Xuân Về Trên Đất Phật
Sương Lam
Xuân về mời quý thân hữu cùng đi hành hương xứ Phật để cầu nguyện cho thế giới hoà bình, chúng sinh an lạc.
Bài viết này cũng thay lời người viết chúc mừng Oregon Thời Báo đã sinh hoạt được 20 năm đem lại niềm vui tinh thần cho đồng hương Việt Nam tại Oregon.
Vợ chồng người viết có phúc duyên đi hành hương chiêm ngưỡng các thánh tích Phật Giáo ở Ấn Độ . Đó là bốn thành tích mà người con Phật gọi Tứ Động Tâm. Xin được chia sẻ đến quý than hữu chưa có cơ hội thăm viếng các nơi này.
Chúng tôi được phúc duyên tham dự phái đoàn hành hương chiêm bái Phật tích Ấn Độ do Công ty Du Lịch East Sea Travel ở Việt Nam tổ chức nhân dịp vợ chồng tôi về Việt Nam thăm gia đình trước khi có những chuyến hành hương do chư tăng ni và các chùa tổ chức.
Tôi xin được chia sẻ phúc duyên và sự an lạc khi được chiêm bái các Phật tích quí báu này đến quí thân hữu qua bài ký sự và các hình ảnh mà tôi chụp được nhân chuyến hành hương này với niềm hy vọng rằng, khi ngắm nhìn những hình ảnh này trong thâm tâm của quí thân hữu sẽ khởi niệm ý nguyện được về thăm xứ Phật trong cuộc đời của mình, để được chiêm bái những nơi mà đức Từ Phụ đã sinh ra, lớn lên trong vòng sinh, lão, bịnh, tử của một kiếp người với những hạnh nguyện cao cả đầy Bi,Trí, Dũng, giúp chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ.
Cuộc hành hương chú trọng vào 4 nơi quan trọng mà trong nhà Phật gọi là Tứ Động Tâm. Đó là:
1.- Nơi Đức Phật đản sinh ở vườn Lâm Tì Ni.
2.- Nơi Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng.
3.- Nơi Đức Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân cho 5 anh em Kiều Trần Như trong Vườn Lộc
Uyển.
4.- Nơì Đức Phật nhập Niết Bàn ở Vườn Sa La Song Thọ.
Tour hành hương Phật tích Ấn Độ này gồm 12 ngày khởi hành từ Saigòn, đi Malasia Airline sang Kua Lumpur, chờ 6 tiếng xong cũng đi Malasia Airline đến New Dehli, xong đi xe lửa đến Lucknow và từ đó di chuyển đến các Phật tích khác bằng xe van nhỏ 12 chỗ ngồi có máy lạnh. Ngày thứ 9 sau khi viếng sông Hằng và vườn Lộc Uyển xong thì phải đi xe lửa ngủ đêm trên tàu để về lại New Dehli viếng thủ đô và Agra xem Taj Mahal.
Ngoài 4 Phật tích quan trọng này, SL được viếng thăm những Phật tích khác mà chúng ta khi đọc kinh sách thường tụng niệm hay đã đọc qua như Kỳ Viên Tịnh Xá của Ông Cấp Cô Độc và Thái Tử Kỳ Đà dâng tặng, Trúc Lâm Tịnh Xá, núi Linh Thứu, Đại học Nalanđa v..v..
Hơn thế nữa SL cũng đã được viếng thăm sông Hằng, con sông thiêng của Ấn Độ và ngôi đền Taj Mahal nổi tiếng, có thể nói là một kỳ quan thế giới hiện đại.
Sau chuyến hành hương 12 ngày này, SL học hỏi được rất nhiều đìều hữu ích cho đời sống tâm linh trong bước đầu sơ cơ học đạo của mình.
Xin mời quí thân hữu cùng SL về miền Đất Phật viếng thăm bốn Phật tích Tứ Động Tâm đó là
- Nơi Đức Phật đản sinh.
- Nơi Đức Phật thành đạo
- Nơi Đức Phật thuyết pháp.
- Nơi Đức Phật nhập niết bàn
1-Nơi Phật Đản Sinh
Vài nét về khu vườn Lâm Tỳ Ni
Lâm Tỳ Ni thuộc quận Rudendehi của Nepal là nơi hoàng hậu Maya sinh thái tử Tật Đạt Đa dưới cây vô ưu. Trước khi đến Lâm Tỳ Ni , chúng tôi đã ghé qua Sravasti, tên ngày xưa là Xá Vệ, kinh đô của Vương Quốc Kiều Tất La , vua là Ba Tư Nặc để thăm vườn Kỳ Viên Tịnh xá do Ngài trưởng giả Cấp Cô Độc dùng vàng trải khắp mặt đất để mua cúng dường cho Đức Phật làm nơi thuyết pháp.
Từ Sravasti, phái đoàn của chúng tôi đi xe van 12 chỗ ngồi chạy gần 5 tiếng đồng hồ mới đến biên giới Nepal làm thủ tục nhập cảnh Nepal và phải đi thêm khỏang 1 tiếng đồng hồ nữa mới đến khách sạn Lâm Tỳ Ni ở cách vườn Lâm Tỳ Ni 10 phút đi bộ.
Chúng ta phải mua vé vào cửa để vào vườn Lâm Tỳ Ni ( khoảng 10 USD). Trong khu vườn thiêng có đền thờ hoàng hậu Maya được xây dựng từ thế kỷ thứ ba trước công nguyên, bên trong có phiến đá khắc họa sự tích Đức Phật Đản Sinh. Bên ngoài đền có trụ đá của vua A Dục mà mãi đến năm 1896 mới được tìm thấy lại trong cuộc khai quật do nhà khảo cổ người Đức, tiến sĩ Alois Fuhrer phụ trách. Tuy nhiên phải đợi đến nằm 1967,vùng Lâm Tỳ Ni mới được thế giới chú ý đến khi ngài U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đến viếng Phật tích và tiến hành Lễ khai mạc Chương trình Phát triển Lâm Tỳ Ni. Hiện tại đã có hơn 13 quốc gia đóng góp tài chánh cho kế hoạch phát triển này và xây dựng các ngôi chùa nằm rải rác xung quanh khu rừng thiêng Lâm Tỳ Ni như chùa của Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Quốc v..v…do chính phủ các nước đó tài trợ việc xây cất. Riêng Việt Nam Phật Quốc Tự ở Lâm Tì Ni thì lại do Thầy Huyền Diệu và các phật tử Việt Nam ở khắp thế giới đóng góp xây dựng. Thật là một công tác Phật sự đáng được tán thán!
Trong vườn thiêng Lâm Tỳ Ni còn có hồ nước Pushkarni, mà theo huyền sử là nơi rồng hiện ra tắm Phật. Bên cạnh hồ là một cây bồ đề to lớn treo đầy những lá phướng của phái đoàn hành hương Tây Tạng. Phái đoàn hành hương của Sri Lanka trong đồng phục màu trắng đang quì khấn lạy cung kính trước trụ đá của vua A Dục và trước cội bồ đề.
Kỳ sau tôi sẽ mời quí bạn cùng đi viếng Bồ Đề Đạo Tràng, nơì Phật thành đạo nhé.
Chúc quí bạn ngủ ngon.
2-Nơi Phật Thành Đạo
Vài Nét Về Bồ Đề Đạo Tràng
Bồ Đề Đạo Tràng là nơi Đức Phật đắc đạo sau 49 ngày thiền định dưới cội cây bồ đề. Đây là một thánh địa quan trọng cho các Phật tử muốn tìm sự tỉnh giác trong thiền định và nghiên cứu lịch sử.
Trước đó ĐứcPhật đã tu 5 năm khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như tại Uruvella, nằm bên bờ phía nam sông Ni LiênThuyền , nhưng sau đó Ngài nhận thức rằng tu khổ hạnh không phải là cứu cánh của Đạo pháp cho nên Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh, nhận bát sữa của tín nữ Sujata rồi đi về Bodh Gaya, đến cây bồ đề thiêng liêng, thiền định và đắc đạo dưới cội bồ đề này.
Bồ đề Đạo Tràng có tên là Bodh Gaya thuộc bang Bihar phía Đông Bắc Ấn Độ, nằm cách phố cổ Gaya khoảng 12 Km về phía Bắc và cách thủ phủ Patna của bang Bihar 106 km.
Bồ Đề Đạo Tràng có một chiều dài lịch sử rất phong phú và trải qua nhiều lần bị phá hủy, trùng tu làm sống lại thánh địa này.
Các di tích còn lại tại nơi đây là Tháp Đại Giác, cội bồ đề, kim cương tòa, các tháp nhỏ xung quanh tháp Đại Giác. Đa số những di tích mang nét chạm trổ rất nghệ thuật vào thế kỷ thứ nhất trước tây lịch.
Theo một tài liệu lịch sữ thì vua A Dục đã xây dựng một đền thờ đầu tiên tại thánh địa. Ngôi tháp Đại Giác hùng vĩ đã dược xây dựng vào thế kỷ thứ hai sau Tây lịch trên nền ngôi tháp vua A Dục đã xây. Đây là ngôi tháp hình chóp nhọn đứng sừng sững với chiều cao 52 m, mỗi cạnh vuông 15 m. Bên trong tháp có thờ tượng Phật bằng đá mạ vàng cao khoảng 2m được tạc vào khoảng măm 380 sau Tây lịch. Cây bồ đề hiện tại là cây được chiết ra từ cây bồ đề ở Sri Lanka được vua A Dục tặng Sri Lanka, do chính người con trai của vua A Dục là Mahendra tự tay đem qua đó trồng. Thầy Huyền Diệu thường thức sớm đến đây nhặt những lá bồ đề để tặng cho các Phật tử hữu duyên với Thầy,
Riêng tôi thì nhận được một lá bồ đề do một chú tiểu Ấn Độ tặng và tôi đã ép vào một quyển sách mang được về Mỹ để thờ.
Hiện nay tại Bodh Gaya có rất nhiều ngôi chùa của các quốc gia như Nhật Bản, Sri Lanka, Miến Điện,Trung Quốc v…v…Thầy Huyền Diệu cũng đã xây thêm được một Việt Nam Phật QuốcTự thứ hai tại Bồ Đề Đạo Tràng do chính công sức của Thầy và các Phật tử Việt Nam đóng góp chứ không do chính phủ tài trợ như các quốc gia kể trên. Thật đáng khâm phục cho lòng kiên trì hộ pháp của Thầy Huyền Diệu.
Tôi đã đến đảnh lễ dưới cội bồ đề và đi kinh hành xung quanh tháp Đại Giác 3 vòng trong lòng hân hoan, an lạc vì không ngờ mình lại có phúc duyên đến tận nơi, nhìn tận mắt nơi Đức Phật thành đạo mà ngày xưa mình vẫn nghĩ đây chỉ là một huyền thoại do ông bà cha mẹ kể lại. Nhiều phái đoàn hành hương khác đã đến quỳ lạy trước cội bồ đề với lòng thành kính. Một không khí trang nghiêm và an lạc bao trùm thánh địa này với khách hành hương ngồi im lặng thiền định.
3-Nơi Phật Thuyết Pháp
Vài nét về Vườn Lộc Uyển
Vườn Lộc Uyển là nơi Đức Phật Thích Ca đến thuyết pháp sau khi Phật đắc đạo dưới cội bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng.
Vườn Lộc Uyển ở Sanarth, cách Varanasi không đầy 8 cây số. Từ Bồ Đề Đạo Tràng Đức Phật phải vượt 120 cây số để đến vuờn Lộc Uyển giảng bài pháp đầu tiên mang tên Kinh Chuyển Pháp Luân về Tứ Diệu Đế là Bốn sự thật chân chính cho 5 anh em Kièu Trần Như là những người trước đây đã đồng tu với Đức Phật và rời bỏ Phật vì họ không đồng tình với quyết định từ bỏ lối tu khổ hạnh của Ngài. Tuy nhiên vì dáng dấp uy nghi, cao quí của Ngài đã khiến cho 5 vị tỳ kheo này quí phục nên đã ngồi nghe Phật thuyết giảng bài kinh này.
Tứ Diệu Đế là bốn sự thật hay đẹp, quí báu, chắc chắn, rõ ràng, đúng đắn nhất. Đó là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
Khồ đế: Trình bày sự thật Đời là bể Khổ. Đức Phật ví đời là bể khổ mênh mông đầy mồ hôi và nước mắt. Căn cứ vào kinh Phật, có thể phân loại ra tam khổ (khổ khổ, hoại khổ, hành khổ) và bát khổ( khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tằng hội khổ.
Tập đế: Trình bày nguyên nhân của những sự khổ. Cội gốc của sinh tử luân hồi là do phiền não, mê lầm mà ra. Có 10 phiền não gốc là tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến.
Diệt đế: Trình bày những quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sinh sẽ đạt được khi đã diệt trừ được những nỗi khổ và nguyên nhân của đau khổ. Quả vị ấy chính là Niết Bàn.
Đạo đế: Trình bày về những phương pháp chân chính, có hiệu quả chắc thật để thành Phật.
Đạo đế là phần quan trọng nhất trong Tứ Diệu Đế.
Trong Đạo đế, Đức Phật trình bày 37 phẩm trợ đạo chia ra làm 7 loại:
1- Tứ niệm xứ
2- Tứ chánh cần
3- Tứ Như Ý túc
4- Ngũ căn
5- Ngũ lực
6- Thất bồ đề phần
7- Bát chánh đạo phần
Trên đây là sơ lược ý chính của Tứ Diệu Đế. Nếu quí bạn nào muốn tìm hiểu rõ ràng hơn về
Tứ Diệu Đế, xin tìm đọc quyển Phật Học Phổ Thông do cố Hoà Thượng Thích Thiện Hoa biên soạn có thể tìm thấy ở thư viện các chùa.
Ngày xưa, vườn Lộc Uyển là một thiền viện to lớn có thể chứa 1,500 tu sĩ đến tu tập hoặc nghe thuyết giảng, nhưng trải qua bao nhiêu thời đại nên đã bị tàn phá nhiều, nay chỉ còn lại những đổ nát, hoang tàn.
Ngày nay, vườn Lộc Uyển là một công viên lớn có bán vé vào cửa khoảng 100 rubi (khoảng hơn 2 đô la Mỹ). Bên trong là những bãi cỏ xinh tươi và bầy nai vàng dễ thương. Trong vườn này còn lại bảo tháp Dhamekh cao 33 m được xây dựng khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên vì sau này các nhà khảo cổ tìm ra được tại nơi đây một bảng đề “Dhamaka” (pháp luân), nên mới chắc rằng đó là nơi Phật giảng bài pháp đầu tiên.
Trong vườn Lộc Uyển, tôi thấy một nền đá hình vuông, mỗi chiều khoảng 13 m, dày 2m, cao chưa đến 5m, ngày xưa là nơi trú xá của Đức Phật trong mùa mưa, nay là nơi nhiều khách hành hương ngồi thiền định.
Phía nam của nền tháp này là một nền đá hình tròn, đường kính tròn khoảng 14 m. Đây là dấu tích của tháp Dharmarajika, ngày xưa của vua A Dục xây để thờ xá lợi Phật. Tháp này bị phá huỷ để lấy gạch xây dựng các công trình khác vào thế kỷ thứ 8. Khi đào tháp lấy gạch, dân địa phương tìm thấy một hộp đá đựng xá lợi Phật và họ đã đem thả xuống sông Hằng theo truyền thống Ấn Độ.
Tại một ngôi chùa Tích Lan kế vườn Lộc Uyển có trình bày Kinh Chuyển Pháp Luân đựợc viết với nhiều ngôn ngữ khác nhau: Anh ngữ, Hoa ngữ, Tạng ngữ và có cả bản Việt Ngữ nữa.
Tôi cũng được chiêm bái tượng Đức Phật ngồi thuyết giảng Tứ Diệu Đế cho 5 anh em Kiều trần Như tại ngôi chùa này
Lộc Uyển cũng chính là nơi thành lập tăng đoàn đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo.
4- Nơi Phật Nhập Niết Bàn
Vài nét về Câu thi Na ( Kusginagar)
Câu thi Na tên ngày nay là Kasia, nằm khoảng giữa Vesali ( tên ngày nay là Vaishali)và Xá Vệ ( tên ngày nay là Sravasti) là nơi Đức Phật nhập Niết Bàn vào năm 483 trước Công Nguyên sau 45 năm hành đạo tế độ chúng sinh,thọ 80 tuổi.
Ba tháng trước khi nhập diệt, Đức Phật báo trước cho A nan biết là Ngài sẽ nhập niết bàn ở chỗ của bộ lạc Malla. Cuối năm 484, Đức Phật rời Vesali đi về hướng Tây Bắc dự định đến thị trấn nhỏ Kusinara, ở nơi đây chờ ngày viên tịch.
Trên đường, Đức Phật đi ngang qua thành phố Patna, tên ngày xưa là Hoa Thị Thành, kinh đô do vua A Xà Thế dựng nên và là cố đô của Ấn Độ, rồi tiếp tục hành trình qua Vesali, một đô thị giàu sang, nơi có một lần Ngài hoá độ cho người kỹ nữ Ambapali. Patna chính là thủ phủ của bang Bihar ngày nay.
Khi đi ngang qua ngôi làng nhỏ Pava, Ngài được Cunda, là con một người thợ rèn, cúng dường một bửa ăn nấu với món nấm đặc biệt. Cunda là người cuối cùng dâng bửa ăn chót cho Đức Phật. Rời nhà Cunđa, Đức Phật lên đường đi về hướng Kusinara và cuối cùng Ngài đến được rừng cây Sala ở ngoại thành. Trước khi Đức Phật nhập diệt, ngài đã nhận một vị du sĩ ngoại đạo tên Subhađa làm đệ tử cuối cùng. Dưới tàng cây sala, Đức Phật đã nhập diệt vào nữa đêm ngày Rằm tháng Hai.
Trong khu vườn cây Sala có một ngôi đền màu tră’ng, đền Bát Đại Niết Bàn, được xây cất lại năm 1956, mái cao, trong đó có tượng Đức Như Lai nhập Niết Bàn. Tượng Phật dài 6,2 mét bằng đá được tìm thấy lại năm 1876. Ngài nằm hướng đầu về phía Bác như đang ngủ. Tượng Phật được đắp y vàng nằm an tịnh, nét mặt thanh thản, hai chân để lộ ra ngoài.
Tôi lặng lẻ đi chậm rãi ba vòng theo chiều kim đồng hồ quanh tượng Phật và cung kính quỳ lạy trước tượng Phật để tưởng nhớ công ơn Đức Từ Phụ đã dùng chính bản thân mình để minh hoạ cho giáo pháp của mình .
Bên ngoài các phái đoàn hành hương khác đang tiến vào ngôi đền để chiêm bái tượng Phật nên chúng tôi phải rời ngôi đền để đến nơi làm lễ trà tỳ, lễ hoả thiêu nhục thân Đức Phật, cách ngôi đền 1,5km, đó là tháp Rambhar, ngày nay là một ngọn đồi nhỏ đường kính 34m, cao 8 m. Tôi cũng lặng lẻ đi quanh ngọn đồi 3 vòng, vừa đi vừa niệm Phật trong buổi sáng có mưa rơi nhè nhẹ .
5-Viếng thăm Na Lan Đà
Sau khi ăn tối và nghỉ đêm tại Patna, sáng hôm sau phái đoàn chúng tôi khởi hành đi đến NALANDA,viện đại học Phật Giáo đầu tiên của thế giới .
NALANDA cách Patna 70km về phía Đông Nam. Phải mất 3 tiếng đồng hồ lái xe vì đường xá xấu và gặp phải đoàn xe hàng chở thực phẩm nên bị kẹt xe.
Đường đi vào đại học Nalanda là một lối đi với hai hàng cây cao bóng mát khiến người viết chợt nhớ đến con đường Duy Tân cây dài bóng mát đưa đến trường Luật ngày nào.
Tại cổng đi vào phế tích Nalanda, có một bảng đá màu nâu đen trình bày tổng thể khu vực đại học.
Đây là viện Phật học đầu tiên của thê’ giới được xây dựng vào thế kỷ thứ hai. Suốt thời gian gần 1000 năm, đây là nơi đào tạo nhiều thế hệ giảng sư và luận sư xuất chúng của Phật Giáo như Long Thụ, Thánh Thiên, Vô Trước, Thế Thân, Hộ Pháp, Trần Na, Giới Hiền.
Nơi đây 8 trường phái Phật Giáo của thời đó đều được giảng dạy từ tiểu thừa, duy thức, nhân sinh và cả những ngành khác như Y học, toán học. Các giáo sư nước ngòai cũng được mời dạy, nổi tiếng nhầt là Ngài Huyền Trang từ Trung Quốc.
Trong thời kỳ cực thịnh có đến 10,000 tì kheo tu học tại đây.
Khoảng cuối thế kỷ 12, Nalanda bị các tín đồ Hồi Giáo tàn phá và năm 1235 hai tu viện cuối cũng bị hủy diệt. Nalanda bây giờ là một phế tích vì tất cả chỉ còn là nền đá.
Nalanda cũng là quê hương của Ngài Xá Lợi Phất, vị đại đệ tử về trí tuệ của Đức Phật. Nơi đây có tháp thờ Ngài Xá Lợi Phất.
Nhìn một nơi đã có một thời gian cực thịnh rồi cũng bị suy tận mới thấy rằng lời dạy của Đức Phật là đúng: “Vạn pháp đều vô thường, có sanh sẽ có diệt.”
6-Vài nét về Vương Xá và Trúc Lâm Tịnh xá
Sau khi viếng thăm Đại Học Nalanda, chúng tôi tiếp tục đi đến thị trấn Rajgir tức là kinh đô Vương Xá của nước Ma Kiệt Đà của vua Tần Bà Sa La ngày xưa. Raigir cách Nalanda 11km về phía nam, là nơi Đức Phật thường đi khất thực. Vương xá cũng là nơi Phật gặp gỡ các đại đệ tử quan trọng đó là Ngài Xá Lơi Phất và Mục Kiền Liên.
Theo lịch sử, tại nơi đây vua Tần Bà Sa La (trẻ hơn Phật 5 tuổi) đã đề nghị nhường một phần đất Ma Kiệt Đà cho Đức Phật khi còn là một du sĩ để cùng nhau trị vì, nhưng Đức Phật đã từ chối.
Vua Tần Bà Sa La thỉnh cầu Đức Phật sau khi đắc đạo hãy trở về thăm vua. Đức Phật nhận lời và thường tới Vương Xá để giảng pháp trong khu vườn Trúc Lâm (Velvunan) trồng toàn tre, nằm ở phía bắc thành Vương Xá. Đây là nơi Đức Phật hay đến giảng kinh, thuyết pháp nên trong các bộ kinh hay có đoạn: “Một thời Đức Thế Tôn ở tại Vương Xá, trong vườn tre Velvunan…”
Trong vườn hiện còn hồ nước trong xanh. Đó là hồ Kalandaka nơi Đức Phật thường tắm. Ngày nay vườn Trúc Lâm được rào bọc cẩn thận, có lối đi sạch sẻ, hoa lá xinh đẹp.
Chúng tôi có đến viếng Trúc Lâm Tịnh Xá, ngắm nhìn, chụp hình kỷ niệm bên bụi trúc to lớn, đẹp đẻ và bước chân xuống hồ Kalandaka truyền thuyết này.
Theo lời của hướng dẫn viên thì Thầy Huyền Trang khi đến viếng núi Kê Túc đã thấy Đức Ca Diếp thị hiện bảo đang chờ đợi Đức Phật Di Lặc sẽ ra đời trong tương lai.
7-Viếng thăm núi Linh Thứu ở Ấn Độ
Trước tiên, phái đoàn phải đi xe cable leo lên đỉnh núi Bảo Sơn viếng bảo tháp Hoà Bình do Phật tử Nhật xây cất.
Đi xe cáp lên Bảo Tháp Hoà Bình
Phái đoàn leo lên núi Linh Thứu, nơi cách đây 25 thế kỷ Đức Phật đã truyền giảng nhiều bộ kinh quan trọng như: Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Đại quang Minh, Kinh Đại Tập Phương Đẳng v…v…
Đây cũng là nơi diễn ra Hội Linh Sơn mà ngày nay chúng ta hay nghe tụng ” Linh Sơn Hội Thượng Phât..” (Lời trình bày của người hướng dẫn)
Cứ mỗi lần Xuân về Tết đến là chúng ta lại càng nhớ nhiều về kỷ niệm, về cha mẹ và những người thân đã quá vãng, càng muốn viếng thăm những thắng tích tâm linh để cho tinh thần được an tĩnh.
Càng lớn tuổi, chúng ta càng sống nhiều cho đời sống tâm linh hơn là cho đời sống vật chất.
Vợ chồng chúng tôi cũng đã có phúc duyên viếng thăm các ngôi thánh đường uy nghiêm, tráng lệ ở Châu Âu, toà thánh Vatican hoặc thánh địa linh thiêng như Fatima, hang đá Bethlehem nơi Chúa sinh ra đời, tượng Chúa cao nhất thế giới ở Brazil, thánh đường Hồi Giáo ơ Dubai, đền thờ Ấn Độ Giáo, chùa chiền cổ kính ở Nhật Bản, Đại Hàn, hang động Phật giáo Ellora, Ajanta ở Ấn Độ v…v…
Thật tình khi viếng thăm những nơi chốn linh thiêng như thế, chúng tôi thấy rằng con người quá bé nhỏ trong vũ trụ bao la và chúng ta nên cần làm nhiều việc thiện lành và cần thăng hoa đời sống tâm linh của mình.
Xin tán thán công đức Ban Chủ Trương và Ban Biên Tập Oregon Thời Báo đã cho người viết được phục vụ đồng hương Việt Nam tại Oregon qua mục Một Cõi Thiền Nhàn do người viết phụ trách hơn 12 năm qua.
Kính chúc toàn thể quý bạn hữu cõi thật, cõi ảo Một Năm Mới An Bình, nhiều Sức Khỏe, nhiều Phúc Duyên tốt đẹp do Phật Trời ban cho.
Chúc Mừng Năm Mới
Sương Lam


Hình Giai Phẩm Xuân Oregon Thời Báo đăng bài ký sự du lịch của Sương Lam
Sương Lam
Website: www.suonglamportland.wordpress.com
http://www.youtube.com/user/suonglam