp vô tài tứ,
             惟解漫天作雪飛。     Duy giải mạn thiên tác tuyết phi.

Có nghĩa :

  Cây cỏ biết xuân sắp “bái bai”(bye-bye).
                   Muôn hồng ngàn tía trổ khoe hay.
                   Vô tài nở trắng hoa dương liễu,
                   Chỉ biết đầy trời giả tuyết bay !

        Vãn Xuân 晚春 là xuân sắp tàn, nàng xuân sắp từ biệt để ra đi, nên tất cả các loài hoa đều cố gắng nở bung ra để khoe hết cái đẹp của mình trong mùa xuân; chỉ có du giáp (như hoa lau của ta) và dương liễu không có hương sắc gì đặc biệt, chỉ biết nở hoa trắng xóa để giả làm tuyết bay mỗi khi có cơn gió xuân thổi đến mà thôi ! Mùa xuân mà giả làm tuyết bay thật không hợp thời chút nào cả, nhưng khả năng chỉ có thế, và chỉ biết làm hết sức của mình mà thôi. Hàn Dũ muốn khuyên ta hãy cố gắng thi thố hết khả năng của mình để đừng uổng phí tuổi xuân, mặc dù cái năng lực của mình không bằng được người, không đáp ứng được thực tế trước mắt, nhưng ít ra cũng tạo được một cảm giác đẹp như hoa dương liễu giả tuyết bay trắng cả trời xuân. Còn hơn là không có gì cả !

Inline image

            Vô tài nở trắng hoa dương liễu,
                                                 Chỉ biết đầy trời giả tuyết bay !

          Mộc là Thảo Mộc 草木, là cây cỏ, tuy vô tri vô giác, mềm mại hiền lành, nhưng nếu ta biết khéo lợi dụng thì Cây Cỏ sẽ có sức mạnh còn hơn là thiên binh vạn mã nữa ! Xin mời đọc về tích của thành ngữ Thảo Mộc Giai Binh 草木皆兵 (là Cây cỏ đều là binh lính) sau đây sẽ rõ :

   Công Nguyên năm 383, Tiền Tần Vương Phù Kiên 苻堅 sau khi thống nhất một dãy ven sông Hoàng Hà, định tập trung đủ 90 vạn quân sẽ đem quân đánh ụp tiêu diệt nước Đông Tấn, bèn phái em là Phù Dung làm tiên phong chiếm lấy thành Thọ Dương. Phù Dung 苻融 đánh lấy thành một cách dễ dàng, biết Đông Tấn binh yếu lại thiếu lương thực, mới đề nghị với Phù Kiên nhanh chóng  đánh chiếm  Đông Tấn. Phù Kiên không đợi binh lực tập trung đầy đủ, lập tức đem quân tấn công Đông Tấn ngay.
       Tướng Đông Tấn là Tạ An Thạch 謝安石 biết được binh lực của Tần chưa tập trung đầy đủ, bèn dùng kế khích tướng  thách Phù Kiên nếu muốn phân cao thấp thì hãy lui binh một dặm, mình sẽ đem binh qua sông Phì Thủy quyết một trận hơn thua, bằng nếu sợ thua thì hãy đầu hàng ngay đi. Phù Kiên cả giận, định giả vờ lui binh, đợi cho binh Tấn qua sông nửa chừng sẽ quay lại đón đánh một trận cho tan tác binh nhung. Nào ngờ, lòng binh Tần đã chán nản vì chinh chiến lâu ngày, nay thấy sứ giả quân địch vừa rời trại thì chủ tướng bèn ra lịnh lui binh, nên lòng càng hoảng sợ mạnh ai nấy chạy người ngựa ngổn ngang dẫm đạp lên nhau hổn loạn thành một khối. Phù Kiên ra lệnh dừng lại thì đã không còn kịp nữa. Bên kia sông Tạ Thạch thấy thế bèn thừa cơ hạ lịnh quân sĩ cấp tốc sang sông truy sát. Quân Tần thấy quân Tấn qua sông ráo riết càng hoảng sợ hơn dẫm đạp lên nhau mà chạy trốn, đến nỗi nghe cơn gió thổi qua cây cỏ lào xào cũng tưởng là quân Tấn đã đuổi đến nơi rồi.  Sự kiện nầy đưa đến câu thành ngữ THẢO MỘC GIAI BINH 草木皆兵, có nghĩa : Cỏ cây cũng đều là binh lính cả ! Điều nầy làm ta nhớ lại đầu tháng 4 năm 1975 với DI TẢN CHIẾN THUẬT của Miền Nam, dân quân của Vùng 1 và Vùng 2 Chiến Thuật chỉ biết cắm đầu cắm cổ bỏ chạy, làm hỗn loạn cả Miền Trung. Cộng Sản Bắc Việt bất chiến tự nhiên thành, chiếm trọn Miền Trung một cách dễ dàng và uy hiếp Sài Gòn trong chớp mắt…
        Còn trận đánh trên quân Tần cũng đại bại. Phù Dung chết trong đám loạn quân, còn Phù Kiên trúng tên bị thương may mà chạy thoát được. Sử gọi trận đánh nầy là PHÌ THỦY CHI CHIẾN 淝水之戰.

         Tạ An Thạch cũng như Cộng Sản Bắc Việt đã biết lợi dụng cái nhược điểm của kẻ địch để làm cái thuận lợi cho sự chiến thắng của mình, cũng như biết lợi dụng thời cơ biến cỏ cây hoa lá của núi rừng Tây Nguyên có sức mạnh như là thiên binh vạn mã vậy ! Âu cũng là cái khí số của quân dân Miền Nam đã đến hồi mạt vận, nên mới dẫn đến cái “Chiến thuật sai lầm” làm cho Miền Nam chết một cách tức tưởi, và ngay cả cấp chỉ huy của Bắc Việt cũng không ngờ được là chiến thắng đến một cách nhanh chóng như thế.

Inline image

THẢO MỘC GIAI BINH 草木皆兵     

      Sang qua sử VN, chữ Mộc 木 còn làm cho ta nghĩ đến chữ LÊ 梨 là Cây Lê là Trái Lê, là chữ đồng âm với chữ Lê là họ LÊ 黎 trong bài Sấm trên cây Gạo làng Diên Uẩn như sau :

  Tương truyền, năm 1009, sau 73 năm tồn tại, cây gạo làng Diên Uẩn bị sét đánh nhưng không chết. Theo ghi chép của sử sách (Việt Sử lược, Đại Việt Sử Ký toàn thư, Việt Sử tiêu án, Khâm định Việt Sử Thông Giám cương mục), tại chỗ sét đánh trên thân cây có bài thơ sấm mà có ý kiến cho rằng tác giả chính là sư Vạn Hạnh. Bài sấm như sau :

                    樹根杳杳      Thụ căn diểu diểu

                    木表青青      Mộc biểu thanh thanh

                    禾刀木落      Hòa đao mộc lạc

                    十八子成      Thập bát tử thành

                    東阿入地      Đông a nhập địa

                    木異再生      Mộc dị tái sinh

                    震宮見日      Chấn cung kiến nhật

                    兑宮隠星      Đoài cung ẩn tinh

                    六七年間      Lục thất niên gian

                    天下太平      Thiên hạ thái bình

Có nghĩa :

        “Thụ căn diểu diểu”, chữ căn 根 nghĩa là gốc, gốc tức là vua, chữ diểu 杳 đồng âm với yểu 夭 là Non nớt, nên hiểu là yếu. “Mộc biểu thanh thanh”, chữ biểu 表 là bề ngoài, nghĩa là ngọn, ngọn tức là bề tôi, chữ thanh 青 là Màu xanh, âm gần giống với chữ thạnh 盛 nghĩa là thịnh; Hòa, đao, mộc, ghép lại là chữ Lê 梨; Thập, bát, tử là chữ Lý 李; Đông A là chữ Trần 陳; nhập địa là phương Bắc vào cướp: “Mộc dị tái sinh” là họ Lê khác lại sinh ra.. “Chấn cung kiến nhật”, chấn là phương Đông, kiến là mọc ra; nhật là thiên tử. “Đoài cung ẩn tinh”, “đoài” là phương tây, “ẩn” cũng như lặn, “tinh” là sao, nghĩa là thứ dân. Mấy câu này ý nói là vua thì non yếu, bề tôi thì cường thịnh, họ Lê mất, họ Lý nổi lên, thiên tử ở phương đông mọc ra thì thứ nhân ở phương tây lặn mất, trải qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình.

 Cách CHIẾT TỰ chơi chữ của bài thơ :

      Câu 3: chữ Hòa (禾) + bộ Đao (刂 ) + chữ Mộc (木) bên dưới, ghép lại thành chữ Lê (梨) là Trái Lê, đồng âm với chữ (黎) là họ LÊ. Câu 3 tiên đoán : Lưỡi đao mỏng như lá lúa đốn ngã cây, có nghĩa nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành) sẽ mất.

      Câu 4: chữ Thập (十) + chữ Bát (八) thành chữ Mộc 木, + chữ Tử (子) bên dưới thành chữ Lý (李). Câu 4 tiên đoán nhà Lý sẽ lên thay nhà Lê.

      Câu 5: chữ Đông (東) ghép với chữ A (阿) thành chữ Trần (陳). Câu 5 tiên đoán họ Trần vào nước Việt làm vua.

      Câu 6: cây khác lại sinh. Sấm ra đời thời Lê. Cây lê khác lại sinh, tiên đoán nhà Hậu Lê (Lê Lợi) kế tục nhà Trần.

      Câu 7: phương Đông có mặt trời, ứng vào nhà Mạc khởi xuất từ phía Đông (Hải Dương) thay nhà Hậu Lê.

      Câu 8: sao ẩn mình phía tây. Có các ý kiến khác nhau về câu này. Có ý kiến cho rằng câu này chỉ chúa Trịnh đóng phủ ở phía Tây kinh thành Thăng Long, “ẩn mình” là không ra mặt xưng vua nhưng lại nắm thực quyền hơn vua. Có ý kiến cho rằng “phía Tây” trong câu 8 là ám chỉ nhà Tây Sơn.

     Câu 9 và câu 10: Có ý kiến cho rằng “lục thất” chỉ nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của Việt Nam. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng chưa có lời giải đáp cụ thể cho 2 câu này.

         Tổng quát, bài thơ được giải mã mang nội dung tiên đoán việc nhà Lý nối nghiệp nhà Tiền Lê, cũng như tên các triều đại kế tục tiếp theo trong lịch sử Việt Nam suốt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 20, từ khi nhà nước Phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam hình thành ổn định tới khi kết thúc thời phong kiến.

         Điều đáng lưu ý là Việt Sử Lược ra đời thời Trần nhưng không chép 2 câu: “Đông a nhập địa, Mộc dị tái sinh” liên quan tới chính nhà Trần và nhà Hậu Lê. Các nhà nghiên cứu căn cứ vào đây mà cho rằng :

         Bài sấm này được Vạn Hạnh Thiền Sư làm ra để tạo dư luận cho Lý Công Uẩn lên ngôi một cách thuận lợi theo ý trời. Nên…

         Hai câu này do người đời sau (Trần, Hậu Lê) sáng tác xen thêm vào cho đủ các đời vua từ Ngô, Đinh, rồi đến LÊ (tiền), LÝ, TRẦN, LÊ (hậu), còn Tây Sơn và Nguyễn thì hãy còn mơ hồ.

Inline image

                                    Vạn Hạnh Thiền Sư

         Mộc 木 là một trong Ngũ hành 五行 : Kim, MỘC, Thủy, Hỏa, Thổ, theo Kinh Dịch là 5 tố chất tạo nên tất cả mọi sự vật trong vũ trụ nầy. Như Mộc Vương 木王 là Vua Cây, ý chỉ trong mùa Xuân thì lấy cây cỏ làm chủ tể tượng trưng cho sức sống đang hồi sinh một cách mãnh liệt. Mộc Hành 木行, ta nói là Hành Mộc, chỉ Mộc Đức là cái đức của mùa xuân, của trời đất cho cây cối đâm chồi nẩy lộc. Mộc Khí 木气 là cái hơi hám, mùi hương của cỏ cây hoa lá, là cái Can Khí 肝气 điều hòa trong lá gan của con người. Mộc Tinh 木星 là Sao Mộc, theo chiêm tinh học thì đây là vì sao may mắn cho ai có lưu tinh là Mộc Tinh trong năm. Bài vị cúng sao trong ngày vía Ngọc Hoàng của mồng 9 Tết hằng năm ghi : Đông phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh quân chi vị 東方甲乙木德星君之位. Khác với… 

        Mộc Tinh trong Thái Dương Hệ hiện nay là Jupiter, đứng ngôi thứ 5 và là một hành tinh lớn nhất trong Thái Dương Hệ, lớn hơn cả Địa Cầu có màu xanh của cây cỏ.

Inline image

 Mộc Tinh 木星 trong Thái Dương Hệ là Jupiter

         Ngoài nghĩa là cây, Mộc 木 còn có nghĩa là LÁ, như trong thành ngữ Mộc Lạc Quy Bổn 木落歸本. Có nghĩa như là Diệp Lạc Quy Căn 葉落歸根, ta nói là Lá Rụng Về Cội. Hay như 2 câu trong bài thơ Đăng Cao của Đỗ Phủ là :

                 無邊落木蕭蕭下,        Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
                 不盡長江滾滾來。      Bất tận Trường Giang cổn cổn lai.
Có nghĩa :
     Rạt rào lá đổ bên trời thẳm,
                     Cuồn cuộn Trường Giang nước chảy dài !

     Hay như 2 câu đầu trong bài Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài của Mạnh Hạo Nhiên :

                  木落雁南渡,      Mộc lạc nhạn nam độ,

                  北風江上寒.      Bắc phong giang thượng hàn.

Có nghĩa :

                Lá rụng nhạn xuôi nam,

                  Trên sông gió bấc tràn.

         Mộc là Cây, mà cây hiện diện trong tất cả các mặt của đời sống, từ cây ngô, cây khoai, cây lúa cho gạo thóc để nuôi sống con người , cho đến nhà cửa vật dụng chung quanh đời sống nhất nhất đều bằng… Mộc, như muổng, đủa, bàn, ghế, tủ, giường, phòng ốc… kể cả cỏ cây hoa lá để điểm tô làm đẹp thêm cho đời sống con người đều có gốc… Mộc cả ! Ngạn ngữ Trung Hoa xưa có câu :

                 Nhất niên thọ đạo,       一年樹稻,
                 Thập niên thọ mộc,      十年樹木,
                 Bách niên thọ nhơn.     百年樹人!
Có nghĩa :
              – Vì lợi ích trong một năm thì trồng lúa,
              – Vì lợi ích của mười năm thì trồng cây,
              – Vì lợi ích của trăm năm thì phải đào tạo con người !

Inline image

        Đời sống của con người không thể rời xa chữ Mộc được, kể cả khi chết đi rồi vẫn còn phải nằm trong Quan Mộc 棺木, mà ta quen gọi là Quan Tài 棺材, là cái hòm đựng thây người chết ! Nhớ khi xưa, các danh hài Tùng Lâm và Phi Thoàng đã từng đố nhau : Trên Mộc dưới Thổ là… Cái Quan tài chưa chôn, trên Thổ dưới Mộc là… Cái quan tài đã chôn rồi và câu đố hóc búa là : Trên Thổ giữa Mộc dưới Thổ là… ” Thằng Thổ mang guốc ” !

        Người xưa để lại 4 chữ “Cái Quan Luận Định 蓋棺論定”. CÁI là Đậy lại; QUAN là Quan tài. Ý  nói : Khi nắp quan tài đã đậy lại rồi (đã chết) thì mới biết chắc chắn con người đó là như thế nào, mới luận định một cách chính xác thị, phi, thành, bại, hơn, thua, anh hùng hay tiểu nhân, có công hay có tội… Nắp quan tài chưa đóng (chưa chết) thì còn chưa biết ai như thế nào và ai đã hơn ai !?

       Xin được khép lại bài phiếm “Mộc là Cây” ở đây khi… nắp quan tài còn chưa khép lại và mùa xuân chỉ mới bắt đầu mang sức sống mới đến với tất cả hoa lá cỏ cây !

       Hẹn bài phiếm tới !

杜紹德

                                 Đỗ Chiêu Đức

    Xuân 2018

Phiếm về Ngũ Hành : 
                                HỎA là LỬA 

Inline image

       Theo Phật giáo, cơ thể con người là do Tứ Đại : Phong Thủy Hỏa Thổ, tức là Đất Nước Gió Lửa kết hợp lại mà thành, nên bản thân con người đã có một phần tư là lửa ở trong đó rồi, ngọn lửa đó cứ âm ỉ mãi trong ngũ tạng lục phủ tạo nên sự ham muốn mãnh liệt mà ta gọi là Lửa Dục Vọng. Trong văn chương Phật giáo thì gọi nhẹ nhàng hơn : Lửa Lòng. Như cụ Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi tu ở Quan Âm Các :

      Cho hay giọt nước cành dương  

                     Lửa Lòng tưới tắt mọi đường trần duyên …

và như lời của Thúy Kiều đã phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người cùng về nhà để đoàn tụ :

       Sự đời đã Tắt Lửa Lòng,

                     Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?!

       “Tắt Lửa Lòng” còn là một tiểu thuyết tình cảm lãng mạn nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Công Hoan, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1933. Tác phẩm này nhanh chóng trở nên phổ biến, và rất nhiều người chuyển thể thành các vở kịch nói, phổ nhạc… trong số đó phải kể đến Soạn giả Trần Hữu Trang đã biên kịch lại và chuyển thể thành vở cải lương năm 1936 với tên của 2 nhân vật đi vào huyền thoại kịch nghệ Việt Nam là “Lan và Điệp”. Chuyện tình “Lan và Điệp” của Việt Nam ta có thể sánh ngang với chuyện tình “Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài” của Trung Hoa xưa, và còn có phần vượt trội hơn về mặt bình dân, được phổ biến rộng rãi trong mọi tầng lớp quần chúng nhân dân. Nhớ khi xưa, yêu một cô bạn cùng trường, tôi cũng lấy chuyện tình Lan và Điệp để ví dụ :

  Anh với em như Điệp với Lan,

                         Thanh mai trúc mã đẹp muôn vàn.

                         Vỏ vẻ thơ Đường anh đọc thấy,

                         Chuyện mình sao giống khúc Trường Can…

    Chả trách mối tình đầu học sinh tan vỡ theo khói mây như bao mối tình đầu khác !

Inline image

          Trong Cung Oán Ngâm Khúc Nguyễn Gia Thiều cũng đã gọi ngọn lửa âm ỉ đốt trong lòng người cung nữ là Tâm Hỏa với các câu :

   Ngọn tâm hỏa đốt dàu nét liễu, 

                        Giọt hồng băng thấm ráo làn son. 

                        Lại buồn đến cảnh con con, 

                        Trà chuyên nước nhất, hương đùn khói đôi !

         Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng mượn chữ Tâm Hỏa nói thành “Lửa Tâm” để tả ngọn lửa ghen tuông trong lòng của Hoạn Thư là:

    Lửa Tâm càng dập càng nồng,

                   Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa.

                         Ví bằng thú thật cùng ta,

                  Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên !

           Hỏa là Lửa, và là chữ Tượng Hình của một trong 214 bộ của “Chữ Nho… Dễ Học”, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

Inline image

Ta thấy :

           Giáp Cốt Văn là hình tượng của một ngọn lửa được vẽ cách điệu để tượng trưng cho lửa, qua Đại Triện, Tiểu Triện dần dần diễn tiến thành chữ viết, cho đến Chữ Lệ thì đã định hình giống như chữ viết hiện nay HỎA 火 là LỬA. Có tất cả 407 chữ được ghép bởi bộ Hỏa nầy để chỉ những gì có liên quan tới Lửa như đèn đóm đuốc nến, nóng nực sáng sủa, nấu nướng chiên xào… đều thuộc bộ Hỏa cả, Cho thấy là Lửa quan trọng biết bao trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

         Lửa cháy đỏ rực, hừng hực với ngọn lửa đỏ bốc cao là Dương Hỏa, còn lửa cháy âm ỉ với ngọn lửa xanh dịu dàng chập choạng là Âm Hỏa. Nhưng dù âm dù dương thì lửa vẫn cho ánh sáng và sức nóng có thể thiêu đốt hoặc làm thay đổi hình dạng của những vật chất khác, kể cả Vàng cũng bị chảy thành chất lỏng, mặc dù ông bà ta nói “Vàng thật không sợ lửa”, cũng là để chỉ màu sắc của vàng không hề bị suy suyển mà thôi .

Inline image

         Theo Tử Vi đẩu số thì có 6 hình thức lửa, đó là : Thiên Thượng Hỏa 天上火 là Lửa trên trời là Lửa của Mặt Trời, Tích Lịch Hỏa 霹靂火 là Lửa Sấm sét là Lửa của điện chớp, Sơn Đầu Hỏa 山頭火 là Lửa đầu núi là Núi lửa, Sơn Hạ Hỏa 山下火 là Lửa dưới núi là Lửa cháy rừng, Lô Trung Hỏa 爐中火 là Lửa trong lò là Lửa nấu ăn và Phúc Đăng Hỏa 覆燈火 là Lửa của cây đèn dầu là Lửa dùng để thắp sáng. Nên được chia làm hai nhóm :

      * Thiên Thượng Hỏa 天上火, Tích Lịch Hỏa 霹靂火, Sơn Đầu Hỏa 山頭火 thì không kỵ thủy, không sợ nước, có nước lại càng nổ lớn cháy lớn hơn.

      * Sơn Hạ Hỏa 山下火, Lô Trung Hỏa 爐中火, Phúc Đăng Hỏa 覆燈火 thì gặp nước, gặp mưa đổ xuống là tắt queo ngay !

        Theo thần thọai xưa thì Lửa có 2 nguồn gốc như sau :

       * Toại Nhân 燧人, hay Toại Nhân thị 燧人氏, là người sáng tạo ra lửa trong Thần thoại Trung Quốc cổ đại, có thuyết xưng ông là một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Theo Cao Đài từ điển, Toại là khoan gỗ lấy lửa, còn Nhân là người.

        Theo Sách Hàn Phi tử – Ngũ Đố chép rằng: “Thời thượng cổ, dân ăn quả, củ, thịt sống nên bị đau bụng, bệnh tật rất nhiều. Có thánh nhân bổ củi để lấy lửa nấu chín thức ăn, dân ca ngợi tôn làm vua trong thiên hạ, hiệu là Toại Nhân thị”. Nhờ có Toại Nhân, loài người có lửa, không còn đứng ngang hàng với cầm thú như trước nữa.

       * Chúc Dung 祝融, vốn tên là Trọng Lê 重黎, sáng tạo ra cách nấu qua vật cách nhiệt như : Nồi đất, ấm đất, niêu đất; khiến món ăn có mùi vị và thơm ngon hơn, ông lại nghiên cứu ra các chất để khi cần là có lửa ngay mà khỏi phải dùi cây hay mài đá nữa. Ví dụ như ông ép dầu lạc (dầu phọng) tích trữ làm chất cháy, hoặc chế ra ngọn đuốc để có thể giữ lửa và di chuyển được trong bóng tối. Ông giữ chức Hỏa Chính cai quản về việc chế tạo và sản xuất lửa trong thiên hạ với danh hiệu là Chúc Dung 祝融, được dân gian truyền tụng như là một ông Thần Lửa sau Toại Nhân. 

         Từ sau khi La Quán Trung viết quyển Tam Quốc Chí có nhân vật Chúc Dung Phu Nhân là vợ của Man Vương Mạnh Hoạch, thì lại có thuyết cho thần lửa Chúc Dung là phái nữ, và có lẽ vì thế mà ta có từ “Bà Hỏa” để chỉ lửa củi hỏa hoạn chăng ?! Sau PHONG DI là “Dì Gió”, ta còn có CHÚC DUNG là “Bà Hỏa” nữa, cho thấy từ ngàn xưa Phái Nữ đã không phải là phái yếu đuối tầm thường !

Inline image

Toại Nhân thị 燧人氏       Chúc Dung 祝融     Bà Hỏa Chúc Dung 

        Theo Dịch Lý Bát Quái về âm dương ngũ hành thì NAM PHƯƠNG BÍNH ĐINH HỎA. Bính là Dương hỏa, Đinh là Âm hỏa và đều thuộc Phương Nam, ăn với mùa hè là mùa nóng nực nhất trong năm, mùa của “Lựu phun lửa hạ…” thích hợp với các loài hoa màu đỏ rực như Hoa Phượng, Hoa Đỗ quyên, hoa Thạch lựu… và như cụ Nguyễn Du đã chuyển mùa trong Truyện Kiều khi ông cho Thúy Kiều đi tắm :

        Dưới trăng quyên đã gọi hè,

                     Đầu tường lửa lựu lặp lòe đâm bông.

                          Buồng the phải buổi thong dong,

                     Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa.

          Hỏa là lửa, lửa chẳng những mang lại sự ấm áp, mang lại ánh sáng cho con người, mà còn đưa con người ra khỏi cảnh sống hoang sơ ăn lông ở lổ lúc ban đầu nữa. Lửa còn mang lại những niềm vui, hạnh phúc cho con người khi trời đông gía rét mà được quây quần bên bếp lửa hồng ấm cúng của gia đình như lời ca trong bài “Về Dưới Mái Nhà” của Y Vân và Xuân Tiên :

    “…Người ơi, mau về đây, 

                         về bên bếp hồng tay cầm tay…

                         Cười lên chan chứa tươi làn môi …

                                nhớ phút vui đêm nay !…

và…

     …Nhà ai trong chiều nay

                         Lửa đêm đốt hồng vai kề vai

                         Và nghe câu hát yêu đời ai

                         Hát mãi sao không nguôi…”

Inline image

… và cái “bếp hồng” ấm áp hạnh phúc kia theo mãi trong tâm thức của những con người tha phương cầu thực như chúng ta mãi mãi cho đến trọn đời :

  Ơi,… nỗi lòng chan chứa, 

               Hỡi người ơi … biết sao cho vừa… tình thương… của bếp hồng soi !

và bâng khuâng ray rức thiết tha hơn với …

  …Chiều nay mưa còn rơi

                        Chiều nay bếp hồng đang còn say

                        Chiều nay vui sống trong tình yêu.

                        Nhớ phút vui không nguôi.

         Nào ai xa ngàn nơi.

                Kìa bao mái nhà đang chờ ai

                Kìa bao bếp hồng đang còn tươi

                Thương nhớ lên đầy vơi…”

         Ôi, qủa là những lời ca ray rức, não nuột làm xúc động lòng người xa xứ !… Bài hát “Về Dưới Mái Nhà” đã ăn sâu vào tâm thức của tôi khi tôi vừa mới lớn, khoảng cuối thập niên năm mươi của Thế Kỷ trước, lúc Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới về nước chấp chánh, nên… đến bây giờ định cư trên đất Mỹ nầy, lời của bài hát càng âm ỉ râm rang hơn làm ray rức mãi lòng người viễn xứ như tôi, nhất là vào những ngày cận Tết với trời đông gía lạnh…

        Trong thi ca cổ cũng vẽ nên một bức tranh ấm áp của những người bạn xa quê tìm đến với nhau trong những đêm xuân cận Tết với các nét chấm phá thật nên thơ như trong bài Hàn Dạ (đêm lạnh) của Đỗ Tiểu Sơn đời Tống :

                  寒夜客來茶當酒,     Hàn dạ khách lai trà đương tửu,

                  竹爐湯沸火初紅。     Trúc lô thang phất hỏa sơ hồng.

                  尋常一樣窗前月,     Tầm thường nhất dạng song tiền nguyệt,

                  才有梅花便不同。     Tài hữu mai hoa tiện bất đồng.   

Có nghĩa :

 Đêm đông bạn đến rượu thay trà,

                Quanh bếp than hồng nước mới pha.

                Bên cửa thường ngày trăng vẫn chiếu,

                Thêm cành mai nữa, nhớ quê xa !…

Inline image

  Đêm đông bạn đến rượu thay trà  

          Hỏa là Lửa, ngoài nghĩa Bếp Lửa ra, Hoả còn có nghĩa là Đèn Đóm, đèn đuốc thắp lên ban đêm để vui chơi trong cung như nàng cung nữ thất sủng nhìn về nơi có ánh đèn lửa tiệc tùng mà tủi thân tủi phận :

                  火照西宮知夜飲,    Hỏa chiếu Tây cung tri dạ ẩm

                  分明復道奉恩時。    Phân minh phúc đạo phụng ân thì.

                                                          (Tây Cung Thu Oán)

Có nghĩa :

     Lửa chiếu Tây cung đang dạ tiệc,

                        Rõ ràng nơi đó hưởng ơn vua !

…và buồn như nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu :

 Hóa công sao khéo trêu ngươi, 

                        Bóng đèn tà nguyệt tẻ mùi ký sinh. 

  … cũng là đèn lửa nhưng buồn vui có khác, và không chỉ có buồn vui, có những ánh đèn còn rất nên thơ, như đèn của lửa chài trong Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế :

                   江楓漁火對愁眠      Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

mà Tản Đà đã diễn Nôm rất nên thơ là :

 Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ…

           … hay như hai ba đóm lửa lặp lòe của một bến đò xa xa trong đêm tối trong bài Đề Kim Lăng Độ của Trương Hỗ đời Đường :

                金陵津渡小山樓,    Kim Lăng tân độ tiểu sơn lâu,

                一宿行人自可愁。    Nhất túc hành nhân tự khả sầu.

                潮落夜江斜月裡,    Triều lạc dạ giang tà nguyệt lý

                兩三星火是瓜州。    Lưỡng tam tinh hỏa thị Qua Châu

Có nghĩa :

         Kim Lăng bến nước cạnh đồi cao,

                      Lữ khách qua đêm tự cảm sầu.

                      Triều xuống trăng mờ chênh chếch chiếu,

                      Lặp lòe đóm lửa ấy Qua Châu !

Inline image

           Trong cảnh đêm khi nước thủy triều đang xuống dưới ánh trăng nghiêng nghiêng mờ chiếu, thấp thoáng hai ba đóm lửa đèn nhà ai như những vì sao lạc kia, chính là bến đò Qua Châu đối diện đó vậy ! Qủa là một bức tranh chấm phá với cảnh đèn đóm trong đêm vô cùng nên thơ và thi vị !

          Lửa dịu dàng là thế, ấm áp là thế, nên thơ là thế… nhưng khi nổi ” tam bành” thì “Bà Hỏa” hoạn đến không buông tha cho ai cả, không buông tha cho vật chất nào cả, mà thiêu rụi sạch sành sanh. Bão tố giật xập nhà cửa, nước lụt cuốn trôi nhà cửa, nhấn chìm ghe xuồng… nhưng cũng còn vớt vát lại được chút đồ đạc còn trôi nổi trên sông, chớ sau một cơn hỏa hoạn thì tất cả còn lại chỉ là đống tro tàn của dĩ vãng mà thôi ! 

           Lửa còn đi liền với chiến tranh với các từ Binh Lửa, Khói Lửa, Tên lửa, Đạn lửa hay Lửa Đạn là vùng lửa cháy đạn bay, là nơi tuyến đầu, nơi mà người ta bắn giết lẫn nhau, là các vùng Hỏa Tuyến火線, nơi mà ban đêm luôn có những đóm mắt Hỏa Châu 火珠 soi sáng chiến trường. Tội nghiệp cho tuổi trẻ Miền Nam, tội nghiệp cho các anh lính trẻ Việt Nam Cộng Hòa như tôi  “xếp bút nghiên theo việc binh đao” để đêm đêm phải tâm sự cùng “Những đóm mắt Hỏa Châu ” như trong bài hát của Nhạc sĩ Hàn Châu :

      Có những đêm dài, … anh ngồi …nhìn hỏa châu rơi …

                     Nghe vùng tâm tư …cháy đỏ …xoay ngang lưng trời …

                     Những đóm mắt hỏa châu …bừng lên trong màn tối ,

                     Như mắt em sáng ngời, …theo anh đi ngàn lối ,

                     Những đêm không ngủ , anh ngồi tâm sự… cùng hỏa châu rơi….. 

Inline image

        Qủa là tội nghiệp cho tuổi trẻ của Miền Nam khoảng thập niên 60-70 thế kỷ trước, tuổi trẻ của Việt Nam nói chung đã bị cuốn vào vòng chiến tranh ý thức hệ một cách oan uổng…

         Ngày xưa, gọi chiến tranh là Phong Hỏa 烽火, là những lửa khói bốc lên do chiến loạn, mà cũng là những lửa khói được đốt lên để báo hiệu chiến tranh đang diễn tiến đến nơi nào, là những Phong Hỏa Đài 烽火台 dùng để cảnh báo cho dân chúng hậu phương biết trước mà tránh xa và nhất là để cho quan binh hậu phương biết đường mà ứng phó. Nên Phong Hỏa là chiến tranh như Đỗ Phủ đã viết về chiến loạn do An Lộc Sơn gây ra :

             Phong Hỏa liên tam nguyệt    烽火連三月

là Chiến tranh kéo dài suốt ba tháng liền… đã gây ra rất nhiều chết chóc khổ đau tang thương khắp chốn, huống chi cuộc chiến Nam Bắc Việt Nam kéo dài những ba mươi năm, nhân dân cả nước phải hứng chịu biết bao nhiêu là đau thương đồ thán do bom đạn gây ra !   

        Hỏa là Lửa, là Đèn đuốc là Đăng Hỏa 燈火. Hỏa là Tinh Hỏa 星火 là những vì sao lắp lánh trên trời, là Hỏa Tinh 火星 một trong 4 hành tinh của Thái Dương Hệ, có tên la-tinh là Mars. Theo khoa học giả tưởng trên Hỏa tinh có Người Hỏa Tinh và có sự sống như trên Trái đất. Hoả Tiển 火箭 là Tên Lửa, vừa là vũ khí sát thương, vừa là phương tiện chuyên chở trong và ngoài không gian. Hỏa Thạch 火石 là Đá lửa, đá dùng để đánh lửa. Hỏa Sơn 火山 là núi lửa, là Hỏa Diệm Sơn 火焰山. Hỏa Khanh 火坑 là Cái Hầm Lửa, từ dùng để chỉ các cô gái điếm sống cuộc sống đày đọa đồi trụy ngột ngạt như bị nhốt trong hầm lửa vậy, nên cụ Nguyễn Du đã gọi là “Lửa Nồng” khi ông cho Thúy Kiều phân tách để Thúc Sinh hiểu được là sống cảnh lẻ mọn bị vợ lớn ghen tuông hành hạ (giấm chua) còn tội nghiệp hơn là sống đời kỹ nữ nữa :

       Cúi đầu luồn xuống mái nhà

                     Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng !

        Hỏa còn dùng để chỉ vũ khí của quân đội như từ Hỏa Thương 火槍 là Súng Ống, Hỏa Dược 火藥 là Thuốc súng, Hỏa Lực 火力 là sức mạnh của vũ khí quân đội, Hỏa Tốc 火速 là Nhanh Chóng, Hỏa Công 火攻 là Tấn công bằng lửa, dùng lửa để Hỏa Thiêu 火燒 đốt cháy quân địch, như trận Hỏa Thiêu Xích Bích 火燒赤壁 của Khổng Minh Gia Cát Lượng đã đốt tiêu 81 vạn quân của Tào Tháo trên dòng sông Xích Bích vậy. Cuối cùng để nuôi sống quân đội hàng ngày còn có anh Hỏa Đầu Quân 火頭軍 mà sau nầy trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa gọi là Lính Nhà Bàn, còn Bộ đội Bắc Việt thì gọi là Anh Nuôi.  

         Ngoài trận hỏa công để đời nổi tiếng trong lịch sử thời Tam Quốc ra , còn một trận hỏa công rất đặc sắc nữa ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, đó chính là Hỏa Ngưu Trận 火牛陣. Theo Sử Ký Điền Đan Liệt Truyện…

        Đời Yên Chiêu Vương, tướng Yên là Nhạc Nghị đem binh đánh Tề. Tướng Tề là Điền Đan cố giữ thành Tức Mặc. Năm 279 trước Công Nguyên, Yên Huệ Vương nối ngôi, Điền Đan dùngkế ly gián để Yên vương dùng tướng Kỵ Kiếp thay cho Nhạc Nghị, đoạn lại dùng kế trá hàng để Kỵ Kiếp không phòng bị, rồi đang đêm gom hết cả ngàn trâu bò trong thành, buộc gươm đao nhọn vào sừng trâu, đuôi trâu buộc cỏ rơm có tẩm dầu, rồi đốt lửa lên, trâu bị nóng cắm đầu cắm cổ phóng về phiá quân Yên, lại cho 5000 lính cảm tử xung phong giết tới. Quân Yên đại bại, Kỵ Kiếp chết trận, Điền Đan thừa thế xua quân đánh chiếm lại hơn 70 thành đã bị mất.  

Inline image

   Hỏa Thiêu Xích Bích                          Hỏa Ngưu Trận

        Vì tích Hỏa Ngưu Trận ở trên mà trong văn học Việt Nam có một bài thơ vịnh Con Trâu Già rất hay như sau :

       Một nắm xương khô, một nắm da

                      Bao nhiêu cái ách đã từng qua

                      Đuôi cùn biếng vẫy Điền Đan hỏa

                      Tai nặng buồn nghe Nịnh Thích ca

                      Sớm thả đồng đào ăn đủng đỉnh

                      Tối về chuồng quế thở nghi nga

                      Có người toan giết tô chuông mới

                      Ơn đức vua Tề, lại được tha.

        Bài thơ trên có người cho là của cụ Huỳnh Mẫn Đạt, có người cho là của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Nhưng dù của ai thì đây vẫn là một bài thơ hay.

Inline image

Hỏa Kê 火雞 là con Gà Tây, Gà Lôi. 

       Hỏa là Lửa, nhưng Hỏa Kê 火雞 không phải là Con Gà Lửa mà là con Gà Tây, bình dân gọi là con Gà Lôi, ở Mỹ gọi là Turkey. Lễ Gà Lôi là Lễ Tạ Ơn của Mỹ (ngày Thứ Năm của tuần thứ 3 trong tháng 11), hằng năm dân Mỹ phải “hỏa thiêu” đến mấy triệu con Hỏa Kê nầy để ăn mừng Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving). Hỏa Trùng còn gọi là Huỳnh Hỏa Trùng 螢火蟲, không phải là con sâu lửa mà là con Đom Đóm với ánh đèn lân tinh chớp sáng phía sau đuôi trên các ngọn cây bần ở quê tôi. Cũng như Hỏa Hầu 火候 không phải là con Khỉ Lửa, mà là chỉ cái tiêu chuẩn mức độ đạt đến cở nào. Như hấp bánh còn thiếu “hỏa hầu” nên bánh chưa thật chín thật ngon, Công phu luyện chưa tới “hỏa hầu” nên chặt cục gạch còn chưa bể hai… Hỏa Hầu cũng không phải là Tề Thiên Đại Thánh 齊天大聖, vì Tôn Ngộ Không 孫悟空 là con Thạch Hầu 石猴, con khỉ từ trong đá nứt ra, chứ không phải là con khỉ lửa; chỉ sau khi bị Thái Thượng Lão Quân đốt trong lò Bát quái bảy bảy bốn mươi chín ngày ra, thì Tôn Ngộ Không mới có được Hỏa nhãn Kim tinh 火眼金睛, có nghĩa : Con mắt rực như lửa và tròng mắt sáng như vàng có thể nhìn thấu mọi sự vật do yêu quái biến hình. Nhưng Hỏa Xa 火車 là Xe Lửa, Hỏa Long 火龍 thì lại là con rồng lửa chính hiệu có màu đỏ rực như lửa. Gần đây, người Hoa lại dùng từ Hỏa Oa 火鍋 là Cái Nồi Lửa để chỉ Cái Lẩu (cái Cù Lao) mà ta thường ăn khi có tiệc.  

     Theo phép tạo chữ Nho ngày xưa, một chữ Hỏa 火 là Lửa; 2 chữ Hỏa chồng lên nhau là Viêm 炎 là Nóng, ta có từ kép Viêm Nhiệt 炎熱 là Nóng nực; 3 chữ Hỏa ghép lại thành chữ Diễm 焱 là Lửa cháy rực rỡ, đọc là Diệm thì đồng âm với từ Hỏa Diệm Sơn 火焰山 là Núi Lửa, HỎA DIỆM SƠN còn là từ dùng để chỉ các bà các cô có thân hình với 3 vòng thật “nóng”, thật gợi cảm,  thật bốc lửa !

Inline image

  … đều là những Hỏa Diệm Sơn

      Những thành ngữ có chữ Hỏa 火 mà Hoa Việt đều thông dụng là :

 * Hỏa thượng gia dầu 火上加油 : Ta nói là “Lửa cháy thêm dầu” hay là “Đổ thêm dầu vào lửa”, ý nói đã không chửa cháy mà còn làm cho nó cháy lớn thêm hơn ! 

 * Hỏa hải đao sơn 火海刀山 : Ta nói là “Núi đao biển lửa” để chỉ những nơi vô cùng nguy hiểm, những chỗ mất mạng như chơi !

 * Can sài liệt hỏa 乾柴烈火 : là Củi khô lửa mạnh, ta nói là “Lửa gần rơm” lâu ngày cũng bén.

 * Sấn hỏa đả kiếp 趁火打劫 : Thừa lúc lửa cháy để cướp đồ của người khác, ta nói là “Thừa nước đục thả câu”.

 * Phong hỏa liên niên 烽火連年 : Chiến tranh năm nầy liền năm khác, ta nói là “Chiến tranh dai dẳng” như cuộc nội chiến của Việt Nam ta ngày xưa làm cho quân dân đều chán ngán.

       Tăng Quảng Hiền Văn cũng có những câu ngạn ngữ rất thực tế như :

         Viễn thủy nan cứu cận hỏa,      遠水難救近火,

         Viễn thân bất như cận lân.       遠親不如近鄰。

Có nghĩa :

  Nước xa không thể cứu được lửa gần ,

               Bà con xa không bằng láng giềng gần.

Inline image

Hay như câu :

               Thành môn thất hỏa,     城門失火,

               Ương cập trì ngư.          殃及池魚。 

Có nghĩa :

         Cửa thành bị lửa cháy, bị hỏa hoạn, thì làm cho lũ cá ở trong ao cũng bị tai ương, bị vạ lây, vì… người ta sẽ vét hết nước ở trong ao để chửa lửa, nên cá sẽ không còn nước để sống nữa ! Giới bình dân gọi là : “bị văng miểng”, bị họa lan can !

         Hỏa là Lửa cũng như Mộc là Cây là 2 nhân tố không thể thiếu trong đời sống con người. Hỏa là Đăng Hỏa 燈火 là Đèn đóm để thắp sáng; là Hỏa Lô 火爐 là cái Lò lửa để nấu ăn. Trong thời đại văn minh hiện nay ta còn có Điện Lô 電爐 là Lò điện, Mai Lô 煤爐 là Lò Gas… Lửa còn dùng để sưởi ấm, nấu nướng chiên xào, chế biến thức ăn, xúc tác phản ứng hóa học trong phòng thí nghiệm, để luyện kim… kể cả những hoạt động vui chơi như Bắn pháo bông, Đốt lửa trại… đều không thể xa rời được lửa. Thử nghĩ nếu một ngày không có lửa thì cuộc sống sẽ ra sao và thế giới nầy sẽ ra sao ?!

        Những đêm nguyện cầu, những đêm thắp nến, đều nhờ vào ngọn lửa của ánh nến để thắt chặc thêm tình đoàn kết, để ung đúc thêm ý chí đấu tranh, để càng hạ quyết tâm phấn đấu hơn để đạt mục đích cuối cùng. Ta hãy nghe lại lời của bài hát “Nhạc Rừng Khuya” mà nhạc sĩ Lam Phương đã sáng tác hồi thập niên 50 của Thế kỷ trước, khi ông còn chưa đầy 20 tuổi :

        … Bập bùng bấp bung …đêm khuya thêm não nùng… 

                 Lửa càng bừng cháy, siết tay nhau… chúng ta cùng múa 

                 quanh lửa hồng… cháy trong rừng khuya 

và…

  … Lửa cháy, hằng lửa giục lòng dân …đoàn kết 

                 Lửa reo, vang lửa gào lòng ta …nguồn sống 

                 Lửa Tự Do …muôn năm vẫn reo …rừng ơi !

Inline image

Nhạc sĩ Lam Phương khi sáng tác bản Nhạc Rừng Khuya

       Trở lại với đề tài lúc ban đầu, theo quan niệm của Phật Giáo, cơ thể con người là do TỨ ĐẠI : Đất Nước Gió Lửa khi đã đủ cơ duyên thì kết hợp lại mà thành, nên khi chết đi thì thân Tứ Đại sẽ trả về cho Tứ Đại. Nhớ năm 1963 khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu xong thì còn lại … trái tim vẫn không chịu cháy trong lò thiêu lên đến 4000 độ C tại Đài hỏa táng An dưỡng địa ở Phú Lâm (Sài Gòn). Thì ra, vẫn có những cái mà lửa không thể thiêu rụi được, đó là Trái Tim của đấu tranh, tức là Ý Chí Đấu Tranh thì không có ngọn lửa nào thiêu rụi được cả ! Xin được mượn 2 câu thơ sau đây trong bài thơ ca ngợi Hoà thượng Thích Quảng Đức để kết thúc cho bài phiếm luận nầy :

 Thân Tứ Đại trả về Tứ Đại,            

                  Tim của ngài tồn tại thế gian !

      Lửa là Hỏa và Hỏa là Lửa. Lửa thiêu rụi tất cả, nhưng không thể thiêu rụi được Tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh !!!

                                                                                  杜紹德

                                                                              Đỗ Chiêu Đức

To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/daihocsupham-vankhoasg/403115910.23063.1724728967552%40mail.yahoo.com.

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com