Về Miền Đất Phật- Hành Hương Tứ Động Tâm Phật Giáo
Đây là bài số bảy trăm sáu mươi hai (762) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.
Nhân mùa Phật Đản, tôi đã giới thiệu Nơi Phật Đản Sinh trong chuyến hành hương Về Miền Đất Phật năm 2007 của vợ chồng tôi trong bài viết MCTN 761.
Trong bài viết MCTN 762 hôm nay tôi xin được giới thiệu tiếp:
2.- Nơi Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng.
3.- Nơi Đức Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân cho 5 anh em Kiều Trần Như trong Vườn Lộc
Uyển.
4.- Nơi Đức Phật nhập Niết Bàn ở Vườn Sa La Song Thọ.
Xin mời bạn cùng đi với tôi nhé.
2-Về Miền Đất Phật 2-Nơi Phật Thành Đạo dưới cội bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng.
Vài Nét Về Bồ Đề Đạo Tràng
Bồ Đề Đạo Tràng là nơi Đức Phật đắc đạo sau 49 ngày thiền định dưới cội cây bồ đề. Đây là một thánh địa quan trọng cho các Phật tử muốn tìm sự tỉnh giác trong thiền định và nghiên cứu lịch sử.
Trước đó Đức Phật đã tu 5 năm khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như tại Uruvela, nằm bên bờ phía nam sông Ni Liên Thuyền , nhưng sau đó Ngài nhận thức rằng tu khổ hạnh không phải là cứu cánh của Đạo pháp cho nên Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh, nhận bát sữa của tín nữ Sujata rồi đi về Bodhgaya, đến cây bồ đề thiêng liêng, thiền định và đắc đạo dưới cội bồ đề này.
Bồ đề Đạo Tràng có tên là Bodh Gaya thuộc bang Bihar phía Đông Bắc Ấn Độ, nằm cách phố cổ Gaya khoảng 12 Km về phía Bắc và cách thủ phủ Patna của bang Bihar 106 km.
Bồ Đề Đạo Tràng có một chiều dài lịch sử rất phong phú và trải qua nhiều lần bị phá hủy, trùng tu làm sống lại thánh địa này.
Các di tích còn lại tại nơi đây là Tháp Đại Giác, cội bồ đề, kim cương tòa, các tháp nhỏ xung quanh tháp Đại Giác. Đa số những di tích mang nét chạm trổ rất nghệ thuật vào thế kỷ thứ nhất trước tây lịch.
Theo một tài liệu lịch sử thì vua A Dục đã xây dựng một đền thờ đầu tiên tại thánh địa. Ngôi tháp Đại Giác hùng vĩ đã được xây dựng vào thế kỷ thứ hai sau Tây lịch trên nền ngôi tháp vua A Dục đã xây. Đây là ngôi tháp hình chóp nhọn đứng sừng sững với chiều cao 52m, mỗi cạnh vuông 15 m. Bên trong tháp có thờ tượng Phật bằng đá mạ vàng cao khoảng 2m được tạc vào khoảng năm 380 sau Tây lịch. Cây bồ đề hiện tại là cây được chiết ra từ cây bồ đề ở Sri Lanka được vua A Dục tặng Sri Lanka, do chính người con trai của vua A Dục là Mahendra tự tay đem qua đó trồng. Thầy Huyền Diệu thường thức sớm đến đây nhặt những lá bồ đề để tặng cho các Phật tử hữu duyên với Thầy,
Riêng tôi thì nhận được một lá bồ đề do một chú tiểu Ấn Độ tặng và tôi đã ép vào một quyển sách mang được về Mỹ để thờ.
Hiện nay tại Bodhgaya có rất nhiều ngôi chùa của các quốc gia như Nhật Bản, Sri Lanka, Miến Điện,Trung Quốc v…v…Thầy Huyền Diệu cũng đã xây thêm được một Việt Nam Phật Quốc Tự thứ hai tại Bồ Đề Đạo Tràng do chính công sức của Thầy và các Phật tử Việt Nam đóng góp chứ không do chính phủ tài trợ như các quốc gia kể trên. Thật đáng khâm phục cho lòng kiên trì hộ pháp của Thầy Huyền Diệu.
Tôi đã đến đảnh lễ dưới cội bồ đề và đi kinh hành xung quanh tháp Đại Giác 3 vòng trong lòng hân hoan, an lạc vì không ngờ mình lại có phúc duyên đến tận nơi, nhìn tận mắt nơi Đức Phật thành đạo mà ngày xưa mình vẫn nghĩ đây chỉ là một huyền thoại do ông bà cha mẹ kể lại. Nhiều phái đoàn hành hương khác đã đến quỳ lạy trước cội bồ đề với lòng thành kính. Một không khí trang nghiêm và an lạc bao trùm thánh địa này với khách hành hương ngồi im lặng thiền định
Mời xem hình ảnh Nơi Phật thành đạo
3-Về Miền Đất Phật 3- Vườn Lộc Uyển- Nơi Phật Thuyết Pháp
Vườn Lộc Uyển là nơi Đức Phật Thích Ca đến thuyết pháp sau khi Phật đắc đạo dưới cội bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng.
Vườn Lộc Uyển ở Sarnath, cách Varanasi không đầy 8 cây số. Từ Bồ Đề Đạo Tràng Đức Phật phải vượt 120 cây số để đến vườn Lộc Uyển giảng bài pháp đầu tiên mang tên Kinh Chuyển Pháp Luân về Tứ Diệu Đế là Bốn sự thật chân chính cho 5 anh em Kiều Trần Như là những người trước đây đã đồng tu với Đức Phật và rời bỏ Phật vì họ không đồng tình với quyết định từ bỏ lối tu khổ hạnh của Ngài. Tuy nhiên vì dáng dấp uy nghi, cao quý của Ngài đã khiến cho 5 vị tỳ kheo này quí phục nên đã ngồi nghe Phật thuyết giảng bài kinh này.
Tứ Diệu Đế là bốn sự thật hay đẹp, quí báu, chắc chắn, rõ ràng, đúng đắn nhất. Đó là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
Khồ đế: Trình bày sự thật Đời là bể Khổ. Đức Phật ví đời là bể khổ mênh mông đầy mồ hôi và nước mắt. Căn cứ vào kinh Phật, có thể phân loại ra tam khổ (khổ khổ, hoại khổ, hành khổ) và bát khổ( khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ.
Tập đế: Trình bày nguyên nhân của những sự khổ. Cội gốc của sinh tử luân hồi là do phiền não, mê lầm mà ra. Có 10 phiền não gốc là tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến.
Diệt đế: Trình bày những quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sinh sẽ đạt được khi đã diệt trừ được những nỗi khổ và nguyên nhân của đau khổ. Quả vị ấy chính là Niết Bàn.
Đạo đế: Trình bày về những phương pháp chân chính, có hiệu quả chắc thật để thành Phật.
Đạo đế là phần quan trọng nhất trong Tứ Diệu Đế.
Trong Đạo đế, Đức Phật trình bày 37 phẩm trợ đạo chia ra làm 7 loại:
1- Tứ niệm xứ
2- Tứ chánh cần
3- Tứ Như Ý túc
4- Ngũ căn
5- Ngũ lực
6- Thất bồ đề phần
7- Bát chánh đạo phần
Trên đây là sơ lược ý chính của Tứ Diệu Đế. Nếu quý bạn nào muốn tìm hiểu rõ ràng hơn về
Tứ Diệu Đế, xin tìm đọc quyển Phật Học Phổ Thông do cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa biên soạn có thể tìm thấy ở thư viện các chùa.Ngày xưa, vườn Lộc Uyển là một thiền viện to lớn có thể chứa 1,500 tu sĩ đến tu tập hoặc nghe thuyết giảng, nhưng trải qua bao nhiêu thời đại nên đã bị tàn phá nhiều, nay chỉ còn lại những đổ nát, hoang tàn.
Ngày nay, vườn Lộc Uyển là một công viên lớn có bán vé vào cửa khoảng 100 rubi (khoảng hơn 2 đô la Mỹ). Bên trong là những bãi cỏ xinh tươi và bầy nai vàng dễ thương. Trong vườn này còn lại bảo tháp Dhamekh cao 33m được xây dựng khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên vì sau này các nhà khảo cổ tìm ra được tại nơi đây một bảng đề “Dhamaka” (pháp luân), nên mới chắc rằng đó là nơi Phật giảng bài pháp đầu tiên.
Trong vườn Lộc Uyển, SL thấy một nền đá hình vuông, mỗi chiều khoảng 13m, dài 2m, cao chưa đến 5m, ngày xưa là nơi trú xá của Đức Phật trong mùa mưa, nay là nơi nhiều khách hành hương ngồi thiền định.
Phía nam của nền tháp này là một nền đá hình tròn, đường kính tròn khoảng 14 m. Đây là dấu tích của tháp Dharmarajika, ngày xưa của vua A Dục xây để thờ xá lợi Phật. Tháp này bị phá huỷ để lấy gạch xây dựng các công trình khác vào thế kỷ thứ 8. Khi đào tháp lấy gạch, dân địa phương tìm thấy một hộp đá đựng xá lợi Phật và họ đã đem thả xuống sông Hằng theo truyền thống Ấn Độ.
Tại một ngôi chùa Tích Lan kế vườn Lộc Uyển có trình bày Kinh Chuyển Pháp Luân được viết với nhiều ngôn ngữ khác nhau: Anh ngữ, Hoa ngữ, Tạng ngữ và có cả bản Việt Ngữ nữa.
SL cũng được chiêm bái tượng Đức Phật ngồi thuyết giảng Tứ Diệu Đế cho 5 anh em Kiều trần Như tại ngôi chùa này
Lộc Uyển cũng chính là nơi thành lập tăng đoàn đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo.
Mời xem hình ảnh Nơi Phật Thuyết Pháp- Vườn Lộc Uyển
4-Về Miền Đất Phật 4 – Câu Thi Na- Nơi Phật Nhập Niết Bàn
Mời các bạn cùng đi đến Câu Thi Na (Kushinagar), nơi đức Phật nhập Niết bàn vào năm 483 trước công nguyên, sau 45 năm hành đạo tê’ độ chúng sinh.
Vài nét về Câu thi Na ( Kushinagar)
Câu thi Na tên ngày nay là Kasia, nằm khoảng giữa Vesali ( tên ngày nay là Vaishali)và Xá Vệ ( tên ngày nay là Sravasti) là nơi Đức Phật nhập Niết Bàn vào năm 483 trước Công Nguyên sau 45 năm hành đạo tế độ chúng sinh,thọ 80 tuổi.
Ba tháng trước khi nhập diệt, Đức Phật báo trước cho A nan biết là Ngài sẽ nhập niết bàn ở chỗ của bộ lạc Malla. Cuối năm 484, Đức Phật rời Vesali đi về hướng Tây Bắc dự định đến thị trấn nhỏ Kusinara, ở nơi đây chờ ngày viên tịch.
Trên đường, Đức Phật đi ngang qua thành phố Patna, tên ngày xưa là Hoa Thị Thành, kinh đô do vua A Xà Thế dựng nên và là cố đô của Ấn Độ, rồi tiếp tục hành trình qua Vesali, một đô thị giàu sang, nơi có một lần Ngài hoá độ cho người kỹ nữ Ambapali. Patna chính là thủ phủ của bang Bihar ngày nay.
Khi đi ngang qua ngôi làng nhỏ Pava, Ngài được Cunda,là con một người thợ rèn, cúng dường một bữa ăn nấu với món nấm đặc biệt. Cunda là người cuối cùng dâng bữa ăn chót cho Đức Phật. Rời nhà Cunđa, Đức Phật lên đường đi về hướng Kusinara và cuối cùng Ngài đến được rừng cây Sala ở ngoại thành. Trước khi Đức Phật nhập diệt, ngài đã nhận một vị du sĩ ngoại đạo tên Subhadda làm đệ tử cuối cùng. Dưới tàng cây sala, Đức Phật đã nhập diệt vào nữa đêm ngày Rằm tháng Hai.
Trong khu vườn cây Sala có một ngôi đền màu trắng,đền Bát Đại Niết Bàn, được xây cất lại năm 1956, mái cao, trong đó có tượng Đức Như Lai nhập Niết Bàn. Tượng Phật dài 6,2 mét bằng đá được tìm thấy lại năm 1876. Ngài nằm hướng đầu về phía Bác như đang ngủ. Tượng Phật được đắp y vàng nằm an tịnh, nét mặt thanh thản, hai chân để lộ ra ngoài.
Tôi lặng lẻ đi chậm rãi ba vòng theo chiều kim đồng hồ quanh tượng Phật và cung kính quỳ lạy trước tượng Phật để tưởng nhớ công ơn Đức Từ Phụ đã dùng chính bản thân mình để minh hoạ cho giáo pháp của mình.
Bên ngoài các phái đoàn hành hương khác đang tiến vào ngôi đền để chiêm bái tượng Phật nên chúng tôi phải rời ngôi đền để đến nơi làm lễ trà tỳ, lễ hoả thiêu nhục thân Đức Phật, cách ngôi đền 1,5km, đó là tháp Rambhar, ngày nay là một ngọn đồi nhỏ đường kính 34m, cao 8 m. Tôi
Mời xem hình ảnh về nơi Phật Nhập Niết Bàn.
Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.
Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 762-ORTB 1193-5202025)Sương Lam
Website: www.suonglamportland.wordpress.com
http://www.youtube.com/user/suonglam