Sương Lam mời đọc Ngày Xưa Tôi Đi Học

Ngày Xưa Tôi Đi Học

SLhoclopDeLucGL.jpg

Đây là bài số bảy trăm hai mươi tám (728) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.   

 Học trò các trường đã bắt đầu đi học trở lại sau mấy tháng hè.  Tôi đã nhận được nhiều điện thư của bạn hữu gửi đến tôi bài viết  “Tôi Đi Học” Của Thanh Tịnh”. Hình  như những người ở lứa tuổi U70- U80 như chúng tôi rất thích bài văn này vì gợi nhớ nhiều kỷ niệm ngày đầu tiên đi học chứ học trò học trường Mỹ  như con  cháu chúng ta hiện tại làm sao thấy được cái thi vị của bài viết đầy tình cảm này. 

 Tôi thích nhất là đọc văn dưới đây:

“……Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã…..

(Trich Tôi Đi Học ” của Thanh Tịnh) 

Tôi lại lan man nhớ lại thời học trò  ngây thơ, hồn nhiên của tôi thuở thanh bình thạnh trị nơi quê nhà, xin được ghi lại đây gọi là chút “gợi nhớ hương xưa” đối với các bạn bây giờ đã bắt đầu bước vào tuổi “lảnh lương của chính phủ nơi xứ người.

Ngày xưa chúng tôi 6 tuổi mới bắt đầu đi học trường tiểu học.  Bắt đầu là lớp năm,  chứ không có lớp mẫu giáo như bây giờ  ở Mỹ  là phải đúng 5 tuổi tính đến ngày sinh mới được nhận vào lớp mẫu giáo (Kindergarten).

Học hết lớp năm, mới được lên lớp tư và cứ tuần tự lên lớp ba, lớp nhì, lớp nhất mỗi năm, nếu  có học lực trung bình thi đậu kỳ thi cuối năm, đừng có làm biếng học thì sẽ bị ở lại lớp ngay.

 Thời gian học tiểu học là vui nhất vì có giờ ra chơi được chạy nhảy tự do và được mua bánh trái , cà rem, me ngào, chuối chiên, bắp rang v…v… nếu ba má cho tiền mua quà  ăn vặt.

 Người viết học trường tiểu học Võ Tánh ở Phú Nhuận. Được làm trưởng lớp phụ lấy phấn,  lau bảng, dọn dẹp bàn viết của thầy,  cầm giấy tờ của thầy, cô  giáo lên văn phòng hiệu trưởng, tóm lại là làm “tà lọt” cho thầy, cô giáo là một vinh dự, không phải trò nào muốn làm cũng được.  Bạn phải là học trò giỏi hay có quen biết với cô, thầy giáo mới được chọn làm trưởng lớp. 

Ba tôi là người sống cố cựu và có “mặt mũi” ở  Phú Nhuận nên  quen biết rất nhiều người, kể cả thầy cô giáo, ông hiệu trưởng, ông phó hiệu trưởng trường Võ Tánh. Người viết hồi nhỏ cũng lanh lợi, dễ thương, sáng dạ nên thường được chọn làm “tà lọt” cho thầy cô giáo. Ngon lành lắm chứ bộ!

 Học hết lớp Nhất thì phải thi lấy bằng Tiểu Học.  Có đậu bằng tiểu học rồi thì mới được dự thi vào trường trung học công lập.

Vào thập niên 50, ở Sài Gòn chỉ có trường nữ Trung học Gia Long dành cho nữ sinh, và trường Petrus Ký dành cho nam sinh. Nữ sinh, nam sinh học riêng chứ không học chung như bây giờ và phải mặc đồng phục màu trắng khi đi học.

Sau năm 1954 mới có thêm trường  Trưng Vương, Chu văn An  dành cho con em đồng bào  miền Bắc di cư vào Nam vào miền Nam năm 1954. Về sau số lượng học sinh tăng nhiều  nên nhà nước  mới lập thêm trường Võ Trường Toản, Lê Văn Duyệt, Trần Lục v..v.. Học trò giàu có thể học trường Lasan Taberd hay học trường tư bên ngoài nếu không đậu vào trường trung học công lập.

 Thi đậu vào các trường trung học công lập không phải là chuyện dễ vì bạn phải là học sinh giỏi mới có thể có tên trên “bảng giấy”  sau một kỳ thi tuyển toàn quốc để chọn “nhân tài”.  Một phần khác, bạn phải là người có số may mắn nữa mới được.  Nhiều học sinh giỏi ở bậc tiểu học mà cũng bị “trợt vỏ chuối” hoài. 

 Người viết có số may mắn nên thi đâu đậu đó, có lẽ nhờ má tôi  cho ăn chè đậu đỏ nhiều trước khi đi dự thi hay chăng? 

 Người viết vẫn nhớ ngày đi nghe kết quả trúng tuyển, mẹ tôi và tôi hồi hộp lắng nghe loa phóng thanh đọc tên và số báo danh của “sĩ tử” được trúng tuyển,   Lo sợ, hồi hộp lắm bạn ạ!  Khi nghe tên mình được xướng danh, tôi đã la lớn và nhảy tưng lên, xong rồi lại chen lấn dò xem có tên mình trên bản danh sách trúng tuyển được dán trong một khung lưới  trước cổng trường rồi mới chịu theo má tôi về nhà. 

HinhGiaLongngayxua.jpg

 Thế là con bé nhỏ nhắn bé tí tẹo kia bây giờ là nữ sinh một trường nữ trung học  danh tiếng nhất Việt Nam rồi đấy nhé.  Mẹ tôi đặt may ngay cho tôi hai bộ áo dài trắng để thay đổi khi đi học. 

SLmoidaulopdethatGL-1957.jpg

 Ngày đầu tiên đi học Gia Long, mẹ tôi phải dẫn tôi đi đến trường, tìm xe chở học trò   đón tôi  đi học và đưa tôi về nhà sau khi tan học. 

 Chương trình  học ở trung học gồm có hai phần: Trung học đệ nhất cấp và Trung học đệ nhị cấp.

 Chương trình Trung học đệ nhất cấp dành cho học sinh lớp đệ thất (Mới vào năm thứ nhất), đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ. Cuối niên học mỗi lớp  sẽ có một kỳ thi lên lớp.  Nếu đậu  kỳ thi cuối niên học mới được lên lớp kế tiếp, nếu rớt thì phải ở lại lớp.  Thi rớt hai lần ở mỗi lớp  sẽ bị đuổi ra khỏi trường.  Cuối năm lớp Đệ Tứ là phải thi bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp.  Nếu đậu, mới được tiếp tục lên học chương trình Trung học đệ nhị cấp.

 Chương trình đệ nhị cấp gồm có lớp đệ tam, đệ nhị, đệ nhất. Bắt đầu lớp đệ tam là học sinh phải chọn ban ngành để học cho đến hết chương trình đệ nhị cấp này.  Học sinh có thể chọn ban học tùy theo sở thích, khả năng của mình.  Có ba ban: ban A là ban  Lý Hóa Vạn  Vật, Ban B là ban Toán và Ban C là ban Văn Chương.  Tôi thì  “văn dốt toán dở” nên chỉ có ban A là thích hợp nhất tuy rằng  tôi cũng khoái thơ văn, thích làm thi sĩ lắm.

 Hồi mới vào  học lớp Đệ thất, người viết rất khâm phục các bậc đàn chị học các lớp trên mình  nhất là các chị học chương trình đệ nhị cấp. Tôi thấy họ sao mà giỏi quá, không biết sau này mình có học được như vậy không?  Các chị lại là thiếu nữ 17, 18 tuổi rồi nên nhiều chị đẹp lắm. 

Đám nhóc con như  tụi tôi đến giờ chơi là chạy về dãy lớp các chị để ngắm nhìn người đẹp rồi xuýt xoa, bàn tán, khen chê.  Thỉnh thoảng có mấy anh các lớp lớn  ở các hiệu đoàn khác đến bán báo  cho nhà trường, tụi tôi chạy theo nhìn với ánh mắt ngưỡng phuc.  Con nít mà!

  Cuối năm Đệ Nhị là học sinh phải thi bằng Tú Tài 1. Đây là kỳ thi quan trọng, nhất là đối với nam sinh vì cuộc đời anh sẽ phải thay đổi  rất nhiều nếu anh rớt Tú tài 1 như câu hát dưới đây:

“Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ

 Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con”

 Anh sẽ không còn ôm mộng hải hồ, hoặc làm quan to chức lớn được vì anh sẽ phải lên đường đi thụ huấn ở Đồng Đế  học làm trung sĩ  mà thôi.

 Còn phía nữ sinh thì cũng chỉ  còn con đường đi lấy chồng hay đi làm việc thư ký mà thôi,  nhưng không đến nỗi “thê thảm cuộc đời” như các anh nam sinh.

 Đậu Tú tài 1 rồi thì mới được lên học lớp Đệ Nhất để tiếp tục thi Tú Tài 2 cuối năm và con đường tương lai mới được rộng mở sau cánh cửa Đại học, nếu bạn đậu Tú tài 2.

 Thi Tú Tài 1 và 2  ngày xưa  phải thi cả phần viết lẫn phần vấn đáp. Có đậu thi viết rồi mới được vô thi vấn đáp để gạn lọc lại thành phần “thi tủ” hay “quay phim”. Trời ơi! Cá muốn  vượt  được  “vũ môn” cũng mệt lắm  đấy! 

Suong Lam 1963 (1).jpg

 Theo thiển ý của người viết, thời áo trắng các trường trung học là thời kỳ  đẹp nhất, thơ mộng nhất  của đời học sinh vì khi bước chân vào đại học rồi thì bạn chỉ lo học làm sao cho ra trường sớm để đi làm việc cho rồi mà thôi chứ không có những phút giây mơ mộng nhiều như lúc còn học trung học.

Mời xem Youtube Một Thuở Học Trò

1,877 views Sep 7, 2016

Suong Lam Portland

901 subscri1,877 views Sep 7, 2016

Youtube Một Thuở Học Trò

 Board Suong Lam https://www.pinterest.com/suonglamportland/suong-lam/ 

Suong Lam 

Những ngày được cắp sách đến trường là những ngày hoa mộng nhất của chúng ta. Mộng ước tuổi thư sinh, tình yêu tuổi học trò, những bạn bè thân mến, những thầy cô giáo kính yêu là những kỷ niệm dấu yêu theo ta suốt đời để mà thương mà nhớ. Mời quý thân hữu thưởng thức một youtube về tuổi học trò của Sương Lam với hình ảnh của bảy năm học ở trường nữ trung học Gia Long (1956-1963) và hình ảnh mới nhất của Đại Hội Gia Long Thế Giới kỳ thứ 7 tại Washington DC năm 2015.

Hy vọng bạn sẽ thấy thấp thoáng hình ảnh của mình trong đó. Nhạc: Này Em Hỡi Nguyễn Tuấn phổ nhạc bài thơ Hỏi Em của Sương Lam do Lâm Dung trình bày thật nhẹ nhàng, tha thiết. Xin cám ơn các nghệ sĩ góp mặt trong youtube này

. Chúc vui khỏe

Sương Lam

Mời đọc thêm bài hát nói của anh Bùi Đức Hùng, bạn đồng môn QGHC của SL từ Úc Chàu mới gửi đến để tặng Sương Lam sau khi anh đọc xong bài tâm tình Ngày Xưa Tôi Đi Học của SL.

Xin đa tạ lòng tốt của “sư đệ” Bùi Đức Hùng luôn viết tặng SL những bài hát nói đầy tình cảm qúy mến nhau trong tình đồng môn QGHC . Smile!

“Ngày Xưa” Sương Lam đi Học!
(Bài Hát Nói ngẩu hứng, mộc mạc, đơn sơ cảm ơn và đáp lễ Nữ sĩ Sương Lam, chủ trì Một Cõi Thiền Nhàn đã chuyển đến một bài Hồi Ký rất hay mang tựa đề “Ngày Xưa Tôi Đi Học”.
Kính mời quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này!)

Thi đâu đậu đó!
Vì Tử Vi đã có sao chiếu mệnh “Vinh Quy Bái Tổ” rõ rệt, rành rành!
Đẹp như sương lam phủ chân mây, ôm cả bầu trời cao thẳm, trong lành!
Tiểu Học Võ Tánh! Trung Học Gia Long! Đại Học Quốc Gia Hành Chánh! Toàn là “Danh Môn, Chánh Phái”!

ThanhTịnh! Tựu trường hay mãi mãi!
Sương Lam! Trúng tuyển giỏi luôn luôn!
Ôi! Hình Nữ Sinh Gia Long trông sao mà thông minh sáng láng như nước chảy, mây tuôn!
Từ “U Mười, U Hai Mươi” đến “U Bảy Mươi, U Tám Mươi”! Cuồn cuộn kiến văn, học vị!

“Nụ Cười Sương Lam” tươi đẹp nhất! Dường như quy tụ toàn thể Chân, Thiện, Mỹ!
Nên vẫn “trẻ mãi không già” dù bây giờ tư cách là “Tỷ Trưởng” kính trọng xưng hô!
Thiền Nhàn Một Cõi! Kinh đô!
Kiến văn, giác ngộ điểm tô cuối đời!
Khôn ngoan, sáng suốt, khéo lời!
Xa xôi ngưỡng mộ! Gần thời quý thương!
Hành toàn phản chiếu tấm gương!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, Thứ Năm 12/09/2024
Kỷ niệm “Ngày Vội Sáng Tác” để tránh “Thứ Sáu, Ngày Mười Ba”!
Mùng Mười Tháng Tám (đủ) Âm Lịch, Năm Giáp Thìn, Ngày Kỷ Mão. Hành Thổ, Trực Phá, Sao Tỉnh. Cát thần : Thiên Ân, Ngũ Hợp, Minh Đường.
Tướng Tinh Con Mèo
Đi đứng khoan thai nhẹ như sương!
Rình mồi tĩnh lặng thấu âm dương!
Ra đòn chớp nhoáng không hề xảy!
Quý phái thâm trầm mãi mến thương!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 12/09/2024

Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé. 

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN-728-ORTB 1159-911924)

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Hình Ảnh nhiều tỉnh VN truớc 1975- Thật tuyệt

Hình ảnh nhiều Tỉnh VN trước 1975. Thật TUYỆT.. !!!

Sài Gòn 1950 – 1975

Quảng Trị

Quảng Tín

Huế xưa

Quảng Nam

Quảng Ngãi

Bình Định ngày cũ

Quy Nhơn ngày cũ

Nha Trang ngày cũ

Cam Ranh 1966-1972

Phan Rang ngày cũ

Pleiku ngày cũ

Ban Mê Thuột ngày cũ

Dalat ngày cũ

Vũng Tàu ngày cũ

Phước Tuy

Bình Long & Phước Long

Bình Dương ngày cũ

Biên Hòa

Thủ Đức – Dĩ An

Long An

Hậu Nghĩa

Cần Thơ ngày cũ

Vĩnh Long ngày cũ

Cảm ơn chị Therèse đã chuyển chia sẻ.

Kính chúc sức khỏe và an lạc.

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Mẹo Nhớ Chính Tả – Ý Nga

Kính nhờ Quý Vị chuyển cho các em ôn bài cũ trong Link MẸO NHỚ CHÍNH TẢ (321 chữ):

meo nho chinh ta-THU BUT & TRANH

Kính nhờ Quý Vị chuyển cho các em ôn bài cũ trong Link MẸO NHỚ CHÍNH TẢ (321 chữ):

meo nho chinh ta-THU BUT & TRANH


meo nho chinh ta-THU BUT & TRANHExplore this photo album by Y Nga on Flickr!

 Mẹo Nhớ Chính Tả – Ý Nga https://www.flickr.com/photos/132135602@N08/albums/72157707868273874/

Tái liệu rất hữu ích cho tất cả mọi người. Cảm ơn Ý Nga nhé.

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

30 Tháng 4 Gửi một chút quà cho anh em TPB & Nguời Dân NGhèo Tại Quê Nhà

Quỹ 30 tháng Tư gửi Một Chút Quà Cho Anh Em TPB & Người Dân Nghèo, vừa nhận đượcChi Phiếu 500 dollars của Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, 

Milwaukie Oregon:A. 

  A. Giúp Anh Em TPB:                                                   200.

B.   Giúp Cô Nhi, người già neo đơn chùa Từ Ân:              100.

C.   Giúp Cô Nhi, người già neo đơn chùa Bửu Thắng:       100.D.   

Giúp các em bị bại não, ung thư  Bệnh viện Ung Thư: 100.
Cảm ơn Ông Bà, sẽ làm theo lời dặn dò

Thưa anh Nguyễn Huy Điền và Nhóm Thiện Nguyện

Cảm ơn qúy anh chị đã tạo duyên cho gia đình Minh & Sương Lam được góp một phần nhỏ xoa dịu phần nào nỗi bất hạnh của những người nghèo khổ đáng thương ở Việt Nam do Nhóm của qúy anh chị chủ trương.

Sương Lam cảm ơn qúy thân hữu của Sương Lam đã hưởng ứng lời giới thiệu và kêu gọi của SL mở lòng từ bi góp tay với Nhóm của anh Nguyễn Huy Điền đem lại niềm vui nho nhỏ đến những kẻ bất hạnh này.

.

Gia đình Minh Và Sương Lam

From: Dien H. Nguyen <dien.nguyen44@yahoo.com>wrote:
Date: Sat, Feb 24, 2024 at 10:09 AM
Subject: Ông Bà Minh & Sương Lam Trần Gửi Một Chút Quà Tết Năm Giáp Thìn 2024 Cho Anh Em TPB & Người Dân Nghèo Tại Quê Nhà.
To: Dien Nguyen <dienhnguyen44@gmail.com>, Dien H Nguyen <nguyen.h.dien@gmail.com>
Tại Bịnh Viện Ung Thư Cơ Sở II số 12 đường 400 phường Tân Phú thành phố Thủ Đức, 

Hai Cô Giác Ngọc Phước và Linh Nguyệt trao “Tịnh Tài” của Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon,

giúp 8 em bị bịnh ung thư  bại não đóng viện phí, Hóa Trị & Xạ Trị (Chemotherapy and Radiation Therapy).

Inline imageInline imageInline imageInline image
Inline imageInline imageInline imageInline image

Cha mẹ các em và nhóm Thiện Nguyện, chân thành cảm tạ Ông Bà Minh & Sương Lam Trần

Inline image
Inline imageInline imageInline imageInline image
Inline imageInline imageInline imageInline image

Người dân nghèo vô gia cư và nhóm Hành Thiện, chân thành càm ơn Ông Bà Minh & Sương Lam Trần,Milwaukie Oregon.From: Dien H. Nguyen <dien.nguyen44@yahoo.com>wrote:
Date: Sun, Jan 21, 2024 at 9:28 PM
Subject: Quà Tết của Ông Bà Minh & Sương Lam Trần gửi Cho Anh Em TPB.
Tại Sa Đéc, nay đổi tên là tỉnh Đồng Tháp, những phần “Quà Tết” của Ông Bà Minh & Sương Lam Trần,Milwaukie Oregon đã được Thiện Nguyện Viên chúng tôi trao lại cho Anh Em TPB nghèo “Ăn Tết”
100 dollars đổi ra = 2.400.000 đồng bạc VN. Ba anh mỗi anh nhận 800.000 đồng.

Inline imageInline imageInline image

1. TPB Nguyễn Văn Hò, số quân: 56/786551 Đại Đội . 3 Tiểu Đoàn 542 ĐPQ . Chi Khu Kiến Văn,Tiểu Khu Kiến Phong. 

Bị thương ngày 20/10/1972 tại xã Bình Trung, vướng lưu đạn, cụt chưn phải.

Địa chỉ: 529 ấp Bình Linh xã Bình Thạnh huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp

Điện thoại: 084 6782 352.

2. TPB Dương Văn Lanh, số quân: 35/249632 Đại Đội 223 Tiểu Đoàn 500 ĐPQ Chi Khu Kiến Văn,Tiểu Khu Kiến Phong. 

Bị thương ngày 14/10/1971 tại xã Mỹ Thọ, trong lúc giao tranh trúng đạn,

gẩy chưn phải. Địa chỉ: 552 ấp Bình Linh xã Bình Thạnh huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp

Điện thoại: 077 2389 781.3. TPB Huỳnh Văn Hồng, số quân: 50/N00972 Nghĩa Quân xã Bình Thạnh 

Chi Khu Kiến Văn,

Tiểu Khu Kiến Phong, bị thương tháng 4/1974 tại Cồn Dầu xã Bình Thạnh, đi hành quân đạp

trái, cụt chưn phải. Địa chỉ: 114 ấp Bình Phú Lợi xã Bình Thạnh huyện Cao Lãnh tỉnh

Đồng Tháp. Điện thoại: 093 9301 834.
Anh em TPB tại Cao Lãnh tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp hiện nay) và nhóm nhỏ, cùng Tri Ân Công Đứccủa Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon.

Và Tại thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương:

Inline image
Inline image
Inline image

4. Lê Hoàng Ngọc Sinh, số quân: 73/134715 Trung Đội 1, Đại Đội 111 Tiểu Đoàn 11 Sư ĐoànNhảy Dù kbc 3727, Tiểu Đoàn Trưởng Trung Tá Lê Văn Mễ, Bị thương tháng 11/1974 tại Huế. Hành quân, giẫm 

mìn, cụt chưn phải sát háng, ngón tay bị rút gân. Địa chỉ: tổ 2 ấp 3 xã Hội Nghĩa, 

huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương. Điện thoại: 036 4284 854.

5. TPB Huỳnh Văn Hường, số quân: 57/172765, đại đội 3 Tiểu Đoàn 31 Liên Đoàn 3 BĐQ. Bị thương

tháng 08/1968 tại xã An Giang, quận Phước Bình, tỉnh Phước Long, đi hành quân chạm địch, trong 

lúc giao tranh trúng đạn, cụt cánh tay phải gần nách. Địa chỉ tổ 2 khu phố 8 phường Uyên Hưng

thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Điện thoại: 038 8404 701.

6. TPB Nguyễn Cầu, số quân: 45/164276 Tiểu Đoàn 102 ĐPQ Tiểu Khu Quảng Tín kbc 4032.

Bị thương tháng 3/75 tại Suối Đá, Tiên Phước Quảng Nam, trúng miễng pháo kích mù hai mắt,

mảnh còn trong người, địa chỉ: thôn Long Hội, xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

Điện Thoại: 093 5647 369.

Anh em TPB và nhóm nhỏ Thiện Nguyện chúng tôi, chân thành cảm ơn Ông Bà Minh & Sương Lam Trần,

Milwaukie Oregon.

From: Dien H. Nguyen <dien.nguyen44@yahoo.com>wrote:

Sent: Tuesday, January 9, 2024 at 10:56:52 PM PST

Subject: Ông Bà Minh & Sương Lam Trần gửi Quà Tết Cho Trẻ Mồ Côi, Khuyết Tật, Người Già Neo Đơn hai chùa Bữu Thắng, và Từ Ân.
Tại Chùa Bửu Thắng..
Chùa tọa lạc tại phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ tỉnh ĐắkLắk. Trụ Trì là  Sư Cô 

Thích Nử Huệ Huyền, 

thế danh Trần Thị Nina, phone: 090 5912 868 & 0500 3573 523. Chùa cách Saigon 350 cây số đường bộ. 

Inline imageInline image
Inline image

Tại Chùa Từ Ân.  

Tọa lạc tại Tổ 16, Ấp Mỹ Tân, Xã Mỹ Xuân, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa
Vũng Tàu, Chùa cách thành phố Saigon 

vào khoảng 100 cây số về hướng Đông Nam. Trụ trì là

Sư Cô Nhuận Thiện thế danh Nguyễn Thị Hòa Bình và Nhuận Tâm thế danh Trương Thị Thanh Vy. Điện Thoại 0643-895090. 

Cell phone: 090 6839 241.

Inline imageInline image
Inline image
Cô Vãi Giác Ngọc Phước & Chú Tiểu Thiện Tài Nguyễn Huy Điền, xin thay mặt cho Quý Sư Cô, các em mồ côi Khuyết tật, 

quý Cụ Già Neo Đơn trong hai chùa Từ Ân, Bà Rịa, Bửu Thắng Ban Mê 

Thuột, chân thành cảm ơn Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon, đã phụ với nhà chùa 

nuôi dưỡng, đóng học phí cho các em trong 

nhiều năm qua.From: Dien H. Nguyen <dien.nguyen44@yahoo.com>wrote:
Subject: Ông Bà Minh & Sương Lam Trần Hổ Trợ Quán Cơm 2.000 đồng.
Tại Quán Cơm Nụ Cười 4, toạ lạc tại: 148Bến Vân Đồn, Phường 6, Quận.4, Saigon, điện thoại: 38267065.
Mở cửa Thứ Ba, Thứ Năm, Thứ Bảy/tuần. Mỗi phần cơm là 2.000 đồng bạc 

tương đương với lại 9 US cents. Bà Vãi Giác Ngọc Phước trao 100 dollars của Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon tận tay người điều hành quán, hổ trợ, để duy trì tiếp tục sinh hoạt nầy, ngỏ hầu giúp Sinh Viên Học Sinh và bà con nghèo có chổ ăn cơm trưa với giá rẻ.

Inline imageInline image
Inline image

   Thư Cảm Ơn, nhờ trao lại cho Ông Bà Minh & Sương Lam Trần Milwaukie Oregon.

HÀNH TRỈNH ĐEM ÁNH SÁNG CHO BÀ CON NGHÈO BỊ ĐỤC THỦY TINH THỂ DO SỰ TÀI TRỢ CỦA:

Inline image
Inline image

1. 30 THÁNG TƯ, GỬI MỘT CHÚT QUÀ CHO ANH EM TPB TẠI QUÊ NHÀ:

Cô Thân Mỹ Thùy, Houston Texas                                                200.đã trao.Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas:                                      200.đang đi trao.

Hải Quân Lưu Đày Nguyễn Hùng Sơn, Pittsburg California:            100.đã trao.
HHCĐ cho HQ Đệ I Song Ngư Nguyễn Văn Hiền, PD Tâm Hưỡng:   100.đã trao.

Gia Đình Ông Bà Quân Vận Huỳnh Văn Chương, Irvine California:    50.đã trao cho anh TPB Đệ, Huế.

Người Lính Già San Jose California Trần Khánh:                             400.đã trao .

Anh Trần Minh, Tacoma Washington:                                            100.đã trao cho anh TPB Tìm  

Anh Trần Minh, Tacoma Washington:                                            200.đã trao .

Ông Nguyễn Minh Tuấn, Arizona:                                                 200.đã trao .Cô Phương Linh, Garden Grove California:                                    100.đã trao .
Ông Nguyễn Thanh Bình, San Francisco California:                        400.

Hải Quân Lưu Đày Nguyễn Văn Hùng, Tigard Oregon:                    300.

Anh Chị Độ Trần & Trang Nguyễn, Houston Texas:                         300.

Cô Phương Lan Nguyễn, San Jose California:                                 300.
Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon:                       200.

2. Giúp Trẻ Mồ Côi, Khuyết Tật, Người Già Neo Đơn Tại Chùa Bửu Thắng, Buôn Ma Thuột ĐắkLắk:
HHCD Ông Dương Thái Hiệp – Pháp Danh Nhuận Lộc:              100.đã trao.
Cô Phương Lan Nguyễn, San Jose California:                          100.
Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon:                100.

3. Chùa Từ Ân Bà Rịa Vũng Tàu.

Cô Phương Lan Nguyễn, San Jose California:                            100.

Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon:                  100.

HHCD Ông Dương Thái Hiệp – Pháp Danh Nhuận Lộc:                 100.đã trao.

4.  Giúp các em bị bịnh ung thư, bại não đóng tiền Hóa và Xạ trị Tại Bịnh Viện Đa Khoa Long An:  

Cựu Nử Sinh Gia Long Cô Huệ Hạnh, Dallas Texas:                                300.đã trao.Hải Quân Lưu Đày Nguyễn Hùng Sơn, Pittsburg California:                     100.đã trao.

Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon :                             100.đã trao.

Ông Bà Võ Văn Á, Beaverton Oregon:                                                   100.đã trao.

Mũ Đỏ Hồng Nhàn, Lynnwood Wa:                                                        100.đã trao.HHCĐ cho Cụ Ông Nguyễn Văn Năm Pháp Danh Diệu Âm &             Cụ Bà Lê Thị Tư Pháp Danh Diệu Ngộ:                                                   100.đã trao.

Anh Chị Lâm Chí Tâm & Mỹ Hương, Renton Wa:                                      200.đã trao.

Cô Nguyễn Thanh Tuyền, California:                                                      100.đã trao.
Cô Thân Mỹ Thùy, Houston Texas:                                                          200.đã trao.Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas:                                                  200.đã trao.Hồi Hướng Công Đức cho Hương Linh Bauer Nguyễn, pháp danh Bala:       300đã trao.

Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon:                                100.đã trao.Cô Hoàng Thị Ngọc Thúy, Bad-Nauheim West Germany (Tây Đức):   25.600.000 đồng bạc VN.đã trao.

Cô Phạm Diệu Hương, Santa Clara California:                                          100.đã trao.

Đạo Hữu Diệu Mai, Antioch California:                                                     100.đã trao. 

Đạo Hữu Quảng Minh, Houston Texas:                                                     100.đã trao

Cô Kiều Mộng Hà, Austin Texas:                                                              200.đã trao.

Cựu Nử Sinh Gia Long Nguyễn Thị Tuyết Lang, San Diego Ca:                    100.đã trao.HHCĐ cho 

Cụ Ông Nguyễn Văn Năm Pháp Danh Diệu Âm &             Cụ Bà 

Lê Thị Tư Pháp Danh Diệu Ngộ:                                                      100..đã trao.HQLĐ Huỳnh Duy Trình:                                                                          100.đã trao.HQLĐ Nguyễn Duy Thành, San Jose California:                                         100.đã trao.HQLĐ Phan Ngọc Hùng, Olympia Wahington:                                            100.đã trao.Nguyễn Minh Đạt, Bellevue Washington:                                                   200.đã trao.Hồng Đại Lâm, Boeing Co. :                                                                    200

.đã trao.Cựu Nữ Sinh Gia Long Nguyễn Thị Tuyết Lang, 

San Diego California:           100.đã trao.

Gia Đình họ Dương: 300.đã trao 

Hải Quân Lưu Đày Nguyễn Hùng Sơn, Pittsburg California:                          100.đã trao 

Cựu Nử Sinh Gia Long Nguyễn Thị Tuyết Lang, San Diego Ca:                      100.đã trao

Cô Mai, Vancouver Canada:                                                               200 Canada.đã trao 

Cô Đoàn Phương Mai, San Jose California:                                                   200.đã trao 

Cô Phương Lan Nguyễn, San Jose California:                                                100.

Ông Bà Minh & Sương Lam Trần, Milwaukie Oregon:                                      100.

5. Quỹ Dự Trữ:

Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas:                             300.đã trao cho 5 anh, còn tiếp

Cô Thân Mỹ Thùy, Houston Texas                                      300.

6. Hành Trình Đem Ánh Sáng Lại Cho Người Dân Nghèo Bị Đục Thủy Tinh Thể (Cataract Surgery):Cô Thân Mỹ Thùy, Houston Texas                                      100.

Cô Dương Thái Phượng, Houston Texas:                             100.

7. Tặng Thẻ Bảo Hiểm Y Tế 1 Năm Cho Anh Em TPB Nghèo:
Cô Thu Thảo, California:                                                   200.đã trao.Cô Minh Hải, Cerritos California:                                        

300.đã trao 5 thẻ BHYT, còn tiếp

Hội Thông Thiên Học Nam California:                               1.000.

Inline image
Bà Vãi thay mặt Quý MTQ, mổ mắt cho bà con nghèo.
Thiện Tài Nguyễn Huy Điền tường trình.

Những Hình Ảnh Không In Ra Được

Chuyên cua nhà vanTiêu Tu+

Tôi không có đi di tản hồi những ngày cuối tháng tư 1975 nên không biết cảnh di tản ở Sài gòn ra làm sao. Mãi đến sau nầy, khi đã định cư ở Pháp, nhờ xem truyền hình mới biết ! Sau đây là vài cảnh đã làm tôi xúc động, xin kể lại để cùng chia xẻ…

Chuyện 1

Ở bến tàu, thiên hạ bồng bế nhau, tay xách nách mang, kêu réo nhau ầm ĩ, hớt hơ hớt hải chạy về phía chiếc cầu thang dẫn lên bong một chiếc tàu cao nghều nghệu. Cầu thang đầy người, xô đẩy chen lấn nhau, kêu gọi nhau, gây gổ nhau… ồn ào. Trên bong tàu cũng đầy người lố nhố, giành nhau chồm lên be tàu để gọi người nhà còn kẹt dưới bến, miệng la tay quơ ra dấu chỉ trỏ… cũng ồn ào như dòng người trên cầu thang !

Giữa cầu thang, một bà già. Máy quay phim zoom ngay bà nên nhìn thấy rõ : bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, không mang bao bị gì hết, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chi tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó ! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng sao hình ảnh đó cứ đeo theo tôi từ bao nhiêu năm, để tôi cứ phải thắc mắc : bà già đó sợ gì mà phải đi di tản ? con cháu bà đâu mà để bà đi một mình ? rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao ? còn cậu thanh niên đã làm môt cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu ?…  Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, bởi vì anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn loạn như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…

Chuyện 2

Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, mặt quay ra ngoài về phía máy quay phim. Nhờ máy zoom vào bà nên nhìn rõ nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh !

Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi, yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà: cái nón lá ! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ ? Nghĩ như vậy nên tôi thấy thương bà già đó vô cùng. Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương.

Chuyện 3

Cũng trên bến tàu nầy. Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Thiên hạ quay đầu nhìn nhưng vẫn hối hả đi qua, còn tránh xa cô ta như tránh một chướng ngại vật nguy hiểm ! Trong sự ồn ào hỗn tạp đó, bỗng nghe tiếng được tiếng mất của người đàn bà vừa khóc la vừa làm cử chỉ cầu cứu. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đầu chờ vờ mắt sâu hõm, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ.

Người mẹ – chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quang của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy – người mẹ đó quýnh quáng ngước nhìn lên luồng người, tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, nhìn thấy. Họ dừng lại, khom xuống hỏi. Rồi họ ngồi thụp xuống, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ, họ nói gì với nhau rồi nói gì với người đàn bà. Thấy cô ta trao đứa bé cho một anh thanh niên. Anh nầybồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu từ lúc nào, bắt đầu thoa dầu rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội.

Thiên hạ vẫn rần rần hối hả đi qua. Hai thanh niên nhìn về hướng cái cầu thang, có vẻ hốt hoảng. Họ quay qua người đàn bà, nói gì đó rồi đứng lên, bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió ! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con. Một anh lính Mỹ chợt đi qua, dừng lại nhìn, rồi như hiểu ra, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xóc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Viết lại chuyện nầy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng tôi vẫn cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Và dĩ nhiên, bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm !

Chuyện 4

Cũng trên bến tàu. Cầu thang đã được kéo lên. Trên tàu đầy người, ồn ào. Dưới bến vẫn còn đầy người và cũng ồn ào. Ở dưới nói vói lên, ở trên nói vọng xuống, và vì thấy tàu sắp rời bến nên càng quýnh quáng tranh nhau vừa ra dấu vừa la lớn, mạnh ai nấy la nên không nghe được gì rõ rệt hết ! Máy quay phim zoom vào một người đàn ông đứng tuổi đang hướng lên trên ra dấu nói gì đó. Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Một lúc sau, người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu, gương mặt sạm nắng của ông ta có vẻ rất thành khẩn. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng cỡ nửa cườm tay, đầu dâyđong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, mỉm cười sung sướng, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Xong, ông đưa tay ra dấu cho bên trên. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn ten dọc theo hông tàu. Nó không la không khóc, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói : « Đi, đi ! Đi, đi ! ». Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất ! Bấy giờ, tôi đoán ông ta là cha của thằng nhỏ đang tòn ten trên kia… Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt !

Không biết thằng nhỏ đó – bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi — ở đâu ? Cha con nó có gặp lại nhau không ? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy…

Tiểu Tử

(Email Bạn gửi- Cảm ơn chị Thérèse Huỳnh

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Các Youtube Channel về Sài Gòn do Sương Lam sưu tầm

Board Sàigòn Việt Nam 306 Pins

Các Youtube về Saigòn SL sưu tầm trên internet 3-22-24

Saigon

1- Ống Kính Đường Phố / SONNY CHANNEL Youtube Channel

Ống Kính Đường Phố / SONNY CHANNEL

@SonnychannelUSA‧263K subscribers‧1.7K videos

Kênh Ống Kính Đường Phố như một chiếc tivi di động ghi lại tất cả các con đường địa danh trên toàn thế giới mà Sonny đi qua cũng như các sự kiện cuộc sống, thể thao,Du lịch,Văn hoá,Ẩm thực,Du lịch đời thường trong và ngoài nước…Sonny có gia đình định cư tại Mỹ vì thế muốn chia sẻ đặc biệt là SÀI GÒN để quý khán giả đã từng sống tại Sài Gòn có thể nhìn lại sự thay đổi và cảnh vật ngày xưa.

https://www.youtube.com/channel/UCZ36SqmTrhekH-FDkRI7bjg

bit.ly/2sc6p3jand 2 more links

https://www.youtube.com/@SonnychannelUSA/videos

https://www.youtube.com/@SonnychannelUSA/shorts

https://www.youtube.com/@SonnychannelUSA/playlists

https://www.youtube.com/@SonnychannelUSA/community

2-SÀI GÒN NGÀY NAY youtube Channel

SÀI GÒN NGÀY NAY

@saigonngaynayTuanDuong‧607K subscribers‧9.7K videos

Đăng ký https://goo.gl/N4Wdhy kênh YouTube Sài Gòn Ngày Nay (miễn phí) để xem cuộc sống, con người, cảnh đẹp Sài Gòn hôm nay, những thay đổi và phát triển của Hòn Ngọc Viễn Đông

goo.gl/N4Wdhy and 1 more link

NO THANKS NO MONEY ONLY FOODS! Chị TRÂM TRẦN & ANH VŨ TRẦN cùng chị NGUYỆT tài trợ

5,745 views17 hours ago

CHÂN THÀNH CẢM ƠN QUÝ NHÀ HẢO TÂM ỦNG HỘ CHƯƠNG TRÌNH: + Chị Trâm Trần + anh Vũ Trần ở Tampa Florida gởi $1000 phát thức ăn ở BV CHỢ RẪY (nhờ cô Hồng ở BÌNH THẠNH liên lạc với Tuấn Dương). + Chị Nguyệt ở Massachusett gởi $500 để phát tiền và tặng TD cùng TNV, còn 7tr9 chưa phát + Cô Ẩn Danh tặng 20tr cho ai biết CẢM ƠN TNV ❤️ Tham gia làm hội viên của kênh Sài Gòn Ngày Nay để ủng hộ Tuấn Dương ❤️ Bấm https://goo.gl/N4Wdhy giúp kênh Sài Gòn Ngày Nay của Tuấn Dương đạt 1.000.000 lượt đăng ký ❤️ Vui lòng liên lạc số điện thoại chính chủ của Tuấn Dương để tránh bị lừa gạt ❤️ Email: dangtuanduong@gmail.com (tiếp nhận các hoàn cảnh khó khăn, trao đổi thông tin, góp ý) ❖▬▬▬▬▬▬▬▬▬ஜ۩❤️۞❤️۩ஜ▬▬▬▬▬▬▬▬▬❖ © Copyright by Sài Gòn Ngày Nay ☞ Do not Reup © #TuanDuong người sáng lập YouTube #SaigonNgaynay chia sẻ về #CuocSongSaigon những mảnh đời bất hạnh, những cảnh đẹp, đường phố, ẩm thực, văn hóa… cảm ơn Quý vị đã Quan tâm theo dõi.

READ MORE 

Sàigòn Việt Nam

Saved

youtube.com

 3-Board Sàigòn Việt Nam 306 Pins

SÀI GÒN NGÀY NAY youtube Channel

https://www.youtube.com/channel/UCn6cXyp9x1L1SJ5nGJEZOxA

https://www.youtube.com/@saigonngaynayTuanDuong/videos

https://www.youtube.com/@saigonngaynayTuanDuong/shorts

https://www.youtube.com/@saigonngaynayTuanDuong/streams

https://www.youtube.com/@saigonngaynayTuanDuong/playlists

https://www.youtube.com/@saigonngaynayTuanDuong/community

4- Cuộc Sống Sài Gòn  Youtube Channel

Cuộc Sống Sài Gòn

@CuocSongSaiGon‧492K subscribers‧11K videos

*Chia sẻ cuộc sống nơi Sài Gòn + văn hóa giải trí và món ngon ảm thực.*

facebook.com/profile.php?id=100014579051147

https://www.youtube.com/channel/UCJucs3KKotPlqF1GZo-DWbw

https://www.youtube.com/@CuocSongSaiGon/videos

https://www.youtube.com/@CuocSongSaiGon/shorts

https://www.youtube.com/@CuocSongSaiGon/streams

https://www.youtube.com/@CuocSongSaiGon/playlists

https://www.youtube.com/@CuocSongSaiGon/community

SÀI GÒN BA MAI CỒ Youtube Channel

SÀI GÒN BA MAI CỒ

@SaigonBaMaiCo‧87.1K subscribers‧1.3K videos

SÀI GÒN BA MAI CỒ là kênh duy nhất HOÀI NIỆM SÀ

https://www.youtube.com/@SaigonBaMaiCo

https://www.youtube.com/@SaigonBaMaiCo/videos

https://www.youtube.com/@SaigonBaMaiCo/shorts

https://www.youtube.com/@SaigonBaMaiCo/streams

https://www.youtube.com/@SaigonBaMaiCo/playlists

https://www.youtube.com/@SaigonBaMaiCo/podcasts

5-Sài Gòn Camera youtube Channel

Sài Gòn Camera

@saigoncamera‧34.6K subscribers‧342 videos

Kênh chia sẽ về cuộc sống thường ngày. Rất mong các bạn ủng hộ.

https://www.youtube.com/@saigoncamera

https://www.youtube.com/@saigoncamera/videos

https://www.youtube.com/@saigoncamera/playlists

CUỐI NĂM, Khu Nhà Triệu Đô Nghệ Sĩ Việt Hương .Sao Không Ai Ở |TÔI YÊU SÀI GÒN,

Tôi Yêu Sài Gòn.

418K views 1 month ago

6-Tôi Yêu Sài Gòn.

Tôi Yêu Sài Gòn.

@toiyeusaigon.8510‧11.1K subscribers‧151 videos

Kênh Tôi Yêu Sài Gòn ,chia sẻ với các bạn về hình ảnh sài gò

https://www.youtube.com/@toiyeusaigon.8510

https://www.youtube.com/@toiyeusaigon.8510/videos

https://www.youtube.com/@toiyeusaigon.8510/shorts

https://www.youtube.com/@toiyeusaigon.8510/playlists

Tại sao họ lại “THÁO CHẠY” bỏ lại một CƠ NGƠI NHƯ VẬY quá xót xa.

Sài Gòn Camera

Xuất hiện làn sóng “THÁO CHẠY” khỏi penthouse, biệt thự triệu đô? | CafeLand

CAFELAND

69K views 7 days ago

Khối TÀI SẢN mơ ước của NS Việt Hương: Biệt Thự 300 TỶ như Cung Điện – TIN GIẢI TRÍ

7-CAFELAND Youtube Channel

CAFELAND

@CAFELANDVIETNAM‧761K subscribers‧10K videos 

CafeLand TV là kênh YouTube chính thức của Network Bất động sản CafeLand. Mục tiêu của chúng tôi là xây dựng các video mang lại cho mỗi người dân, nhà đầu tư và doanh nghiệp các thông tin, kiến thức hữu ích một cách nhanh chóng trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Qua đó quý vị sẽ có thêm các thông tin hữu ích phục vụ cho việc tìm hiểu và đầu tư trên thị trường bất động sản.

cafeland.vnand 9 more links

https://www.youtube.com/@CAFELANDVIETNAM

https://www.youtube.com/@CAFELANDVIETNAM/videos

https://www.youtube.com/@CAFELANDVIETNAM/shorts

https://www.youtube.com/@CAFELANDVIETNAM/streams

https://www.youtube.com/@CAFELANDVIETNAM/playlists

https://www.youtube.com/@CAFELANDVIETNAM/community

8-TIN GIẢI TRÍ

1.42M subscribers

Subscribe

119

Share

22K views 10 days ago #tinnhanh3phut #hongloan #vulinh

Khối TÀI SẢN mơ ước của NS Việt Hương: Biệt Thự 300 TỶ như Cung Điện – TIN GIẢI TRÍ 📌

Khối TÀI SẢN mơ ước của NS Việt Hương: Biệt Thự 300 TỶ như Cung Điện – TIN GIẢI TRÍ

TIN GIẢI TRÍ

1.42M subscribers

Subscribe

TIN GIẢI TRÍ là kênh cập nhật tin tức Sao Việt ⭐ – tin tức showbiz – đời sống xã hội – tin hot 24h mới nhất hằng ngày. Xin mời Quý Vị nhấn nút “đăng kí kênh” và chuôn …

…more

AllFrom TIN GIẢI TRÍViet HuongRelatedRecently uploadedWatched

Hoài Tâm Đột Nhập Biệt Phủ 300 Tỷ của chồng nghệ sĩ hài Việt Hương – Chuyện Đàn Ông 10 (Phần 1)

Hoài Tâm Official

632K views 11 days ago

9-SaiGon Life Youtube Channel

SaiGon Life 

@SaiGonLife87‧167K subscribers‧602 videos

► SaiGon Life . Nơi chia sẻ những hình ảnh đời thường về cuộc sống và trải nghiệm những điều thú vị ở sài gòn

youtube.com/channel/UCLPGttP5D3k9Dwy4YBbFZnA?sub_confirmation=1and 2 more links

https://www.youtube.com/@SaiGonLife87

https://www.youtube.com/@SaiGonLife87/videos

https://www.youtube.com/@SaiGonLife87/streams

https://www.youtube.com/@SaiGonLife87/playlists

https://www.youtube.com/@SaiGonLife87/podcasts

 10-DONATE SHARING Youtube Channel

DONATE SHARING

@DONATESHARING‧223K subscribers‧3.9K videos

My Youtube Channel https://goo.gl/s5vsdl

https://www.youtube.com/@DONATESHARING




and 1 more link

https://www.youtube.com/@DONATESHARING/videos

https://www.youtube.com/@DONATESHARING/streams

https://www.youtube.com/@DONATESHARING/playlists

https://www.youtube.com/@DONATESHARING/community

Youtube khác v SG có giá trị lịch s

1-https://chuyenxua.net/

https://chuyenxua.net/category/saigonxua

https://chuyenxua.net/category/vannghexua

https://chuyenxua.net/category/nguoivietxua

https://chuyenxua.net/category/vietnamxua

2-Sử Ký Kiến Thức

 Ngược dòng lịch sử thăm lại Sài Gòn Xưa | Những hình ảnh hiếm về “Sài Gòn Hòn ngọc Viễn Đông”

Sử Ký Kiến Thức

396K views 5 months ago

Sử Ký Kiến ThứcYoutube

Sử Ký Kiến Thức

@SuKyKienThuc‧12.5K subscribers‧58 videos

Sử Ký Kiến Thức là kênh thực hiện các nội dung lịch sử Việt Nam và Thế giới, chia sẽ các vấn đề về lịch sử, tạo giá trị lưu giữ về những sự kiện lịch sử đã xảy ra, với mong muốn giáo dục các thế hệ biết nhiều hơn về lịch sử ! Ngoài ra Sử Ký Kiến Thức cũng cung cấp các nội dung về kiến thức hữu ích.

https://www.youtube.com/@SuKyKienThuc

https://www.youtube.com/@SuKyKienThuc/videos

https://www.youtube.com/@SuKyKienThuc/playlists

https://www.youtube.com/@SuKyKienThuc/community

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Cứu Trợ Thiện Nguyện

Bếp cơm Từ Thiện 0 đồng                                  Lời trao đổi giữa Cô Trang Và Bà Vãi Phước Ngọc.

Inline image

Inline image

Inline image

Download

Add to Drive

Save to Photos  Hàng trăm hộp cơm sườn và những bịch canh rau tần ô.
Inline image

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

https://www.youtube.com/user/suonglam

Truyện Kiều trọn bộ pdf

SauNguyen, TS4Attachments8:30 PM (1 hour ago)
to “QGHC_Global, “QGHC_Global, Peter

Kính chuyển tiếp.

Sáu Nguyễn, ts4

_________________

———- Forwarded message ———
From: Peter Nguyen
Date: Sat, Mar 9, 2024, 6:43 PM
Subject: Fwd: I am sharing ‘truyen_kieu_tron_bo-8.pdf’ with you
To: Peter Nguyen 

Mời quý vị rảnh đọc 3254 câu Kiều của đại thi hào Nguyễn Du

” Mua vui cũng được một vài trống canh “

nth.

.

One attachment • Scanned by Gmail

Preview attachment truyen_kieu_tron_bo-8.pdf

truyen_kieu_tron_bo-8.pdf

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Chứng Chỉ – Văn Bằng tốt nghiệp ở Miền Nam trước 1975

TÀI LIỆU QUÝ: Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975

Y Nguyên Mai TrầnPosted: 04/09/2020 | Author: maivantran | Filed under: Viet Nam | Tags: Bằng cấp trước 1975Chứng chi và bằng cấp trước 1975Giáo Dục miền NamGiáo Dục thời Pháp thuộc |5 Comments

Bài viết sưu khảo này dựa vào những nhận thức và kinh nghiệm của người viết sinh ra trong thập kỷ 1940s thừa hưởng môt nền giáo dục khai phóng ở miền Nam. Từ ngôi trường đơn sơ trong xóm nhỏ rồi bước sang ngưởng cửa tiểu học, trung học, đại học trong suốt một quá trình dài 15 năm, trong mổi giai đọan đánh dấu bằng sự xét nghiệm với những mảnh bằng hay chứng chỉ tôt nghiệp mà các cơ quan giáo dục cấp phát .Với những chứng chỉ mảnh bằng ấy những người tốt nghiệp đã tham gia vào đời sống kinh tế, cộng đồng xã hội giáo dục một cách hiệu quả và thành công.

Bài viết sẽ không đề cập chuyên sâu về lịch sử, khía cạnh chính trị, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Thời Pháp thuộc cũng như thời Việt Nam Cộng Hòa) vì những khía cạnh này đả được đề cập đến từ khá nhiều tài liệu trên mạng cũng như sách vở.
Ngày 21/12/1917 Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ký nghị định ban hành tổng quy chế nền học chính toàn cõi Đông Dương. Văn bản được xem như bộ luật giáo dục với mục tiêu thống nhất nền giáo dục bản xứ, tiến tới xóa bỏ nền giáo dục cũ.

Hệ thống Giáo Dục Pháp Cho Người Bản Xứ (Enseignement Franco-Indigène), thường được gọi là Giáo Dục Pháp-Việt được dựa vào hệ thống giáo dục của chính quốc, đã được người Pháp ở Việt Nam điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh và thực tế tại Việt Nam. Tuy tiếng Pháp vẫn dùng là chính ngữ, tiếng Việt là phụ ngữ, mục tiêu tối hậu là loại bỏ Nho học và thay thế dần bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho người bản xứ và guồng máy cai trị.

Hệ thống giáo dục mới được hình thành sau khi Pháp chiếm Nam kỳ. Với Hòa ước Giáp Tuất 1874 Nam kỳ trở thành thuộc địa Cochinchine và Hòa ước 1883-84 Patenôtres đặt Bắc kỳ -Tonkin và Trung Kỳ-AnNam dưới quyền bảo hộ. Mặc dù triều đình Nguyễn được cai trị ở Huế, nhưng chịu sự kiểm soát chặt chẻ của Toàn Quyền Đông Dương. Tưởng cũng xin nhắc lại Liên Bang Đông Dương-L’Indochine gồm Lào, Cao Miên và ba miền của Việt Nam, cơ sở đầu não đặt tại Hà Nội, dưới quyền của Toàn Quyền Đông Dương.
Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam kỳ tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm. Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn của các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Ở Bắc kỳ và Trung kỳ, dưới quy chế bảo hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn. Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm Mậu Ngọ 1918. Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máy quan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ.

Người viết xin ghi nhận sự đóng góp của bạn bè đồng môn khắp nơi trên thế giới. Hy vọng những tư liệu này được xem là tài liệu tham khảo quý báo cho các thế hệ sau cũng như môt chút tâm tình cuả một thời vàng son trẻ tuổi dùi mài kinh sử trong những mái trường trước 1975.

Phần A. Nền Giáo Dục ở miền Nam trước năm 1954- thời Pháp thuộc.

Trước năm 1954, tuy có nhiều biến chuyển theo vận nước nổi trôi, nhưng chương trình Pháp- Việt Franco-Indigènes căn bản là hệ thống giáo dục tại Việt Nam trong suốt thời kỳ Nam Kỳ thuộc địa, Trung Kỳ và Bắc Kỳ bảo hộ . Song song với chương trình này còn có chương trình chinh quốc Pháp áp dụng cho một số trường được mở ra để phục vụ người Pháp và những người có quốc tịch Pháp trong thời gian đầu. Điển hình như trường Chasseloup Laubat Sài gòn(1874),trường trung học Albert Sarraut ở Băc Kỳ (1908), Yersin ở Đà Lạt (1935). Cả 3 trường này bắt đầu cũng được hình thành từ bậc tiểu học trước rồi sau mới đến bậc Tú Tài.

Advertisement

Làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục Pháp-Việt-Franco-Indigène phổ thông cho người Việt, người Pháp đã cho xây dựng một số trường như trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879), Collège de Cantho (1917) trường Quốc Học Huế (1896), trường trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908) ). Ba trường này khi mới mở chỉ có bậc tiểu học đến vài chục năm sau mới có 2 trường Quốc Học Huế và trường Bưởi giảng dạy bậc Tú Tài.

Thống Đốc  Nam Kỳ Le Myre de Vilers ̣(xem hình ̣95), người chú trọng mở mang giáo dục Pháp-Việt đã cho mở trường trung học đầu tiên và duy nhất cho cả Miền Nam vào cuối thế kỷ XIX lấy tên Collège de Mytho. Trường bắt đầu chỉ có hai năm học sau đó tăng lên bốn năm đầu thế kỷ XX được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers.

Chương trình Pháp-Việt gồm có ba bậc học : Tiểu học, Trung học và Đại học. Ở bậc Tiểu học, lớp khởi đầu là lớp Năm hay lớp Đồng ấu (Cours Enfantin), kế đến là lớp Tư hay lớp Dự bị (Cours Préparatoire), lớp Ba hay lớp Sơ đẳng (Cours Elémentaire). Cả ba lớp này thuộc cấp Sơ học tiểu học, học xong, học sinh thi lấy bằng Sơ học Yếu lược (Certificat d’Etudes Primaire Elémentaire).
Sau cấp Sơ học là cấp Tiểu học gồm ba lớp: lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen de 1ère Année), lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen de 2è Année), và lớp Nhất (Cours Supérieur). Xong lớp Nhất, học sinh thi lấy bằng Tiểu học (Certificat D’Etude Primaire Complémentaire Indochinois, viết tắt là C.E.P.C.I).
Sau bằng Tiểu học , học sinh phải học lên bốn năm nữa rồi thi bằng Cao Đẳng Tiểu học, tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes Primaire Superieur Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet primaires , người Việt gọi là bằng Thành Chung, bằng Diplôme.
Ai thi đậu mới được học lên bậc Trung học-còn gọi là bậc Tú Tài. Bậc này gồm ba năm, năm thứ nhất, năm thứ hai-Bac 1ere và năm thứ ba- Bac 2ème
Kể từ cuối thập niên 1920, chương trình thi bậc Tú Tài đã được Nha Học chính Đông Pháp quy định, gồm hai kỳ thi cách nhau một năm, kỳ thi lấy bằng Tú Tài I hay Tú Tài bán phần (Baccalauréat Première Partie) và kỳ thi Tú Tài II hay Tú Tài toàn phần (Baccalauréat Deuxième Partie, gọi tắt là Bac). Người dự thi Tú Tài toàn phần bắt buộc phải có bằng Tú tài bán phần
Tú Tài toàn phần –Pháp-Việt còn gọi là Certificat de Fin d’Etudes Secondaire Franco-indigènes

Tú Tài toàn phần Pháp chính thống còn có tên là Diplôme du Baccalaureat de l’enseignement du second degré.

Hình 1: Bằng cấp, chứng chỉ thời Pháp-trước 1954.

Với việc cải cách giáo dục, việc đưa chữ quốc ngữ vào tiểu học đã giúp trẻ nhanh chóng biết đọc, biết viết so với việc học chữ Hán khó nhớ. Chương trình học bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Bên cạnh các trường phổ thông, Pháp còn lập ra trường dạy nghề để học sinh khi học xong tiểu học có thể chọn học nghề.

Thời kỳ 1945-1955, tình hình giáo dục rất phức tạp. Pháp vẫn chỉ đạo nền giáo dục tại Nam Kỳ, nhưng giữa Pháp và các nước liên hiệp Đông Dương cũng đã ký hiệp ước chuyển giao các cơ quan giáo dục và văn hóa từ năm 1949. Đa số các trường đại học, cao đẳng Pháp thành lập, đặt tại Hà Nội cho toàn các xứ Đông Dương, được dời vào miền Nam sau hiệp định Genève 1954.

Đặc biệt tại Saigon, hai trường trung học theo chương trình Pháp-Việt đầu tiên được thành lập là trường Áo Tím-Gia Long và trường Petrus Trương Vĩnh Ký.

Trường L’école des Jeunes Filles Indigènes)  Áo Tím –Gia Long  xây dựng xong năm 1915 được Toàn Quyền Ðông Dương Ernest Nestor Roume  và Thống Ðốc Nam Kỳ Courbeil cắt băng khánh thành và khai giảng khóa đầu tiên. Trường dạy hai cấp. Sơ học và Tiểu học. Cuối năm Sơ học , học sinh phải thi lấy chứng chỉ Sơ học yếu lược ( Certficat d’Etudes Primaires Elementaires Franco-Indigènes), sau đó học thêm ba năm thi bằng Tiểu học yếu lược . CEPCI (tức Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Năm đầu tiên chỉ có 42 nữ học sinh trong bộ đồng phục áo dài tím. Tên trường Áo Tím bắt đầu từ đó.

Ðến tháng 9 năm 1922, trường được nâng lên cấp Cao đẳng tiểu học (tương đương với bậc Trung Học Ðệ Nhứt Cấp sau này). Toàn Quyền Albert Sarraut khai giảng lớp đầu tiên của bậc Cao đẳng tiểu học và  đổi tên trường là Collège des Jeunes Filles Indigènes .

Advertisement

Thời Nhật trở lại Đông Dương, năm 1940 , trường đổi tên thành trường trung học Gia Long. Tên trường tồn tại mãi đến sau năm 1975 với tên mới Nguyển thị minh Khai.

 Hình  2: Trường Gia Long, Trường Petrus Ký.

Thống Đốc Nam Kỳ B.de La Brosse ký nghị định 18-12-1927 thành lập trường trung học Pháp Việt mang tên “Petrus Ký trung-học đường”.
Tiền thân của trường Petrus Ký có tên là Collège de Cochinchine (một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat (hiện nay là Lê Quý Đôn), dành cho học sinh người Việt Nam
Ngày 11-8-1928, khi trường mới xây dựng xong ở vị thế ngày nay, trường khởi đầu chỉ dạy bậc Cao đẳng tiểu học, mang tên Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký-Petrus  Ký trung học đường- khai giảng năm học đầu tiên tháng 9, 1927-1928 với 4 lớp học với hơn 200 học sinh chuyển qua theo học chương trình Pháp và Pháp Việt từ trường Collège de Cochinchine (Ngoại trưởng và Chủ Tịch Thượng Viên VNCH Trần Văn Lắm là một trong những học sinh khóa đầu tiên 1927-1928. Ông mất tại Canberra Úc năm 2001). Vào năm 1953, trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký là ngôi trường trung học công lập duy nhứt của Sài Gòn dành cho nam sinh, dạy về văn hóa của chương trình Trung học Việt Nam
Nếu đứng ngay trước cổng chánh trên đại lộ Cộng Hòa, hiện nay là đường Nguyễn Văn Cừ vẩn còn cổng xây dựng bằng gạch kiên cố với 2 cột cao độ 4m trên có khắc 2 câu chữ Hán “Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt, Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm.” Phía trên có khắc tên “Trường Trung Học Petrus Ký.”. Sau 1975, trường có tên Lê hồng Phong.

Bằng cấp chương trình chính quốc Pháp

Chương trình giáo dục Pháp chính quốc được áp dụng cho các trường dạy học trò người Pháp và những người có quốc tịch Pháp.

Hình 3: Bằng Tiểu học yếu lược (Tiểu học) chương trình Pháp-Certificat d’études primaires élémentaires” (CEPE) –cấp cho cô học trò người Pháp Colette Parlet  ở Cái Bè, Nam Kỳ, bằng cấp chính quốc Pháp của Département du Var –Academie D’Aix.

Bằng cấp chương trình Pháp-Việt Franco-Indigènes

Thời này những người tốt nghiệp với bằng Tiểu Học được xem có học thức khá, nói tiếng Pháp khá thông thạo, thường làm ” thầy thông thầy ký” .Những người có bằng Cao Đẳng Tiểu học được xem có trình độ học thức cao, thường đãm nhiệm những vai trò quan trọng trong cơ sở Pháp Việt.

A1-Bậc Tiểu học-Cao đẳng Tiểu Học

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 4: Văn bằng Tiểu Học cấp ở Nam Kỳ thuộc địa Cochinchine 1933

https://musee-ecole-montceau-71.blogspot.com/2019/03/lecole-dans-lalgerie-francaise.html

Hình 5: Văn bằng Tiểu Học cấp ở Bắc Kỳ Bảo Hộ -Protectorat du Tonkin 1929

Hinh 6M Bang cap tieu hoc Bao Ho ha noi

Hình 6: Văn Bằng Tiểu Học cấp ở Bắc Kỳ Bảo Hộ -Protectorat du Tonkin 1934

Hinh 7M Bang Phap

Hình 7.Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học hay Tiểu Học Yếu Lược 1915-Certificat d’Etudes Primaires –Franco Indigènes cấp thời Đông Pháp –Liên Bang Đông Dương-Bắc Kỳ Bảo Hộ (Protectorat du Tonkin). Đây không phải là bằng Sơ Học Yếu Lược-Certficat d’Etudes Primaires Elementaires Franco-indigènes

Hinh 8m Bang tieu hoc cua tran van tuyen

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 8: Văn bằng Tiểu học yếu lược bản xứ Certificat d’Etudes Primaires –Franco Indigènes. thời Đông Pháp –cấp bởi Thủ Hiến Trung Kỳ Bảo Hộ (Protectorat de L’Annam)

Hinh 9M CEPCI tieu hoc Phap

Hình 9: Bằng cấp tiểu học bổ túc cấp bởi bộ trưởng Giáo Dục của Chính Phủ Đại Nam dưới thời vua Bảo Đại năm 1939. Bằng này đòi hỏi người tốt nghiệp học thêm một năm sau khi có bằng Tiểu Học ̣để đi dạy học hoặc đãm nhiệm trọng trách cao hơn.

http://trantocvinhhien.com/photos_video/dicao/dicao-ongba/

Hinh 10M certificat d'etudes primaire complimentaire indochinoise

Hình 10: .Văn bằng Tiểu Học bổ túc cấp  ở Nam Kỳ thuộc địa Cochinchine 1940s

A2-Bậc Trung Học

Hình 11:. Bằng Diplôme-còn gọi là Brevet primaires- Người Việt gọi là bằng Thành Chung. Bằng này cấp cho học sinh người Pháp ở Pháp.

hinh 12M Diplome D.erudes complementaires F-ranco -indegenes-Thanh chung Diploe

Hình 12. Văn bằng Diplôme D’Etudes Complimentaires-Franco-Indigènes- tương đương bằng Brevet-Thành Chung -cấp cho học sinh theo hệ thống Giáo Dục Pháp Việt thời Liên Bang Đông Dương 1919.

hinh 13M Bang thanh chung 1923

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 13: Văn bằng Diplôme D’Etudes Complimentaires-Franco-Indigènes- tương đương bằng Brevet-Thành Chung -cấp cho học sinh theo hệ thống  giáo dục Pháp Việt thời Liên Bang Đông Dương 1923

hinh 14M Diplome d'etudes primaires superieur -Jan 1945

Hình 14: Diplôme D’etudes Primaires Superieures-Cao đẳng Tiểu Học, còn gọi là bằng Thành Chung.
Văn bằng cuối cùng này cấp bởi Toàn Quyền Đông Dương ngày 31/5/1945 sau khi Nhật chiếm Đông Dương ngày 9 Tháng Ba 1945

hinh 15M Diplome du baccalaureat academie de rennes

Hinh 15: Mẩu bằng Tú Tai II chương trinh Pháp cấp bởi Academie de Rennes cho học sinh tốt nghiệp các trường như Lê Quý Đôn, Marie Curie… Saì Gòn

A3-Bậc Đại học thời Pháp Thuộc

Hinh 16M

Hình 16: Bằng tốt nghiệp Đại học Khoa học Ứng dụng chuyên ngành Công Chánh do Chính phủ Đông Dương cấp năm 1926. Người được cấp bằng này đã theo học ở trường Cao Đẳng École des Sciences Appliquées Hà Nội

Hinh 17M

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 17: Văn Bằng tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương, Hà Nội 1928

Phần B. Hệ thống giáo dục thời Quốc Gia Việt Nam và thời Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1955

Quốc gia Việt Nam là một chính phủ thuộc Liên bang Đông Dương Pháp, tuyên bố chủ quyền toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, tồn tại trong giai đoạn từ giữa năm 1948 đến 1955. Thủ đô đặt tại Sài Gòn.

hinh 18M

Hình 18. Bằng cấp Sơ Đẳng Tiểu Học-Bằng Tiểu Học (Certificat d’Etudes Primaires Franco-Indigenes) dưới thời thủ tướng Nam Việt Trần Văn Hửu 1951.
Người tốt nghiệp có thể làm thằy thông, thầy ký rồi, nếu học thêm 4 năm nửa thì có thể dự thi bầng Cao Đẳng Tiểu Học tương đương vói bằng Thành Chung, hay Trung Học đệ nhất cấp.

hinh 19M

Hình 19: Bằng Tiểu Học do Nha Học Chính Nam Việt cấp 1952

Sau hiệp định Genève 20/7/1954, người Pháp trả lại độc lập cho toàn Việt Nam. Miền Nam và một nửa Trung Kỳ từ vỉ tuyến thứ 17 trở về Nam được giao cho chính phủ Quốc Gia với quốc trưởng Bảo Đại lảnh đạo và sau đó Đệ nhất Cộng hòa ra đời 1955 với Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Chương trình giáo dục VNCH dưạ trên chương trình Pháp Việt để lại, cũng gồm ba bậc Tiểu học : 5 năm, gồm lớp năm, tư, ba, nhì và nhất. cuối lớp nhât có kỳ thi lấy bằng tiểu học
Trung học: 7 năm gồm hai cấp Trung học Đệ Nhất Cấp gồm các lớp Đệ Thất, Lục, Ngủ và Tứ, cuối năm Đệ Tứ thi Bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Kỳ thi này học sinh phải đậu cả phần thi viết và vấn đáp. Tuy nhiên phần thi vấn đáp được loại bỏ 1959-60 và kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp được bỏ hẳn 1966-67.
Trung học Đệ Nhị Cấp gồm ba lớp Đệ Tam, Nhị và Nhất. Cuối lớp Đệ Nhị phải qua kỳ thi Tú Tài I học sinh phải đỗ Tú Tài I mới được tiếp tục lên đệ Nhất để thi Tú Tài II. Kể từ năm 1973 trở kỳ thi Tú tài I được bải bỏ, chỉ còn phải thi tú tài II  còn gọi là Tú Tài toàn phần phổ thông bằng hình thức thi trắc nghiệm và được chấm thi bằng máy điện toán IBM
Đại Học: Người có bằng Tú Tài II được ghi tên theo học hoặc thi tuyển vào các phân khoa thuộc Viện Đại học, các trường Cao Đẳng và Chuyên nghiệp như Hoc Viện Quôc Gia Hành Chánh, Trường Vỏ Bị Liên Quân Đà Lạt…
Một điểm đáng chú ý trong giai đoạn chuyển tiếp của chương trình giáo dục Pháp Việt trước 1954 và chương trình Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa, cuối năm Tiểu học, xong lớp Nhất học sinh không đậu thi tuyển vào ngay lớp Đệ Thất trường công Trung Học miển phí, có thể học trường tư hoặc trải qua một lớp trung gian là lớp Tiếp liên (Cours Certifié) để năm sau thi lại có cơ hội tốt.

B1. Tiểu Học

Hinh 20M

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 20: Học trò lớp Tư 1954 trường Chi Lăng trên đường Chi Lăng-gần trường Vẻ-Trang trí Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định

Hinh 21M

Hình 21: Bằng cấp Tiểu học thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa 1960 cấp cho học sinh tốt nghiệp trường tiểu học.

B2-Trung Học Đệ Nhất Cấp

Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ). Học sinh muốn vào đệ Thất trường trung học công lập phải qua kỳ thi tuyển khó khăn, nếu không phải vào hệ thống trường tư phải trả học phi.

Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp (tiếng Pháp: brevet d’etudes du premier cycle). Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp (xem hình 24). Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966–67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.

Hinh 22M

Hình 22: Bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp 1960

http://www.ninh-hoa.com/TruongKhacNhuong-ChuyenBayGioMoiKe-NhungBanCungQue.htm

hinh 23M

Hình 23:.Chứng chỉ Trung Học Đệ Nhất Cấp 1963

hinh 24M

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 24.Chương Trình môn thi Viết và Vấn đáp cho bằng Trung Học Đệ Nhất cấp

hinh 25M chung chi trung hoc de nhat cap

Hình 25: Chứng chỉ cuối cùng Trung Học Đệ Nhất cấp 1967-sau đó kỳ thi này được bải bỏ.

B3 Trung học Đệ Nhị Cấp -Bậc Tú Tài

Chương trinh Tú tài gồm ba năm học đệ Tam, Nhị, Nhất. Cuối năm đệ Nhị thi Tú Tài I, phải đậu Tú Tài I mới được tiếp tục lên đệ Nhất để thi Tú Tài II. Tú Tài I được bãi bỏ năm 1973.
Vào đầu thập niên 1960 ngoài phần thi viết còn có phần thi vấn đáp. Phần vấn đáp này được bãi bỏ kể từ năm 1968.
Cũng nên biết Tú Tài phổ thông, học sinh có thẻ chọn Ban. Ban A cho khoa học thực nghiệm, Ban B thiên về Toán + Lý Hóa, Ban C về Văn Chương và ban D về Cổ Ngữ.
Song song với bằng Tú Tài phổ thông, còn có bằng Tú Tài Kỹ Thuật (xem hình 34), cho học sinh thuộc hệ thống trường chuyên nghiệp kỹ thuật, điển hình như trường Kỹ Thuật Cao Thắng, Nguyễn Trường Tộ ở Sài Gòn, le Bac- Baccalaureat Tú Tài Pháp (cho học sinh chương trình Pháp như các trường Lê Quý Đôn, Taberd… ) bằng cấp do cơ quan giáo dục Pháp cấp. Học sinh chương trình Pháp có thể tham dự kỳ thi Tú Tài phổ thông như học sinh hệ Tú Tài phổ thông. Thời gian học của các hệ Tú Tài là 3 năm.

Hình 26: Tiền thân của trường Kỹ thuật Cao Thắng- đường Đổ Hửu Vị-Huỳnh Thúc Kháng (hình bên phải) và trường Nguyễn Tường Tộ-đường Hồng Thập Tự)

hinh 27m chung chi tu tai phan I

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 27.Chứng chỉ Tú Tài I ban A thời Đệ Nhị Cộng Hòa 1972

Hình 28: Chứng chỉ Tú Tài II ban C thời Đệ Nhị Cộng Hòa 1972

Hình 29: Chứng chỉ Tú Tài II Ban B dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa 1959

hinh 30m tu tai ii

Hình 30: Chứng chỉ Tú Tài II ban C, D thời Đệ Nhất Cộng Hòa 1962

hinh 31m tu tai ii nguyen van cua

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 31.Chứng chỉ Tú Tài Hai ban A, 1971.

hinh 32m tu tai hai

Hình 32: Chứng chỉ Tú Tài Phần Hai-Ban A qua cuộc thi trắc nghiệm bằng Công Nghệ IBM 1972

Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển…

Ngoài chương trình giáo dục phổ thông, còn có chương trình gíáo dục chuyên nghiệp, điển hình là học sinh có thể theo học và được cấp  những chứng chỉ như sau

Hinh 33m TU Tai2 Duong Nhien Quy

Hình 33 :Chứng chỉ Tú Tài II đặc biệt cấp trong kỳ thi đua Trung Học toàn quốc, ngành Địa Lý, hạng Đương Nhiên 1966

Người được cấp chứng chỉ này đoạt giải nhất trong cuộc thi đua Trung Học Toàn Quốc VNCH về môn Địa Lý năm 1966. Ḥạng Đương Nhiên được xem như giữa hạng Bình và Ưu của Tú Tai Hai phổ thông.

Hình 34 : Bằng Tú Tài II Kỹ thuật, ngành Công Nghệ 1972

B4. Bậc Đại Học–Cao Đẳng.

.

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 35: Không ảnh và Cơ sở trường Y Dược trở thành Đại Học Đông Dương 1906.

Trường Y khoa Đông Dương được thành lập năm 1902, sau do sự phát triển giáo dục, chính trị trường trở thành Đại học Đông Dương 1906. Sau hiệp định Genève 1954, các cơ sở đại học, chuyên nghiệp thành lập dưới thời Liên Bang Đông Dương ở Hà Nội được di dời vào Nam.
Trước 1975 VNCH có 8 viện Đại Học. Ba viện Đại học công lập Viện Đại học Sài Gòn và Viện Đại học Huế và Viện Đại học Cần Thơ và 5 viện Đại Học tư ,
: Viện Đại Học Đà Lạt, Đà Lạt của giáo hội Công giáo, viện Đại Học Hòa Hảo Long Xuyên, An Giang, Phật Giáo Hòa Hảo , Viện Đại học Vạn Hạnh Saigon Giao Hoi Phật Giáo VN Thống Nhất, Viện Đại Học Minh Đức Gia Định, Giáo Hội Công Giao) . Viện Đại học Sài Gòn lớn và quy mô nhất, có uy tín nhất trong và ngoài nước.
Viện Đai học Saigon (tọa lạc Công trường Chiến sỉ- Hồ Con Rùa, xem hình 57) bao gồm nhiều phân khoa khác nhau: như Đại học Khoa học (Khoa học Đại học đường), Đại học Kiến trúc, Đại học Luật khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa, Đại học Y khoa, Đại học Dược khoa, Đại học Nha khoa. Ngoài các phân khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn, còn có trung tâm, học viện chuyên nghề như Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (tiền thân là trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc) đào tạo kỹ sư cho các ngành Nông Nghiệp, Lâm Sản, Chăn nuôi và Thú Y. Năm 1972 trung tâm đổi thành Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp. Học viện Quốc gia Hành Chánh trực thuộc Phủ Tổng thống sau trở thành trường Quốc Gia Hành Chánh, chuyên đào tạo các viên chức hành chánh trung, cao cấp, và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (Phú Thọ) đào tạo các kỹ sư, cán sự, công chánh, địa chánh, công nghệ, điện lực, hóa học và chuyên viên hàng hải, thương mại
Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học và học viện trong nước.

Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia Nông Nghiệp, Quốc Gia Hành chánh và Sư Phạm.

B4A-Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ

Trường Cao đẳng Công chánh liên bang Đông dương được thành lập năm 1911 tại Hà Nội, hoạt động liên tục đến năm 1945 thì tạm ngừng. Đến năm 1947 Trường được tái lập tại Sài Gòn và đặt trụ sở tại Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ, tọa lạc số 48 Phan Đình Phùng 1957, Giám Đốc là Kỹ Sư Trần Văn Bạch. Cũng nên biết thêm Kỹ Sư Bạch tốt nghiệp khóa 1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris và được mời về làm Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải trong nội các ngày 6 tháng 7, 1954 của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Ông là một người rất nhân từ, khiêm tốn, ông cho nhiều học sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại Sàigòn, được phép vào trú ngụ trong mấy cái xưởng không dùng đến. Vì sự quan tâm đặc biệt về tình trạng Giáo dục Kỹ Thuật  thực tế ở Miền Nam, ông rời bỏ chức vụ Tổng Trưởng để đãm nhiệm chức vụ Giám Đôc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, tiền thân của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ -Chẳng những là Giám Đốc các trường Cao Đẳng , ông còn là Giáo Sư thỉnh giảng của trường Đại học Khoa Học, Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc…Hầu hết các sinh viên ngành Khoa học, Kỹ thuật đều là học trò của ông. Kỹ sư Trần Văn Bạch, một nhà giáo dục tận tâm,đã đóng góp to lớn cho nền giáo dục miền Nam nói riêng, và Việt Nam nói chung. Ông sinh năm 1910, mất 1975.

Năm 1957, trường được chuyển về Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật được thành lập do Sắc Lệnh năm 1957 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục.  Địa điểm của Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật  trước 1975 nằm ở  góc đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành. Từ năm 1974 Trung Tâm trở thành một bộ phận của Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức .

Trong khuôn viên Trung Tâm gồm các Trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp, trường Hàng Hải, trường quốc gia thương mại trung cấp. Muốn nhập học phải có Tú Tài 2 ban A hoặc B qua một kỳ thi tuyển gắt gao, thời gian học cho Kỹ Sư từ 4 đến 5 năm tùy theo ngành, ban Cán Sự 2 năm. Trong khuôn viên Trung Tâm gồm:
Trường Cao Đẳng Công Chánh: đào tạo Kỹ Sư Cầu Cống, Cán Sự Công Chánh, Địa Chánh.
Trường Cao Đẳng Điện Học (được thành lập năm 1957): đào tạo Kỹ Sư Điện, Cán Sự Điện, Điện Tử.
Trường Kỹ Sư Công Nghệ : thành lập năm 1956, đào tạo Kỹ Sư Công Nghiệp.
Trường Cao Đẳng Hóa Học: đào tạo Kỹ Sư Hóa Học 1968, Cán Sự Hóa Học 1962.
Trường Việt Nam Hàng Hải : được thành lập năm 1951, được sát nhập vào Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật năm 1957. đào tạo Thuyền Trưởng Viễn Duyên, Sĩ Quan Cơ Khí Hàng Hải.
Trường Quốc Gia Thương Mãi -Bách Khoa Trung Cấp : đào tạo chuyên viên thương mại, kế toán

hoc vien quoc gia ky thuat

Hình 36: Huy hiệu Trung tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ-Sài Gòn

HỌC VIỆN QUỐC GIA KỸ THUẬT (1972 – 1975)

Theo sắc lệnh số 135SL/GD ngày 15/9/1972 của chính quyền VNCH, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật được đổi tên là Học viện Quốc gia Kỹ thuật (HVQGKT) gồm sáu trường thành viên: trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản, trường Cao đẳng Công chánh,trường Cao đẳng Công nghệ (Quốc gia Kỹ sư Công nghệ), trường Cao đẳng Điện học,trường Cao đẳng Hóa học, trường Cao đẳng Hàng hải (Việt Nam Hàng hải).

Advertisements

REPORT THIS AD

Đáng chú ý, trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản được thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng còn lại). Học sinh có bằng tú tài 2, ban B, hoặc tú tài của trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này

Hình 37: Cổng trước Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phủ Thọ đường Lý Thường Kiệt

B4A1-Trường Cao Đẳng Công Chánh

Đến 1945, khi quân đội Nhật đảo chính Pháp, trường Cao đẳng Công Chính của Liên Bang Đông Dương tại Hà Nội phải đóng cửa.

Tháng 7 năm 1947, Trường Cao đẳng Công Chính cũng được tái lập tại Sài Gòn và chỉ dành cho Ban Trung Đẳng. Đến năm 1950, chính phủ Pháp chuyển giao trường lại cho chính quyền Quốc gia Việt Nam, năm 1957,  ông Trần Văn Bạch tốt nghiệp trường Ecole nationale des ponts et chaussées Paris được cử giữ chức Giám đốc trường và trường được đổi tên thành Trường Cao đẳng Công Chính Việt Nam

1956-1957, trường chuyển dời và sau đó trực thuộc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ cùng với các trường Cao đẳng Điện, Công nghệ Hoá Học và Hàng Hải. Khoá Kỹ Sư Công Chính cuối cùng thuộc quy chế cũ tốt nghiệp năm 1961 và khoá Cán Sự Công Chính tốt nghiệp năm 1960.

Sau khi trực thuộc Trung tâm, trường đào tạo 2 ban là Ban Cán Sự và Ban Kỹ Sư.

Đối với Ban Kỹ Sư, kể từ năm 1958, trường chỉ nhận những thí sinh có bằng tú tài toàn phần Toán hay Kỹ thuật vào thi, chương trình học trong 4 năm, sinh viên tốt nghiệp được cấp Văn Bằng Kỹ Sư Công Chính hay Địa Chính.

Ban Cán Sự có những thay đổi đáng kể, ban đầu (1957) thí sinh thi vào học phải có văn bằng tốt nghiệp Trung học Phổ Thông hay Kỹ thuật và có chứng chỉ học lớp Đệ Tam. Thời gian học là 3 năm, và 3 tháng hè phải đi tập sự tại các Nha, Sở hay Ty Công Chính địa phương. Thi tốt nghiệp phải đạt trung bình hơn 12 điểm mới được cấp phát văn bằng “Cán Sự Công Chánh” hay “Cán Sự Địa Phương”. Năm 1967, do kỹ thi Trung học Đệ Nhất Cấp bị bãi bỏ nên thí sinh phải có chứng chỉ Tú Tài I mới được vào thi, chương trình học rút lại còn 2 năm. Đến năm 1973, kỳ thi Tú Tài I bãi bỏ, chỉ còn bằng Tú Tài II nên các thí sinh cũng phải có bằng Tú Tài II mới được dự thi với chương trình học kéo dài 2 năm.

https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh

Hinh 38: Trường Cao Đẳng Công Chánh

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 39: Bằng Kỹ Sư Công Chánh 1961 thời Đệ Nhất Cộng Hòa-Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ Saigon

hinh 40m bang ky6 su cong chanh1954-56

Hình 40: Bằng Kỹ Sư Công Chánh thời Quốc Gia Việt Nam 1949-1955

Hinh 41m

Hình 41. Cán Sự Công Chánh Đông Dương 1934

B4A2-Trường Cao Đẳng Điện Học.

Hình 42: Trường Cao Đẳng Điện Học

B4A3-Trường Kỹ Sư Công Nghệ 

Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ được thành lập năm 1956 trực thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật, Bộ Giáo Dục, Việt Nam Cộng Hòa. Đến năm 1973, sau nhiều lần cải tổ cho phù hợp với tiến trình canh tân kỹ nghệ quốc gia, trường được đổi tên là Cao Đẳng Công Nghệ vẩn thuộc Trung Tâm bấy giờ đã đổi thành Viện Đại Học Kỹ Thuật. Trung Tâm thường được dân chúng gọi là trường Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ vì tọa lạc tại Phú Thọ – một địa điểm  phía Tây Bắc cách Sài Gòn khoảng 10 km. Trường bắt đầu với khóa 01 cho đến Khóa 19,khóa cuối cùng nhập học năm 1974.

Học sinh dự thi tuyển khó khân vào ban Kỹ Sư phải có bằng Tú Tài  ban A hay B. Sau 4 năm tốt nghiệp sẻ được cấp băng Kỹ Sư Công Nghệ. Trường đào tạo các kỹ sư công nghệ các ngành cơ khí, kỹ nghệ sắt, luyện kim, xe hơi ô tô…

Sau biến cố lịch sử 30-4-1975, cùng chung một số phận của miền Nam, trường Kỹ Sư Công Nghệ, đã bị xóa tên và tiếp thu bởi Khoa Cơ Khí thuộc Đại Học Bách Khoa Hà Nội

Trường đã góp phần rất lớn cho đất nước trong việc đào tạo kỹ sư chuyên viên và quản trị cho nền công nghiệp cũng như các cơ quan kỹ thuật. Khắp nơi, từ nhà máy điện, đường, giấy vải, xi măng… cho đến các cơ quan hành chánh, giáo dục và quân sự, đều có sự hiện diện của kỷ sư công nghệ.

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 43 Trường Cao Đẳng Công Nghệ và trường Hàng Hải

Hình 44. Trường Cao Đẳng-Công Nghệ-Ban Cơ Khí

B4A4 Trường Hàng Hải.

Hình 45: Huy hiệu trường Việt Nam Hàng Hải

Trường Hàng Hải được chính thức thành lập vào năm 1951, do nghị định số 155-Cab/SG ngày 27-12-1948.
Đầu tiên trường tọa lạc tại khu Hỏa Xa đường Phạm Ngũ Lão với danh hiệu: Việt Nam Hàng Hải Học Liệu. Sau một thời gian được dời đến khuôn viên trường Pétrus Ký, giữa Đại học Sư Phạm và trường Pétrus Ký. Đến năm 1957, Trường được xác nhập vào Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật do sắc lệnh số 213 GD ngày 26-09-1957 của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, dời về Phú Thọ trong khu vực các trường kỹ thuật với danh hiệu: Trường Việt Nam Hàng Hải

Trường Việt Nam Hàng Hải chỉ đào tạo:

– Thuyền Trưởng Viễn Duyên (Grand Cabotage),
– Thuyền Trưởng Cận Duyên (Petit Cabotage),
– Sĩ Quan Cơ Khí Hạng nhất,
– Sĩ Quan Cơ Khí Hạng nhì.
Hàng năm thí sinh dự kỳ thi tuyển rất đông; như năm 1971, khoảng 1200 thí sinh cho ban Chỉ huy và 950 cho ban Cơ khí. Từ trước đến nay trường chọn mỗi ban khoảng 23 người trúng tuyển vào năm thứ nhất. Muốn dự kỳ thi tuyển vào trường, thí sinh phải có văn bằng Tú tài phổ thông (Ban B) hay kỹ thuật trở lên.

http://maitruongvaquythay.blogspot.com/2009/06/viet-nam-hang-hai-hoc-hieu-ecole-de.html

B4A5-Trường Cao Đẳng Hóa học.

Năm 1962, trường Cao đẳng Hóa học được thành lập đào tạo các cán sự hóa học, thí sinh dự thi tuyển chỉ cần bằng Tú Tài 1 trở lên. Từ năm 1968 trường bắt đầu cho thi tuyển sinh viên kỹ sư Hóa học. Thí sinh phải có bằng Tú tài 2, ban B hay Kỹ Thuật . Sau 4 năm, sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Kỹ Sư Hóa Học.
Mục đ́ich của trường nhằm đào tạo chuyên viên trung và cao cấp cho sự phát triển và sự sáng tạo của Kỹ Nghệ Việt Nam.
-Hổ trợ và cung ứng nhu cầu cần thiết cho cuộc sống hàng ngày: Giấy , Sơn, Thuỷ Tinh, Xi măng, Diêm quẹt
-Hổ trợ hoat động sản xuất căn bản Canh Nông, Kỹ Nghệ Biến Chế kim loại, Kỹ Nghê Dệt, Kỹ Nghệ Dược Phẩm, Thực Phẩm
-Hổ trợ và phát triển các khu Công Nghệ như Khu Biên Hoà, An hòa, Nông Sơn, Phong Dinh, Cam Ranh, Nhà Bè Nha Trang
Phần đông sinh viên tốt nghiệp ra trường đảm nhận chức vụ quan trọng của những công ty nổi tiếng như:
-Công ty Giâý COGIDO -Tân Mai
-Công ty Xi măng H̀à Tiên
-Mỏ than Nông Sơn
-Công Ty Đường Việt Nam
-Các công ty dệt, nhuộm
-Viện bào chế Y Dược
-Trung tâm Khuếch trương Kỹ Nghệ
-Bộ Kinh Tế, Canh nông
-Sàigòn Thuỷ Cục …

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 46: Cao Đẳng Hóa Học
http://caodanghoahoc.net/gioi-thieu/gioi-thieu-gia-dinh-hoa-hoc-1.html

B4A6-Trường Quốc Gia Thương Mại

Trường Quốc-Gia Thương-Mại (Ecole Nationale De Commerce de Saigon) được thành lập vào giữa tháng 5 năm 1956 tại Sài Gòn. Trong thời điểm này, nhiều quốc gia trong khối Đông-Nam-Á, kể cả Việt Nam, vẫn chưa hề có một hệ-thống giáo-dục về Thương-Mại. Vì là trường dạy về Thương-Mại duy nhất trên toàn quốc nên đã được đặt tên là Trường Quốc-Gia Thương-Mại (QGTM).
Trường có mục đích đào tạo các sinh-viên thành những chuyên-viên có kiến-thức về hành-chính, tài-chính, quan thuế, thuế vu, ngân hàng…để đảm-nhiệm những chức-vụ quan trọng cho nhà nước, và các doanh-nghiệp thương-mại. Trường QGTM được tổ chức dựa theo khuôn khổ của Institut d’Enseignement Commercial – Université de Grenobe tại Pháp, với các môn học chính.
Khởi đầu, Trường QGTM có trụ sở tại số 2 Phạm Đăng Hưng – Đakao, trong khuôn viên Nha Kỹ-Thuật Học-Vụ. Cuối năm 1965, trường được dọn về trụ sở mới tại số 268 đường Nguyễn Văn Thoại, nằm trong khuôn viên của Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ.
Bắt đầu từ niên-khóa 1973-1974, Trường Quốc-Gia Thương-Mại trở thành Khoa Thương-Mại – Trường Đại-Học Chuyên-Nghiệp Trung-Cấp thuộc Viện Đại Học Sài Gòn (chương-trình được phỏng theo hệ thống Junior College của Hoa-Kỳ). Thí sinh có bằng Tú Tài toàn phần phải qua một cuộc thi tuyển gồm các môn Toán-Lý-Hóa và Kiến-thức phổ-thông để thành sinh viên khóa Thương-Mại.

Truong Quốc Gia Thương Mại

Hình 47:  Trường Quốc Gia Thương Mại

B4A7-Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật thành lập do Nghị Định số 1082/GD ngày 05/10/1962 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trực thuộc nha Kỹ Thuật và chuyên nghiệp học vụ, trụ sở ở Thủ Đức, trường đào tạo các giáo chức dạy các môn kỹ thuật cho các trường Sư Phạm Kỹ Thuật Trung Cấp. Trường có các ngành về Khoa Học Ứng Dụng, Khoa Học Chuyên Nghiệp, Kỹ Nghệ Họa, Thương Mại, Tiểu Công Nghệ. Đến niên khóa 1973-1974 trường được kết hợp với một số trường Cao Đẳng của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ để trở thành Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức dưới sự điều khiển trực tiếp của Bộ Văn Hóa Giáo Dục.

Advertisements

REPORT THIS AD

hinh 48m

Hình 48: Chứng chỉ tốt nghiệp Giáo sư Chuyên nghiệp cao cấp 1971.

B4B-Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp.

Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp là hậu thân của Trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm Đông Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture) tại Hà Nội do nghị định ngày 15/08/1938 của Toàn Quyền Đông Dương. Sau 1954 trường dời vào Nam.
Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao được thành lập theo nghị định 112 BCN/NĐ ngày 19 tháng 11 năm 1955. Trường đào tạo ba ngành Nông Lâm Súc. Trường gồm một cấp Cao đẳng đào tạo các kỹ sư dành cho các sinh viên đã học hết chương trình trung học thời gian học lúc đầu là 3 năm, sau này là 4 năm và cấp Trung đẳng đào tạo các kiểm sự dành cho các học sinh đã đậu bằng Trung học đệ nhất cấp, Trung học phổ thông hoặc học lực tương đương. Thời gian học là 3 năm.
Trường trực thuộc Nha Học vụ Kỹ thuật và Thực hành Canh nông, Bộ Canh Nông. Khóa đầu tiên cấp Trung đẳng được khai giảng vào ngày 12 tháng 12 năm 1955 và khoá đầu tiên cấp Cao đẳng được khai giảng vào ngày thứ hai tuần lễ đầu tiên tháng 11 năm 1959 và đã bế giảng vào ngày thứ bảy tuần lễ đầu tiên tháng 11 năm 1962.
Nghị định 1361/BCTNT/NĐ/HC-2 ngày 26-3-1962 của Bộ Cải Tiến Nông Thôn đã chuyển giao nhiệm vụ và cơ sở Học vụ Kỹ thuật Canh nông và các trường trực thuộc về Bộ Quốc Gia Giáo Dục
Theo nghị định 1184/GD/TC ngày 24-8-1963 cấp Cao đẳng Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục được cải biến thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn và do một giám đốc điều khiển, trực thuộc Nha Học vụ Nông Lâm Súc. Cũng theo nghị định này, kể từ niên học 1963-1964 thời hạn học tại Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc được ấn định là 4 năm. Thi sinh phải có bằng Tú Tài II ban A, B và phải qua kỳ thi tuyển
Cấp Trung đẳng Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc được cải biến thành Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc.
Theo nghị định 483/GD ngày 23-3-1967 Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc trực thuộc Bộ Giáo Dục. Theo sắc lệnh 158/SL/VHGD/TN ngày 9-11-1968 Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn được cải biến thành Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp trực thuộc Bộ Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên.
Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (1968-72) do một giám đốc điều khiển, có một phó giám đốc phụ tá. Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp gồm có ba trường: Cao đẳng Nông Nghiệp, Cao đẳng Thú Y và Chăn Nuôi, và Cao đẳng Thuỷ Lâm. Mỗi trường do một giám đốc điều khiển.
Theo sắc lệnh 174/SL/GD ngày 29-11-1972 Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp được cải biến thành Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp. Học viện có nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo và tu nghiệp cho các chuyên viên và cán bộ nông nghiệp cấp kỷ sư và các cấp cao hơn, sưu tầm, nghiên cứu, phát minh, phổ biến các kiến thức, kỹ thuật sản xuất và góp phần thiết lập các dự án nhằm phát triển các lãnh vực nông nghiệp.
Theo sắc lệnh 010-SL-VH-GDTN ngày 11-1- 1975 Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972–1974), Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật và Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật được sát nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức.

Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp được biến cải thành trường Đại học Nông Nghiệp-Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức năm 1974 gồm 5 ngành: Nông khoa, Lâm khoa, Súc khoa, Ngư nghiệp và Kỹ thuật nông nghiệp.
http://dayvahoc.blogspot.com/2009_05_01_archive.html

Hinh 49: Một số sinh viên chuẩn bị đi thực tập 1966.

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 50: Chứng chỉ tốt nghiệp Kỹ Sư Nông Khoa-trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc 1969.

Hình 51 :Chứng chỉ tốt nghiệp Kỷ Sư Thủy Lâm. Hoc viện Quốc Gia Nông Nghiệp 1974

Hình 52: Chứng chỉ tốt nghiệp bằng Kỹ Sư Súc Khoa -trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc 1969.

B4C-Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

Học viện Quốc gia Hành chánh: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3 tháng 2), Quận 10, Sài Gòn. Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 53 :Học viện quốc gia hành chánh đường Alexandre de Rhodes

Hình 54 : HVQGHC đường Trần Quốc Toản 1962

Hình 55: Học viện quốc gia hành chánh 1970s

Học viện Quốc gia Hành chánh là một cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa đặt trọng tâm vào việc đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ..

Đầu tiên, Trường Quốc gia Hành chánh được thành lập tại Đà Lạt do sắc luật của Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 7 tháng 4 năm 1952. Trường lúc đó thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục với học trình hai năm nhưng sau được chuyển giao cho Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống. Đến năm 1955 sau khi về nước chấp chánh, Thủ tướng Ngô Đình Diệm vì nhận thấy vai trò quan trọng của cán bộ hành chánh trong công cuộc xây dựng quốc gia nên đã cho dời trụ sở của trường về Sàigòn và cải danh thành Học viện Quốc Gia Hành Chánh (QGHC), trụ sở đặt tạm tại số 4 đường Alexandre de Rhodes, sau này là trụ sở của Bộ Ngoại giao. Đến năm 1962, Học viện được chánh thức chuyển về trường sở mới to lớn và khang trang tại số 10 Trần Quốc Toản. Cơ sở vật chất gồm có giảng đường 500 chỗ ngồi, ký túc xá cho 114 sinh viên, thư viện lớn nhứt Việt Nam với 100.000 văn bản, nhà sinh hoạt, sân quần vợt, sân bóng chuyền, câu lạc bộ.
Mục đích của Hoc viện QGHC là nhằm đào tạo cán bộ cho guồng máy hành chánh của quốc gia qua 4 chương trình học gồm ban Cao học, ban Đốc sự, ban Tham sự, và ban Nặng lực Hành chánh.Muốn nhập học, thí sinh phải có văn bằng Tú tài toàn phần cho ban Tham sự, Đốc sự và văn bằng Cử nhân hay tương đương cho ban Cao học.
Tất cả thí sinh dự tuyển phải trải qua một kỳ khảo hạch gồm một bài bình luận về các vấn đề văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị…, để lượng giá kiến thức tổng quát, khả năng suy luận và khả năng diễn đạt tư tưởng của thí sinh. Ban Cao học có học trình hai năm và Đốc sự có học trình ba năm rưởi nhằm đào tạo công chức hạng A cho các ngành hành chánh và chuyên môn như kinh tế, tài chánh, thuế vụ, xã hội, ngoại giao… Môn học gồm những kiến thức như soạn thảo công văn, kế toán thương mại, tư tưởng và định chế chính trị, quản trị công quyền, quản trị nhân sự, luật hành chánh, luật thuế vụ… và cả huấn luyện quân sự. Khi thi mản khóa ngoài các bài thi về các môn đã học, sinh viên còn phải nộp một Luận văn tốt nghiệp về một đề tài được giáo sư hướng dẫn chấp thuận. Ban Tham sự với học trình hai năm nhằm đào tạo công chức hạng B. Còn ban Năng lực Hành chánh là những lớp học buổi tối dành cho quân nhân và công chức để giúp họ cải tiến kỹ năng và kiến thức chuyên môn hành chánh để dự thi vào các ngạch hành chánh.
Sau khi ra trường các sinh viên tốt nghiệp được bổ dụng đến nhiều cơ quan từ Phủ Tổng Thống, Phủ Thủ tướng, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, Tổng Nha Ngân sách và các Bộ, Nha ở trung ương cho đến các ty, các sở ở địa phương và Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận trưởng.
http://quocgiahanhchanh.com/doidongqghc.htm

Hinh 56M

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 56: Văn Bằng Tốt Nghiệp Đốc Sự, Trường Quốc Gia Hành Chánh, tiền thân là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

B4D-Viện Đại Học Sài Gòn.

Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, cao đẩng nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh. Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.
Vời thời điểm mới thành lập năm 1957, Viện Đại học Sài Gòn có 8 phân khoa là:
Văn khoa
Luật khoa
Y khoa
Dược khoa
Nha khoa
Khoa học
Sư phạm
Kiến Trúc.

Hình 57: Viện Đại Học Sài Gòn, Công trường chiến sĩ-Đối diện Hồ Con Rùa-Sau 1975 mang tên chính thức Công trường Quốc Tế

B4D1-Y Dược Đại học đường.

Trường Y khoa Hà Nội (École de Médecine de Hanoi) được Pháp thành lập theo Nghị định ngày 8/1/1902 và được tổ chức lại theo Nghị định ngày 25/10/1904 do Toàn quyền Paul Beau ký ban hành. Theo Nghị định ngày 25/10/1904, trường Y Hà Nội được đổi tên thành trường Y Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine)
Năm 1947: Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, thường gọi là Y khoa Đại học đường Sài Gòn, được thành lập, như một phân hiệu của trường Y khoa Hà Nội, thuộc Viện Đai Học Liên bang Đông Dương.
Năm 1954: Chính phủ Việt Nam Cộng hòa chính thức trường chính thức mang tên Trường đại học Y Dược Sài Gòn, hay thường được gọi Y dược đại học đường Sài Gòn hay ngắn gọn là Trường Y khoa Sài Gòn
Ngày 31 tháng 8 năm 1961, Y Dược Đại học đường Sài Gòn được phân chia thành Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Dược khoa Đại học đường Sài Gòn. Ngày 12 tháng 8 năm 1962, Ban Nha khoa thuộc Y khoa Đại học đường Sài Gòn trở thành Nha khoa Đại học đường Sài Gòn. Cả 3 trường hoạt động độc lập trong Viện Đại học Sài Gòn.

Hình 58: Trường Y và Dược Khoa lúc mới thành lập trong Nam, 28 đường Testard- Trần Quý Cáp , sau 1975, Vỏ văn tần

Trường Đại học Y khoa đầu tiên ở Việt Nam là Trường Y khoa Đông Dương thuộc Viện Đại học Đông Dương (Université de l’Indochine) đặt ở Hà Nội. Năm 1946 mở thêm một trường phụ thuộc ở Sài Gòn với tên Faculté de Médecine et de Pharmacie. Sau Hiệp định Genève năm 1954, cơ sở và nhân sự được dời từ ngoài Bắc vào Sài Gòn dưới tên mới: Faculté de Médecine et de Pharmacie, Université de Saigon
Tọa lạc tại số 28 đường Testard gần góc với đường Barbé (sau năm 1955 đổi là Trần Quý Cáp và Lê Quý Đôn) trên nền đất cũ của ngôi chùa lịch sử Khải Tường. Sang thời Pháp thuộc chùa bị phá. Lấp lên trên nền chùa cũ là biệt thự tư gia. Năm 1940 nữ bác sĩ Henriette Bùi, mở dưỡng đường sản phụ khoa ở đó. Bà là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam, cũng là con gái của nghị viên Bùi Quang Chiêu, một nhân vật chính trị quen thuộc ở Nam Kỳ. Bà đã hiến biệt thự cho chính phủ để trường có nơi hoạt động
Tháng Tám năm 1961, Trường tách Y khoa và Dược khoa làm hai. Năm 1963 thì tách Nha khoa ra khỏi. Cũng vào những năm này các giáo sư người Pháp lần lượt giải nhiệm và ban giảng huấn chuyển qua người Việt. Năm 1962 là năm cuối cùng bằng Bác sĩ Y khoa của Viện Đại học Sài Gòn được công nhận tại Pháp
.https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Y_khoa_S%C3%A0i_G%C3%B2n

Advertisements

REPORT THIS AD

Hình 58:  Trung Tâm Giáo Dục Y khoa, đường Hồng Bàng 1966, Saigon

Ngày 9.5.1963 là ngày đặt viên đá đầu tiên xây dựng trung tâm giáo dục y khoa (TTGDYK) tại đường Hồng Bàng (Chợ Lớn), nay là Đại học Y Dược TP.HCM, với thiết kế của công ty kiến trúc Mỹ Smith, Hinchman&Grylls và đoàn kiến trúc sư VN do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ hướng dẫn. Bắt đầu từ năm 1961, hai bên đã cộng tác để thiết lập đồ án kiến trúc nói trên. Khoảng tháng 6.1962, hai bên đã hoàn thành đồ án xây cất TTGDYK với đầy đủ các chi tiết. Trường có nhiều phòng thí nghiệm, những giảng đường với 200 chỗ ngồi, một đại thính đường với 450 chỗ ngồi, một thư viện 200 chỗ ngồi, một quán cà phê và một bệnh viện y khoa. Với cơ sở lớn như vậy, hằng năm có độ 200 BS y khoa và 50 nha sĩ tốt nghiệp.
Sau ba năm xây dựng, ngày 16.11.1966, chính phủ VNCH đã làm lễ khánh thành TTGDYK với kinh phí xây dựng là 150 triệu đồng. GS Phạm Biểu Tâm đã đọc một bài diễn văn khai mạc trong đó có đoạn đáng chú ý: “Trung tâm này sẽ xứng danh là một TTGDYK vào bậc nhất nhì vùng Đông Nam Á”.
Cũng nên chú ý trường Y khoa Đại học đường Sài Gòn trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn thoi VNCH đã hợp tác chặt chẽ với 20 bộ môn của 19 trường y tại Mỹ. Ngoài việc một số đông giảng viên VN được huấn luyện tại Mỹ từ 6 tháng đến 6 năm, phía Mỹ đã gửi đến VN lượng sách, báo đồ sộ cho thư viện và một lực lượng ban giảng huấn hùng hậu với 171 giảng viên, với những tên tuổi lớn của y khoa Mỹ lúc bấy giờ. Từ ngôi trường y khoa này, xuất hiện một loạt BS tài ba, những GS – tiến sĩ y khoa đầu ngành nổi tiếng tại VN hiện tại.
Từ 1948 đến1961 muốn nhập học phải có chứng chỉ PCB (Lý, Hóa, Sinh Hóa) của trường Đại Học Khoa Học và qua kỳ thi tuyển. Sau 1961 chỉ cần có bằng Tú Tài 2 ban A hoặc B và đậu kỳ thi tuyển vào năm Dự Bị Y Khoa cùng với 6 năm học nữa (học trình 7 năm). Trước 1966, Đại Học Y Khoa Sài Gòn giảng dạy bằng tiếng Pháp, nhưng sau năm này các giáo sư có thể giảng bằng một trong ba thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp. Cuối năm thứ 5, sinh viên thi tốt nghiệp và sau đó phải soạn và trình luận án viết bằng Pháp hoặc Anh Văn. Từ sau 1967 sinh viên mới được chọn thêm tiếng Việt.

Hình 60 : Văn Bằng Tiến Sỉ Y Khoa 1970

Hinh 61m tien si y khoa-2

Hình 61: Văn Bằng Tiến Sỉ Y Khoa 1971

B4D2-Trường Đại Học Dược Khoa

Hình 62: Đại học Dược Khoa Sài Gòn, 41 Cường Để

Trường Y Dược trước kia ở số 28 Trần Quý Cáp. Nay phân khoa Dược tách riêng và dọn về trường sở mới tại số 169 Công Lý, góc đường Hiền Vương
Trường Dược khoa từ năm 1954 là một cơ sở tổng hợp chung của y khoa lẫn dược khoa. Tháng Tám năm 1961 thời Đệ Nhất Cộng hòa, chính phủ cho tách phân khoa dược khỏi y khoa và lập trường Đại học Dược khoa Sài Gòn, lấy trụ sở chính ở số 169 đường Công lý. Tháng Tư năm 1964, trường sở chuyển về Thành Cộng hòa, số 41 đường Cường Để.
Từ trước, chương trình theo như của Pháp gồm 5 năm học.
Từ niên khóa 65-66, khi trường áp dụng thi tuyển chỉ lấy 400 sinh viên mỗi năm, và tới niên khóa 72-73 lấy xuống còn 200 một năm,
Sinh viên nhập học phải có bằng Tú tài II thuộc ban A (khoa học) hoặc B (toán học). Khi tốt nghiệp, sinh viên được cấp bằng “Dược sĩ Quốc gia” (Diplôme de Pharmacien d’État).
Ông Trương Văn Chôm tốt nghiệp Tiến Sỉ đại học Pháp,trở về Việt Nam dạy Đại Học Y Dược Sàigòn là người đã bỏ nhiều công sức tranh đấu để trường Dược Khoa được tách rời khỏi Đại Học Y Dược Khoa Sàigòn và trở thành Phân Khoa độc lập, Đại Học Dược Khoa Sàigòn.
Giáo Sư Trương Văn Chôm cũng là chủ nhân Viện Bào Chế VANCO.
Sau 1968 truong nâng cấp với chương trình Tiến Sĩ Đệ Tam Câp.

hinh 63M duoc si
Hình 63 :Văn Bằng Dược Sỉ Quốc Gia

B4D3-Trường Đại học Nha Y khoa Sài Gòn

Tháng 10 năm 1954, GS. E. Leriche, phụ trách Ban Nha khoa trường Đại học Y Dược Hà Nội chuyển vào Sài Gòn. Một số sinh viên Việt Nam – người miền Bắc và miền Nam – cũng chuyển theo. Trong lịch sử ngắn ngủi của đào tạo ngành Nha trước đó, có thể ghi nhận những điểm mốc quan trọng: 1939 khai sinh, 1944 khóa Nha sĩ quốc gia đầu tiên, 1945 thành lập “Ban Nha học” trong Đại học Y Dược khoa hỗn hợp tại Hà Nội.
Tháng 5 năm 1955, tại Y Dược Đại học đường Sài Gòn, Ban Nha khoa được giao cho GS. Trịnh Văn Tuất phụ trách. Ban Nha khoa về qui mô tổ chức và hoạt động còn nhỏ yếu. Cơ sở giảng dạy và thực tập chưa có nên phải đặt tại bệnh viện Bình Dân.
Theo sắc lệnh số 83/GD ngày 12 tháng 8 năm 1963 của Tổng thống Việt Nam cộng hòa, Nha khoa Đại học đường được thành lập, nhưng mãi hơn một năm sau, mới chính thức tách rời Y khoa đại học đường Sài Gòn. GS. Nguyễn Huy Tiếp được bổ nhiệm giữ chức vụ Khoa trưởng đầu tiên.
Ngày 16 tháng 11 năm 1966, Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Nha khoa Đại học đường Sài Gòn chính thức chuyển về Trung tâm Giáo dục Y khoa trên đường Hồng Bàng,Quận 5. Trung tâm có cơ sở vật chất khá tiện nghi, hiện đại lúc bấy giờ, được sử dụng chung cho 2 trường: Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Nha khoa.

Muốn nhập học phải có chứng chỉ SPCN (Lý, Hóa, Vạn Vật) hoặc PCB (Lý, Hóa, Sinh Hóa) của trường Đại Học Khoa Học và học thêm 4 năm trường Nha. Sau 1966 thí sinh có Tú Tài 2 trực tiếp thi vào thì học trình là 5 năm. Sinh viên vừa học lý thuyết vừa thực tập tại phòng thí nghiệm ở trường và tại các phòng giải phẫu của bệnh viện, tốt nghiệp qua kỳ thi cuối năm thứ 5 được cấp bằng Nha Sĩ Quốc Gia.

B4D4-Trường Đại học Luật Khoa-Luật Khoa đại học đường.

Năm 1933, chính quyền bảo hộ Pháp đã cho thành lập một trường luật lấy tên là Trường Cao Ðẳng Pháp Chính Ðông Dương( Ecole Supérieure D’Aministration Indochinoise) đặt trụ sở tại Hà Nội, nhằm đào tạo một tầng lớp quan lại người bản xứ, cung ứng cho guồng máy cai trị ba nước thuộc địa Ðông Dương là Việt, Miên, Lào. Người Việt thường gọi trường này là Trường Hậu Bổ. Từ năm 1933 trường được đổi tên thành Trường Cao Ðẳng Luật Học ( Ecole Supérieure De Droit).

Ðến năm 1938, Trường Cao Ðẳng Luật Học được nâng lên thành một Phân Khoa Luật(Faculté De Droit) tại Hà Nội trực thuộc Ðại Học Luật Khoa Ba Lê. Năm 1946 một chi nhánh của Phân Khoa Luật Hà Nội được mở ở Sài Gòn, trụ sở đặt ở số 17 Duy Tân Sài Gòn.

Sau Hiệp Ðịnh Genève năm 1954 chia đôi lãnh thổ, cơ sở Luật Hà Nội di chuyển vào Miền Nam, sát nhập với Trung Tâm Sài Gòn, lấy tên là Phân Khoa Luật (Faculté De Droit) trực thuộc Viện Ðại Học Sài Gòn.

Ngày 30-4-1955, cùng lúc thu hồi chủ quyền về Việt Nam Cộng Hòa, Trường Luật được mang tên tên Luật Khoa Ðại Học Ðường SàiGòn, hay thường gọi là Ðại Học Luật Khoa Sài Gòn
Trong khoảng thời gian này tiếng Việt được dùng để giảng dạy thay tiếng Pháp, nhưng chương trình giảng dạy căn bản vẫn theo chương trình giảng huấn và tài liệu giáo khoa tham khảo của các giáo sư Việt Nam vẫn là theo Ðại Học Luật Pháp. Mãi sau này, khi trường luật có một số Giáo Sư tốt nghiệp từ Hoa Kỳ về giảng dạy, giáo trình, tài liệu giáo khoa mới được mở rộng thêm qua các trường luật của Hoa Kỳ.
Về sĩ số sinh viên, vào khoảng cuối thập niên 1960 trở đi, sĩ số sinh viên ghi danh tăng nhanh. Năm 1970 đã có trên 13.000 ghi danh học bốn năm cử nhân luật. Vì con số sinh viên quá lớn so với khả năng trường ốc, với số phòng ít lại nhỏ hẹp, số giáo sư ít ỏi, có thời gian trường phải mượn cả rạp Thống Nhất trên đại lộ Thống Nhất –cũng là hội trường Sổ Xố Kiến Thiết Quốc Gia- để giảng dạy cho sinh viên năm thứ 1&2. Trước năm 1967, học trình Ban Cử Nhân Luật là 3 năm, chưa phân ban, các sinh viên đều học như nhau, khi tốt nghiệp đều được cấp phát văn bằng Cử Nhân Luật. Nếu tiếp tục lên Cao Học, sinh viên mới chọn ban ngành: Công Pháp, Tư Pháp hay Kinh Tế.

Từ sau năm 1967, học trình Ban Cử Nhân Luật là 4 năm Hai năm đầu chưa phân ban, sinh viên học chung cùng một chương trình.Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi, sinh viên sẽ ghi danh học theo ngành mình chọn, với các môn học chung và chuyên biệt, như Ban Kinh Tế sẽ học thêm các môn Thống Kê
(Statistics), Kinh Tế Toán Học( Econometrics). Sau 4 năm tốt nghiệp, sinh viên được cấp văn bằng Cử Nhân Luật ban công pháp, tư pháp hay kinh tế. Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân, sinh viên có thể ghi danh tiếp tục học Ban Cao Học Luật hai năm theo ngành của mình, để đủ điều kiện trình luận án thi lấy bằng Tiến Sĩ Luật.

Hình 64 : số 17 đường Garcerie –đường Duy Tân trước 1975-sau Phạm Ngọc Thach Saigon
Địa điểm này nguyên là một trường Mẫu Giáo thời Pháp thuộc, được Bộ Quốc Gia Giáo Dục chính phủ Nam Triều thu hồi, cấp cho trường Cao Đẳng  Luật  Hà Nội để mở một phân khoa Luật tại Sài Gòn vào năm 1946.
Từ 1955, dưới thời đệ nhất Cộng Hòa, trường được mang tên Luật Khoa Ðại Học Ðường SàiGòn, hay thường gọi là Ðại Học Luật Khoa Sài Gòn.


Hình 65: Luật Khoa Đại Học Đường

hinh 66M Chung chi Luat khoa
Hình 66: Chứng chỉ Cử Nhân Luật chế độ 3 năm- 1967

Hinh 67M

Hình 67: Chứng chỉ tốt nghiệp Cử Nhân Luật Khoa-Ban Kinh Tế 1971

B4D5-Trường Đại Học Kiến Trúc Saigon

Thời Liên Bang Đông Dương chỉ có Ban Kiến trúc thuộc Trường Mỹ thuật Đông Dương (École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine) Đặt tại Hà Nội, lập ra năm 1926. Năm 1942, Ban Kiến trúc thuộc Trường Cao đẳng Mỹ thuật. Năm 1944, Ban Kiến trúc được nâng cấp thành Trường Kiến trúc thuộc Cao đẳng Mỹ thuật, vì chiến tranh, được chuyển từ Hà Nội vào Đà Lạt, rồi chuyển từ Đà Lạt vào Sài Gòn cuối năm 1950.
Từ năm Năm 1954 và về sau: Theo Hiệp định Genève, Viện Đại học Hà Nội chuyển thành Viện Đại học Quốc gia Việt Nam và sau cùng lấy danh hiệu là Viện Đại học Sài Gòn.Trường mở thêm Ban thiết kế đô thị, thời gian đào tạo là 2 năm và Ban cán sự Kiến trúc thời gian đào tạo là 3 năm .
Trường Cao đẳng Kiến trúc thuộc Viện Đại học Sài Gòn đã mở thêm:
Ban Thiết kế Đô thị (từ niên khóa 1955-1956)
Ban Cán sự Kiến trúc (từ niên khóa 1958-1959)
1967: Trường cao đẳng Kiến trúc trở thành trường Đại học Kiến trúc thuộc Viện Đại học Sài gòn. Từ năm 1967 ngưng đào tạo Ban cán sự Kiến trúc

Muốn ghi danh học đại học Kiến trúc phải có Tú Tài toàn phần hay tương đương. Kỳ thi cuối năm có hai khoá.
Sinh viên tốt nghiệp phải qua hoc trinh sáu năm với một đồ án vào cuối năm 6. Nếu đồ án ra trường không xong, sinh viên sẻ không được cấp văn bằng tốt nghiệp
Đêm Kiến Trúc , một điểm đặc thù của sinh viên đại học này, một đêm ca nhac, khiêu vũ chỉ dành cho sinh viên kiến trúc và khách được mời, “đêm kiến trúc” thường được tổ chức vào dịp Noel, nối tiếng nhất trong giới sinh viên đại học Saigon với những chương trình gỉải trí thâu đêm suốt sáng ngay cả trong giai đoạn giới nghiêm ( dỉ nhiên phải được phép đặc biệt và không ai được phép lai vảng ngoài khuôn viên của trường).  

Hình 68: Trường Kiến Trúc bên phải, đối diện công viên Vạn Xuân bên trái-126 Pasteur-Góc Pasteur và Trần Quý Cáp. Công viên Vạn Xuân bị phá bỏ sau 1975.

Hình 69:  Đại Học Kiến Trúc

Hình 70: Bằng Kiến Trúc Sư Đông Dương

Hình 71: Văn bằng Kiến Trúc Sư thời Việt Nam Cộng Hòa 1971

B4D6 -Trường Đại học Khoa học-Khoa học đại học đường

Trường Cao đẳng Khoa học liên bang Đông Đương được Pháp thành lập vào năm 1941 . Năm 1947 thì mở thêm chi nhánh ở Sài Gòn ở số 125 đường Bonard-địa điểm của Policlinique Dejean De La Bâtie (bây giờ là đường Lê Lợi , sau 1955 được đổi tên là Bệnh Viện Sài Gòn-dân Sàigòn gọi là Bệnh viện hay nhà thương Đô thành, và nay bệnh viện Đa khoa Sài Gòn). Sang thời Quốc gia Việt Nam thì Trường Cao đẳng Khoa học đổi thành Trường Đại học Khoa học năm 1953. Năm 1954 thì cơ sở đại học Hà Nội chuyển vào Sài Gòn và hợp nhất thành trường Khoa học Đại học đường Sài Gòn. Thời đệ nhị Cộng hoà 1970 , trường tọa lạc trên đại lộ Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ) trong khuôn viên của trường Petrus Ký, gần trường Sư Phạm.
Phần đông sinh viên ghi danh theo hoc phải có bằng tú tài hai ban A hay B- Sinh viên Ban B thường ghi danh vao những chứng chỉ phổ thông và nổi tiếng như chứng chỉ MGP (Toán Lý Ðại Cương), chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa). Những chứng chỉ này rất khó đậu nhưng dể vào những trường Cao Đẩng chuyên nghiệp. Những sinh viên đa phần theo ban A, thì ghi danh vô chứng chỉ SPCN (Lý Hóa Vạn Vật) để sau nầy thi vô Ðại học Y Khoa, Dược Khoa Học. Trường cũng đào tạo 1 năm Dự Bị Y khoa (APM) cho sinh viên theo ngành Y, với Chứng Chỉ PCB (Lý Hóa Sinh). Đào luyện theo hệ thống Chứng Chỉ cho đến bậc Cử Nhân, KHĐHĐ cũng cấp phát các văn bằng Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp (từ năm 1967) và Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học. Cho đến năm 1964, học trình các chứng chỉ là 1 năm và thành phần Cử Nhân Tự Do là 3 chứng chỉ, hoặc Cử Nhân Giáo Khoa khi có 4 chứng chỉ theo qui định cho từng chuyên khoa. ĐHKHSG cung cấp nhân viên giảng huấn khoa học cho Trường và cho các viện đại học khác được mở sau này như Viện Đại Học Dalat, Cần Thơ, Nha Trang, Tiền Giang, kể cả Viện Đại Học Huế và Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ. Ngoài Trường Đại Học Sư Phạm (học 3 năm), KHĐHSG cũng là nơi đào tạo nhiều giáo sư trung học, và tốt nghiệp ở ĐHKHSG cũng có thể làm việc ở nhiều cơ quan khác.

Hinh 72: Trường Cao Đẳng Khoa Học Saigon nằm trong khuôn viên Policlinique DeJean De La Bâtie , 125 đường Bonard ,đường Lê Lợi quận nhất ngày nay.

Hình 73: Khoa học đại học đường, đường Cộng Hòa 1960s

hinh 74M chung chi MPC

Hình 74: Chứng chỉ Toán Lý Hoá-MPC , Khoa học đại học đường,1966

hinh 75M

Hình 75: Chứng chỉ Cử Nhân Vật Lý 1969, Khoa học đại học đường Sài Gòn, 1969

B4D7-Đại Học Văn Khoa

Hình 76: Đại học Văn Khoa -đường Gia long –Lý  tự trọng.

Hình 77: Đại học Văn Khoa đường Cường Để 1964

Khu trường này trước kia là trại lính Pháp, xây xong 1873 có tên là Martin des Pallières, tên một tướng Pháp đến thời Đệ nhất Cộng hòa đổi tên “Thành Cộng hòa”, do Lữ đoàn phòng vệ Tổng  Thống phủ trấn giữ. Sau đảo chính 1-11-1963, ĐH Văn khoa được dời từ đường Gia Long về đây (khu ĐH Văn khoa cũ trở thành Thư viện Quốc gia, nay là Thư viện KHXH). ĐH Văn khoa và ĐH Dược nằm đối diện nhau ở ngã tư Cường Để – Thống Nhất (nay là Đinh Tiên Hoàng – Lê Duẩn).  Kế cận trường Dược là trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc gồm cả hai tòa nhà bị cắt ngang bởi đường Đinh Tiên Hoàng.
ĐH Văn khoa ngày trước là một trong ba trường đại học của Viện ĐH Sài Gòn không thi tuyển, chỉ ghi danh học với điều kiện bắt buộc là phải tốt nghiệp tú tài toàn phần. Hai đại học kia là ĐH Khoa học và ĐH Luật. Cánh cửa các đại học này luôn luôn mở rộng đón nhận sinh viên không phân biệt lứa tuổi, thành phần trong xã hội. Nếu như những sinh viên vào ĐH Khoa học hoặc Luật thường có mục đích tương đối rõ ràng, như vào Luật mong mai sau tốt nghiệp làm luật sư hay vào ngạch tư pháp, tòa án… Vào học ĐH Khoa học một năm để sau đó thi vào ĐH Y, hay các ngành kỹ thuật – công nghệ, hoặc học xong ra trường sẽ đi dạy hay làm cơ sở chuyên môn đòi hỏi người làm khoa học, nghiên cứu khoa học.  Đặc biệt những người ghi danh vào  Đại học Văn khoa thường là người yêu thích văn chương hay thích những khoa học xã hội khác như lịch sử, triết học, ngôn ngữ… Hằng năm số lượng sinh viên ghi danh vào Văn khoa đông vô kể nhưng chỉ có những sinh viên “chính quy” mới thường xuyên đến trường nghe thầy giảng dạy, còn đa số sinh viên ghi danh học thêm chỉ thỉnh thoảng đến trường “nhìn mặt thầy cho biết”, rồi mua “cua” về nhà học.

Hinh 78M

Hình 78: Chứng chỉ Cử Nhân Giáo Khoa Anh Văn 1974. Trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn

Hình 79: Chứng chỉ Anh Văn thực hành 1974

Hình 80: Chứng chỉ Văn Minh Việt Nam 1973

Hinh 81M

Hình 81: Chứng chỉ Anh Văn thực hành và chứng chỉ Văn Chương Mỹ 1969

B4D8 –Trường Sư Phạm

Trường Quốc Gia Sư Phạm
Ngày 9-3-1955, Ngô Đình Diệm ban hành Nghị định số 111-GD, thành lập trường Quốc gia Sư phạm tại Sài Gòn để đào tạo giáo viên phụ trách việc giáo huấn tại các trường tiểu học toàn quốc. Nghị định quy định từ nay về sau các giáo viên tại các trường tiểu học toàn quốc phải là sinh viên tốt nghiệp trường Quốc gia Sư phạm. Về nguyên tắc, tất cả giáo sinh trường Quốc gia Sư phạm được hưởng chế độ nội trú miễn phí và chuyên chở miễn phí.
Trường Quốc Gia Sư Phạm sau nầy đổi tên là Trường Sư Phạm Sài Gòn bắt đầu tuyển sinh năm 1955. Giáo sinh phải có bằng trung học Đệ Nhất Cấp và được đào tạo phân ra 2 hệ: học 1 năm ngạch giáo viên tiểu học, học 3 năm ngạch Giáo Học Bổ Túc (Ra trường có thể được bổ nhiệm dạy những lớp Đê nhất cấp của bậc trung học).
Từ năm 1962 trình độ dự tuyển vào trường của giáo sinh được nâng lên cao, phải có bằng Tú Tài phần I, học trong 2 năm. Chương trình đào tạo được cải tiến, học thêm nhiều môn học mới, cụ thể và chuyên sâu hơn trong nghiệp vụ giảng dạy trong lớp, quản trị học đường, giao tiếp cộng đồng…

Trong nổ lực nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên như nhiều nước phát triễn khác, dạy bậc tiểu học cũng phải là người tốt nghiệp ngành Sư Phạm bậc đại học, kể từ năm 1973, trình độ dự tuyển của giáo sinh cũng được nâng lên là phải có bằng Tú Tài phần II, học 2 năm chuẩn bị cho bước đầu đổi tên trường là Cao Đẳng Sư Phạm.
Trường Quốc gia Sư phạm rồi trường Sư Phạm và Trường Cao đẳng Sư phạm có ba cấp học giáo sinh trường Sư Pham tốt nghiệp day cấp tiểu học, giáo sinh Cao Đẳng Sư Phạm trung cấp: giáo sinh học 2 năm sau tốt nghiệp trở thành giáo sư trung học đệ nhứt cấp hạng 4 chỉ số 400; bậc sư phạm cao cấp: giáo sinh viên sau khi học 2 năm ở bậc sư phạm trung cấp học thêm 2 năm ở bậc sư phạm cao cấp khi tốt nghiệp sẽ trở thành giáo sư trung học đệ nhị cấp . Do đó , để trở thành một giáo viên trường trung học đệ nhị cấp sinh viên phải trải qua 4 năm đào tạo.
https://luutru.gov.vn/cong-bo-gioi-thieu-tai-lieu/truong-dai-hoc-su-pham-sai-gon-%E2%80%93-luoc-su-theo-tai-lieu-luu-tru.htm

Đại Học Sư Phạm.
Tiền thân là trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương (École Supérieure de Pédagogie) thành lập tại Hà Nội do nghị định ngày 15/10/1917 của Toàn Quyền Albert Sarraut. Năm 1950 trường trở thành một Khoa thuộc Viện Đại Học Hà Nội. Sau 1954 trường di chuyển vào Sài Gòn.
Ngày 21-8-1958, Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 426-GD cải tổ Trường Cao đẳng Sư phạm thành Trường Đại học Sư phạm đặt thuộc Viện Đại học Sài Gòn với 3 ban: Ban Văn khoa phụ trách các môn như: Việt – Hán, Triết học, Sử – Địa; Ban Sinh ngữ phụ trách các môn như Pháp văn, Anh văn, sinh ngữ khác; Ban Khoa học phụ trách các môn như: Toán, Lý – Hóa, Vạn vật. Sinh viên trường Đại học Sư phạm phải có bằng tú tài II (toàn phần) hoặc một văn bằng tương đương và trải qua kỳ thi nhập học, thời gian học là 3 năm. Sinh viên được hưởng chế độ nội trú miễn phí và chuyên chở miễn phí, hàng tháng còn có thể được cấp một khoản tiền để chi dùng lặt vặt. Sinh viên đang theo học tại Trường Cao đẳng Sư phạm được tiếp tục học theo chương trình và thể lệ hiện hành của nhà trường cho đến khi mãn khóa hay được chuyển sang Trường Đại học Sư phạm.
Theo đề án di chuyển Viện Đại học Sài Gòn lên Thủ Đức, trường Đại học Sư phạm là một trong những trường thành viên tiến hành xây dựng cơ sở ở Thủ Đức sớm nhất. Ngày 15-5-1963, lễ đặt viên đá đầu tiên tại Sư phạm Đại học đường khu đại học Thủ Đức diễn ra có sự tham dự của Ngô Đình Diệm.

Hình 82: Trường Sư Phạm tiền thân của trường Quốc Gia Sư Phạm


Hình 83: Trường Sư Phạm Sài Gòn

hinh 84M

Hình 84: Chứng chỉ Tốt Nghiệp Đại Học Sư Phạm 1972

Hình 85: Nghị định bổ nhiệm Sinh Viên Tốt Nghiệp Đại Học Sư Phạm khoá đầu tiên –Khoá 1, 1970 được bổ dụng vào ngạch Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp

Thay cho lời kết thúc

Chương trình học ở Việt Nam cho tới ngày Nhật tuyên bố  trả độc lập cho Chính Phủ Trần Trọng Kim 1954, cụ thể là chương trình giáo dục của Pháp với sự thay đổi, bổ túc để phù hợp với tình hình địa phương và hoàn cảnh chính trị, chương trình Pháp- Việt, dùng tiếng Pháp làm sinh ngữ chinh và Tiếng Việt chỉ được xem như một sinh ngữ phụ.
Sau năm 1945, sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, Chính Phủ Quốc Gia ban hành chương trình Việt. Chương trình này được gọi là chương trình Hoàng Xuân Hản được đem ra áp dụng trước ở Bắc Việt và Trung Việt, nhưng riêng ở Miền Nam thì vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp và Pháp Việt vẩn còn tồn tạị. Sau Hiệp định Genève 20/7/1954 chia đôi đất nước, ở miền Nam chương trình Việt được bắt đầu áp dụng triệt để thay thế chương trình Pháp-Việt.

Xin ghi nhận những đóng góp lớn lao của các nhà lảnh đạo có tâm có tầm cho giáo dục miền Nam , cho sự bành trướng và phát triển mạnh mẽ của nền giáo dục quốc gia dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.

Cuối cùng  người viết xin ghi nhận nguồn tài liệu từ Internet cũng như gởi lời cảm ơn đến bạn xưa, đồng môn đã cung cấp tư liệu quý báu.

DQ Hung, NKH Thuy, LB Hong, V T Hien, NT Hai, NK Ba, PT Khai, TV Mai, LNC Minh, VM Ly, NV Cua, NK Minh

Phụ Lục :

Trường Quốc Gia Võ Bị Đà Lạt

Hình 86: Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt trước 1975

Suốt thời gian 1950-1975, trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt là một cơ sở đào tạo sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tiền thân là trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế thiết lập 1 tháng 12 năm 1948 do chính phủ Quốc gia Việt Nam lập ra hầu đào tạo nhân sự chỉ huy cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, trường được chuyển về Đà Lạt với tên mới là Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (École Militaire Inter-Armes), khai giảng ngày 5 tháng 11 năm 1950.
Thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, trường được cải tổ lại theo nghị định của Bộ Quốc Phòng ngày 29 tháng 7 năm 1959, đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ huấn luyện sĩ quan hiện dịch cho ba quân chủng: hải quân, lục quân, và không quân cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Đến giữa thập niên 1960, khóa học của Trường Võ bị Đà Lạt là chương trình 3 năm sau lại tăng lên 4 năm , bắt đầu áp dụng năm 1966. Học trình lúc đầu tương đương với trường cao đẳng. Sinh viên mãn khóa được miễn thi nhập học vào trường đại học vì coi như hoàn tất bằng tú tài toàn phần (I & II). Đến năm 1966 thì ngang hàng với bằng cử nhân đại học, tương đương với các trường võ bị quốc tế. Hai năm đầu sinh viên mang cấp trung sĩ, hai năm sau là chuẩn úy. Sinh viên học xong 4 năm thì tốt nghiệp với cấp thiếu úy và một chứng chỉ tương đương với cấp bằng Cao Đẳng Đại Học.

Hình 87. Văn Bằng Cử Nhân Khoa Học ứng dụng cấp cho sỉ quan tốt nghiệp trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Văn bằng Tốt Nghiệp Trường Vỏ Bị Quôc Gia Đà Lạt-tương đương với văn bằng Kỹ Sư Cao Đẳng Kỹ Thuật.

Nhìn lại hình ảnh những ngôi trường nổi tiếng xưa

Trường Vẽ-Trường Trung Học Trang Trị Mỹ Thuật Gia Định

Năm 1913, theo sáng kiến của hai Ông L’Helgoache và Ông Garnier trường được thành lập và Ông Andre Joyeux là Kiến Trúc Sư Công chánh người Pháp điều khiển trường. Khóa học đầu tiên được khai giảng ngày 14-10-1913 với 15 học sinh.
Tên trường qua các giai đoạn:
1913 – 1935: Tên trường là TRƯỜNG VẼ (L’école de Dessin)
1935 – 1940: Tên trường là TRƯỜNG MỸ NGHỆ (L’école d’ Arts)
1940 – 1961: Tên trường là TRƯỜNG MỸ NGHỆ THỰC HÀNH GIA ĐỊNH (L’école des Arts Appliques de Gia Định)
1961- 1971: Tên trường là TRƯỜNG TRUNG HỌC TRANG TRÍ MỸ THUẬT GIA ĐỊNH(theo Nghị Định số 206- GĐ/HV/NĐ ngày 21-02-1961)
1971- 1975: Tên trường là TRƯỜNG QUỐC GIA TRANG TRÍ MỸ THUẬT GIA ĐỊNH (theo nghị định số 694-NĐ/QVK/VH ngày 01-07-1970)

Tháng 10- 1954 một số họa sĩ yêu nghề đã tổ chức hội nghị giáo khoa Mỹ Thuật và Mỹ Nghệ tại Gia Định quyết định đề nghị thành lập một trường Cao Đẳng Mỹ Thuật có cơ sở bên cạnh Trường Mỹ nghệ thực hành Gia Định.
1954- 1971: Tên trường CAO ĐẲNG MỸ THUẬT SÀI GÒN (theo Nghị Định số 1192- GD ngày 31-12-1954), nằm cạnh cơ sở  trường Trang trí Mỹ Thuật Gia Định.
1971- 1975: Tên trường là TRƯỜNG QUỐC GIA CAO ĐẲNG MỸ THUẬT SÀI GÒN (theo Nghị Định số 273-QVK/ VHNĐ ngày 03-08-1971)

Biết bao thế hệ Học sinh- sinh viên của Trường đã trở thành Họa Sĩ, Điêu khắc gia, Trang trí gia, góp phần làm rạng rỡ nền Mỹ Thuật Việt Nam trong và ngoài nước .

Hình 88: Trường trung học Trang Trí Mỹ Thuật, Ngả Ba Chi Lăng ̣(nay Phan đăng lưu) và Nguyễn Văn Học (nay Nơ trang long) Gia Định 1960. Sau 1975, sau nhiều lần thay da đổi áo, trường xưa không còn nữa.

Trường Chasseloup Laubat
Sau khi chiếm được Nam Kỳ với Hòa ước 1874. Pháp cho thành lập Collège Indigène le 14  Novembre 1874- Hai năm sau 1876 đổi thành Collège Chasseloup Laubat (Marquis de Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Bộ Hải quân của Napoléon III). Đến năm 1954 thì đổi thành Lycée Jean Jacques Rousseau. Thời Việt Nam Cộng Hoà trường được mang tên Lê Quý Đôn từ năm 1968 đến ngày nay.
Năm 1927, Collège Chasseloup-Laubat được tách ra hai khu vực : khu vực Âu Chau dành cho người chính quốc Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp và khu vực cho người bản địa, tuy cùng trong khuôn viên Collège Chasseloup nhưng được hưởng quy chế tự trị với tên trường mới Collège de Cochinchine. Năm 1929 trường Cochinchine chuyển dời về trường mới xây với tên Petrus Ký trung học đường trên đường Cộng Hòa, sau 1975 , đổi thành tên Nguyễn văn Cừ  và trường đổi tên trường trung học phổ thông Lê hồng Phong cho đến ngày nay.

http://thaolqd.blogspot.com/2016/04/

Truong Chasseloup Laubat Saigon

Hình 89: Cổng trước Collège Chasseloup-Laubat 1905

Hình 90: Nử Sinh trường Collège de jeunes filles Calmette (sau này Lycée Marie Curie en 1948) đi học tạm tại trường Chasseloup 1947

Hinh 91: Le  Collège de jeunes filles Calmette (sau này Lycée Marie Curie en 1948)

truong albert sarrault ha noi

Hình 92: Trường Albert Sarraut Hanoi

Truong Quoc hoc Hue

Hình 93: Trường Quốc Học Huế

Hình 94: Collège Le Myre de Vilers-Collège de My Tho

Hình ́95: Charles Le Myre de Vilers với quan chức Viêt Nam

Người sốt sắng thực hiện mục tiêu văn minh hóa người Việt Nam là Le Myre de Vilers. Ông là người Pháp dân sự đầu tiên được cử làm Thống Đốc Nam Kỳ. Các thống đốc trước ông đều thuộc phe quân sự, nhất là trong hải quân Pháp. Le Myre de Vilers làm Thống Đốc từ năm 1879 đến năm 1892. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa người Việt ông cho mở rất nhiều trường học, từ trường sơ cấp ở làng đến trường tiểu học ở quận và tỉnh, và đặc biệt nhất là một trường trung học (collège) ở Nam Kỳ. Đây là trường trung học đầu tiên và vào cuối thế kỷ XIX đây là trường trung học duy nhất cho cả Miền Nam. Trường chỉ có hai năm học và mang tên là Collège de Mỹ Tho. Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) đã từng học ở trường này.
Sang thế kỷ XX trường có đủ bốn năm học và được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers, do một số giáo sư của trường đề nghị để ghi nhớ ông Thống Đốc dân sự đầu tiên đã mở ra trường này và cũng để ghi nhớ công lao của ông đối với việc phát triển nền giáo dục mới ở Nam Kỳ. Đến giữa thập niên 1950 trường được phát triển thêm, có các lớp đệ nhị cấp đủ để trở thành trường trung học đệ nhị cấp. Trường được đổi thành Lycée và mang tên một danh nhân Miền Nam Việt Nam: cụ Đồ Chiểu.
Danh xưng Lycée Nguyễn Đình Chiểu rồi Trung Học Nguyễn Đình Chiểu ra đời từ đó và còn mãi đến bây giờ.

Click to access Dac%20San%20NDC-LNH-MYTHO%202014.pdf

Hình 96: Collège de Can tho 1930s, sau mang tên Phan Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm.

truong Buoi Ha noi

Hình 97: Trường Bưởi Hà Nội, sau 1945 đổi tên là Chu Văn An

Hình 98: Trường Yersin Dalat

Truong Cao thang 1908

Hình 99: Trường Kỹ Thuật Cao Thắng

Truong nguyen truong to

Hình 100: Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ

Truong Ao Tim Gialong

Hình 101: Trường Áo Tím – Gia Long xây năm 1910

Tham Khảo.

1-http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=278&Itemid=49
2-http://openedu.vn/Kho-tri-thuc/Thi-cu-va-giao-duc-Viet-Nam-thoi-Phap-thuoc
3-https://thanhhaphung.wordpress.com/2011/09/12/he-thong-giao-duc-thoi-phap-thuoc/
4-https://sites.google.com/site/truongkythuatcaothang/tomtac
5-.https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/manh-tung/giao-duc-viet-nam-thoi-phap-thuoc
6-http://lientruongkythuat.org.au/index.php/truongxua/lich-su-cac-truong
7-http://qgtm-usa.blogspot.com/2014/01/lich-su-truong-quoc-gia-thuong-mai-sai.html
8-https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/hai-lan-cai-cach-giao-duc-duoi-thoi-phap-206901.html

9-https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/nho-ve-truong-petrus-ky-nhung-nam-dau-cua-thap-nien-1950
10-https://nhacxua.vn/truong-nu-sinh-ao-tim-va-nu-trung-hoc-gia-long-cua-sai-gon-ngay-xua/
11-http://www.petrusky.de/index.php/startseite/hinhthanhtruongpk/53-l-ch-s-tru-ng-petrus-ky-tru-c-75
12-https://www.svqy.org/truongduocvatoi.html
13-http://ndclnh-mytho-usa.org/Bai%20Viet/Dac%20San%20NDC-LNH-MYTHO%202014.pdf

14-https://halongvandan.wordpress.com/2015/04/07/chup-lai-cac-bang-cap-thoi-phap-thuoc-dau-tk-19/
15-https://thanhhaphung.wordpress.com/2011/09/12/he-thong-giao-duc-thoi-phap-thuoc/
16-https://drnikonian.wordpress.com/2013/12/03/mot-nen-giao-duc-tu-te-thi-nhu-the-nay-nay/
17-https://docvui-suynghi.net/bai-nen-doc-m/bnd-2016/bnd512/

18-http://tongphuochiep.com/index.php/bao-chi/l-ch-s/28410-giao-d-c-vi-t-nam-du-i-th-i-phap-thu-c-1862-1945-ph-m-d-c-lien
19-http://dalatarchi-tranconghoakts.blogspot.com/2011/07/kien-truc-truong-my-thuat-ong-duong.html-Tóm lược lịch sử Đại Học Kiến trúc

20-https://core.ac.uk/download/pdf/52194341.pdf  -L’´ecole fran¸caise au Vietnam de 1945 a 1975 : de la mission civilisatrice `a la diplomatie culturelle

21-http://phuongmaigallery.com/vn/hoi-hoa-viet-nam/Truong-Ve-Gia-Dinh-Dai-Hoc-My-Thuat-Tp-Hcm-424/p/80

22-http://aejjrsite.free.fr/goodmorning/gm130/gm130_LichSuDaiCuongVeCacTruongLuatVN.pdf

Y Nguyên Mai Trần

Nguồn: https://maivantran.com/2020/09/04/chung-chi%cc%89-va-van-bang-tot-nghie%cc%a3p-o%cc%89-mien-nam-truoc-1975/?fbclid=IwAR1Nd6n_ggqeQ9GywHOzOp4AoTIsPa7Xaf78rpEgqkeOINiHW0XE_vOvyAA

Cảm ơn anh Lai T Nguyen đã chuyẻn chia sẻ ngày 3-5-2024

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Đã Mắt Với Hàng Chục Loại Bánh Đặc Trưng Miền Tây Tại Lễ Hội Bánh Dân Gian Miền Nam

Hết ngày 2/5, Lễ hội bánh dân gian Nam bộ 2023 tổ chức tại Cần Thơ chính thức khép lại. Hàng ngàn khách du lịch, người miền Tây đi làm ăn xa trở về địa phương được thỏa thích thưởng thức hàng chục loại bánh dân gian đặc trưng của miền Tây sông nước.

Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ năm nay tổ chức từ 28/4 đến 2/5 tại TP. Cần Thơ, với chủ đề “Bảo tồn và phát huy giá trị Bánh dân gian Nam Bộ”. Có hơn 300 gian hàng, 29 đơn vị dự thi, hơn 100 nghệ nhân đến từ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất bánh cùng tham gia biểu diễn làm bánh. Ngoài trưng bày và mua bán các loại bánh dân gian Nam Bộ, lễ hội còn có các hoạt động khác như lễ dâng hương và dâng bánh giỗ Tổ Hùng Vương, hội thi làm bánh dân gian, biểu diễn cách làm các loại bánh…

Lễ hội bánh dân gian Nam Bộ là sự kiện thường niên tại TP Cần Thơ, 2023 là năm thứ 10 tổ chức. Ngoài bảo tồn, phát huy, quảng bá giá trị văn hóa ẩm thực Việt Nam và bánh dân gian Nam Bộ, đây cũng là dịp để doanh nghiệp, nghệ nhân gặp gỡ, giao lưu và xây dựng thương hiệu bánh dân gian địa phương, tăng cường liên kết trong việc xúc tiến thương mại, du lịch, phát triển văn hóa ẩm thực, đặc sản vùng miền… Ảnh: BTC

Nam bộ nói chung và miền Tây nói riêng vốn là nơi có nền ẩm thực phong phú, đa dạng. Đây cũng là nơi khởi nguồn của rất nhiều loại bánh dân gian đặc sắc, thể hiện sự khéo léo, sáng tạo của người thợ làm bánh. Các loại bánh dân gian Nam bộ nổi tiếng được yêu thích như bánh xèo, bánh khọt, bánh bò thốt nốt các loại, bánh tằm, bánh ít, bánh ướt ngọt, bánh chuối hấp, nướng, bánh da lợn… Ảnh: BTC


Nhiều loại bánh đã được vinh danh trên khắp thế giới như bánh chuối nếp nướng, bánh da lợn được chuyên trang ẩm thực hàng đầu thế giới TasteAtlas bình chọn vào tốp 100 loại bánh ngọt ngon nhất thế giới. Ảnh: BTC

Bánh bò đường thốt nốt, loại bánh đặc sản rất đặc biệt của An Giang. Ảnh: BTC

Bánh pía, đặc sản của riêng Sóc Trăng nổi tiếng khắp nước, vươn ra cả nước ngoài. Ảnh: BTC

Bánh da lợn miền Tây, loại bánh được làm từ bột, nước cốt dừa, đậu xanh… được chuyên trang ẩm thực hàng đầu thế giới TasteAtlas bình chọn vào tốp 100 loại bánh ngọt ngon nhất thế giới. Ảnh: BTC

Quầy bánh đậu xanh đủ hình dáng, màu sắc không khác một… hàng trái cây. Ảnh: BTC

Bánh tét lá cẩm trứng muối… Ảnh: BTC

Người miền Tây gói bánh tét không chỉ có nhân đậu xanh thịt mỡ, mà còn có nhân chuối, dừa, đậu đen, trứng muối… Ảnh: BTC

Bánh đúc, bánh ít trần vốn không có gốc miền Tây nhưng qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân địa phương, lại mang đặc trưng riêng với hình dáng, màu sắc bắt mắt. Ảnh: BTC

Bánh khọt nhân tôm, đậu xanh quyến rũ. Ảnh: HC

Người miền Tây kết hợp dừa và nước cốt dùa trong hầu hết các món ăn. Ảnh: BTC

Bánh đúc lá dứa. Ảnh: BTC

Bánh cuốn ngọt là một trong những món bánh đặc sản của miền Tây với phần vỏ dẻo, mềm kết hợp với vị ngọt béo của nhân dừa và nhân đậu xanh. Ảnh: BTC

Bánh xèo miền Tây không lẫn với nơi nào khác khi vỏ bánh thật mỏng, giòn, khi ăn sẽ cuốn với rau cải, các loại rau thơm và chấm nước mắm chua ngọt… Ảnh: BTC

Không chỉ sáng tạo ra những loại bánh ngon mà người Nam Bộ còn nâng tầm giá trị bánh dân gian theo nhiều cách khác nhau. Ảnh: BTC

Lễ hội bánh dân gian Nam bộ 2023 là nơi để du khách thưởng thức nhiều loại bánh dân gian truyền thống, hòa mình và không khí lễ hội với những trải nghiệm khó quên khi về Cần Thơ. Dịp này, Cần Thơ cũng tổ chức Lễ hội Khinh khí cầu với chủ đề “Bay lên Cần Thơ! Tự hào quê hương gạo trắng nước trong” . Ảnh: BTC–

( Nguồn: Email Bạn gửi. Cảm ơn Kate nhé)

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam