Mời đọc [huongxuan2016] ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 25-04-2025 (SỐ 079-2025)



GOOD MORNING VIET NAM – CANADA – USAĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 25-04-2025  (SỐ 079-2025)




 

MỤC LỤC

1/-  Lễ Phục Sinh và Bài tình thơ tháng ba

2/- Những kẻ móc túi kỹ thuật số

3/- Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa – Lê Quang Vinh

4/- Hiệu quả của TT Trump sau 90 ngày

5/- CÁC CON PHẢI SỐNG

6/- Đại Đội 3-Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù (LLĐB)

7/- Bạch mai

8/- Khoảng trống cuộc đời

9/- Chuyện Biệt Kích

10/- ĐƯỜNG CHIM HẠ LÀO

11/- Đội quân bí ẩn của Giáo hoàng

12/- Thèm

13/- Để NHỚ… MỘT THỜI-HỒI ỨC SÀI GÒN THỜI LÍNH TRÁNG

14/- Blog Người Phương Nam

15/- Những Cuộc Tình Đong Đưa

Lễ Phục Sinh và Bài Tình Thơ Tháng Ba 

happyEaster2.jpg

Đây là bài số bảy trăm năm mươi tám (758) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.

Chiều nay Thứ Hai 21 tháng 4 năm 2025, cô hàng xóm dễ thương Maria bưng qua cho vợ chồng chúng tôi 2 dĩa thức ăn và 1 dĩa bánh ngọt ngon lành. Cô Maria nói rằng hôm nay cậu con trai của cô về sum họp gia đình để ăn mừng Lễ Easter nên cô nấu ăn cho “công tử” nhà cô và chia sẻ với tôi buổi cơm tối hôm nay.

20250421_183708 (1).jpg

Cô Maria là cô hàng xóm  Romanian rất dễ thương, tốt bụng, luôn giúp đỡ chúng tôi và  thường đem qua nhà tôi thức ăn buổi chiều cô nấu  để cho 2 vị cao niên khỏi nấu buổi cơm chiều ngày đó.  Chúng tôi thật hữu phúc có cô hàng xóm dễ thương như thế. 

Tôi đã thực hiện youtube dưói đây tặng cô Maria để cảm ơn  lòng tốt của cô Maria.  Mời quý bạn cùng vui với tôi. 

Youtube Thanks Maria for the yummy Easter dinner foo4-21-25

 Tôi là Phật tử nhưng tôi có nhiều bạn hữu thuộc nhiều tôn giáo khác như Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Cao Đài,  Hoà Hảo v…v.. Chúng tôi đến với nhau và  quý mến nhau thật tình, không bao giờ tranh luận về các vấn đề tôn giáo vì chúng tôi tôn trọng niềm tin, đời sống tâm linh của chúng tôi vì Chúa Hay Phật đều dạy chúng ta sống trong Tình Thương với Từ Bi Hỷ Xả.

 Hôm nay tôi lại có dịp tìm hiểu thêm về Lễ Phục Sinh để mở mang kiến thức.  Hy vọng Bạn cũng đồng ý với tôi về quan điểm này.

 Thế là bài tâm tình cho mục Một Cõi Thiền Nhàn hôm nay của tôi là tìm hiểu một vài chi tiết liên quan đến ngày Lễ Phục Sinh, Bạn nhé. 

Lễ Phục sinh là gì?

image001 (1).jpg

Lễ Phục Sinh là kỷ niệm ngày vị ngôn sứ (Chúa Jesus) đã bị xử tử và sống lại của toàn thể tín đồ Thiên Chúa giáo. Vị ngôn sứ này được kinh thánh của đạo cho biết là con của đấng tối cao tạo nên muôn loài. Và cái chết thê thảm của ngài là trả nợ cho tội lỗi của loài người. Đồng thời, lễ này cũng kỷ niệm việc giao ước mới giữa loài người và đấng tối cao.

Lễ Phục sinh (Easter) được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Kitô giáo (Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành, Anh giáo). Thời xa xưa người ta gọi lễ hội mùa xuân (Frühlingsfest / spring festival) hay “Ostarum” người Đức gọi là “Ostara” và danh từ “Ostern/ Easter” nguồn gốc từ chữ “Ost/ East” hướng về phương đông mùa xuân mặt trời sắp lên.

Người Do Thái gọi ngày lễ này là “Paschafest” Người Ai Cập (Ägypter) gọi là “Osterlamm/ paschal lamb)” cũng nhằm ngày rằm đầu tiên mùa xuân họ giết cừu ăn mừng được giải phóng khỏi sự đàn áp, thoát khỏi thân phận nô lệ.

Nguồn gốc của Lễ Phục sinh

Lễ Phục sinh thường diễn ra vào một ngày Chủ nhật bất kì khoảng cuối tháng 3 và đầu tháng 4 để tưởng niệm sự kiện chúa Jesus hồi sinh từ cõi chết sau khi bị đóng đinh trên Thánh giá. Lễ Phục sinh không có ngày cố định mà người dân thường tính lễ Phục sinh diễn ra vào Chủ nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn đầu tiên hoặc sau ngày Xuân phân. Do vậy, lễ Phục sinh còn được coi như lễ hội mùa xuân, mừng đất trời chuyển mùa với rất nhiều màu sắc rực rỡ.

Ý nghĩa của Lễ Phục sinh

Phục Sinh là trọng tâm của niềm tin trong Thiên Chúa Giáo. Người theo đạo Thiên Chúa tin rằng Chúa Jesus chết trên thập tự giá nhưng sau đó, từ cõi chết, Ngài đã sống lại và trở lên Thiên quốc trong khải hoàn ca. Do Chúa Jesus vượt qua được sự chết, và phục sinh nên tín đồ Thiên Chúa Giáo cho rằng chỉ Ngài mới có quyền năng đem lại cho họ đời sống vĩnh cửu. Và niềm tin đó là điều mà người theo Thiên Chúa Giáo cất tiếng xướng lên hằng năm trong lễ Phục Sinh, cũng như hằng tuần trong ngày Chúa Nhật.

Phục Sinh cũng là lễ của niềm hy vọng vì nhằm thời điểm mùa Xuân trở lại với muôn loài. Tạo Hóa thật là kỳ diệu, cây cành trơ trụi suốt mùa Đông lạnh lẽo vậy mà chỉ sau một buổi nắng ấm do nàng Xuân mang lại, các nụ con con, hay lá non đã nhu nhú trên nhành cây…….

(Nguồn: Tìm hiểu về lễ Phục Sinh

https://khoahoc.tv/nguon-goc-va-y-nghia-cua-le-phuc-sinh-91496 – mcetoc_1e3j635q70)

Tôi lại thấy 2 đứa con nhà hàng xóm  đối diện lăng xăng đi lượm những quả trứng mà mẹ chúng ra công dấu ở gốc cây bụi cỏ quanh  nhà. Vui thật!

Hèn chi  tôi thấy các cửa hàng trưng bày những quả trứng bằng nhựa đủ màu rất đẹp trên kệ hàng để ba mẹ hay các đoàn thể mua về mừng Lễ Easter.  

Tôi lại nhớ đến bài viết về trứng  của một anh bạn dược sĩ mới gửi đến tôi tuần rồi. Tôi đã đọc và thấy có nhiều chi tiết về Trứng mà tôi không biết rất hay và hữu ích. Tôi xin cảm ơn Dược Sĩ Trần Việt Hưng và xin phép được chuyển tiếp đến các bạn hữu mục MCTN  của tôi nhé. Xin mời quý bạn vào đọc bài viết dưới đây:

Trứng nào cũng là trứng-Lý sự cùn

Bây giờ là mùa Xuân, hoa Daffodil, hoa tulip, hoa đào, hoa lê vườn nhà tôi nở hoa rất đẹp. Giữa hoa đẹp và người yêu hoa hình như có sự cảm thông. Tôi cũng thường ra vườn sau sân trước nhà tôi thì thầm với hoa và hình như hoa cũng nghe và hiểu  nên khoe sắc thắm cho tôi nhìn ngắm.

Mời bạn đọc tâm tình của tôi vào Tháng Ba mùa Xuân dưới đây nhé. Tôi xin cảm ơn.

DSCN0994.JPG

Bài Tình Thơ Tháng Ba

Tháng Ba đến mùa Xuân nơi xứ Mỹ

Hoa trong vườn trổ nụ đón Xuân sang

Daffodil rực rỡ một màu vàng

Hoa lê trắng, hoa đào hồng tươi thắm

Bạn có biết Xuân xứ người đẹp lắm

Nụ hoa kia ẩn náu suốt mùa Đông

Trong âm thầm hoa kết nụ trong lòng

Thân cây bị cỗi cằn vì sương tuyết

Bạn có biết đời người! Ôi! Diễm tuyệt!

Được tạo nên bằng duyên nghiệp, quả, nhân

Đã âm thầm đưa ta đến cõi trần

Để thọ lảnh đau buồn hay sung sướng

Duyên nghiệp ấy không ảnh hình sắc tướng

Nhưng là mầm tạo tác kiếp nhân sinh

Thiện ác, buồn vui, lục dục, thất tình

Tùy duyên nghiệp mà phát sinh hình tướng

Làm việc thiện thì duyên lành tăng trưởng

Sẽ sống vui, an lạc:  trí, thân, tâm

Kẻ gian tà phạm ác tội, lỗi lầm

Luật pháp lẫn lương tâm trừng phạt họ

Hãy nhìn lại hoa đang khoe sắc đó

Hoa lá kia cũng biết trổ màu xinh

Cho nhân gian thưởng ngoạn nét hữu tình

Con người há chẳng bằng loài hoa nọ

Xin dừng lại đừng gây thêm sóng gió

Đem tình thương, vui vẻ đến muôn nơi

Đem nụ cười, hy vọng đến cuộc đời

Hoa Xuân đẹp và Tình Người cũng đẹp

Sương Lam

Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé. 

 Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi MCTN 758-ORTB 1189-4-22-25)

Những kẻ móc túi kỹ thuật số

viceland GIF by Motherboard

Margaret Vaughn đang xếp hàng tại Costco địa phương thì điện thoại của bà rung lên với tin nhắn từ ngân hàng. Ai đó vừa rút hết toàn bộ tài khoản hưu trí của bà – trong khi ví của bà vẫn còn trong túi xách.

“Tôi nghĩ đó là một sai lầm”, bà cụ 72 tuổi nói với chúng tôi, tay run rẩy khi bà chỉ cho chúng tôi xem tài khoản ngân hàng hiện đã hết tiền của mình. “Tôi không làm mất ví. Tôi không cung cấp thông tin của mình cho bất kỳ ai. Làm sao điều này có thể xảy ra?”

Câu trả lời sẽ khiến hàng triệu người Mỹ sửng sốt

Theo FBI, một loại trộm cắp mới đang gia tăng trên khắp đất nước, với những người cao tuổi mất hơn 28 tỷ đô la chỉ riêng trong năm ngoái. Những “kẻ móc túi kỹ thuật số” này có thể đánh cắp số thẻ tín dụng, thông tin ngân hàng và thậm chí cả danh tính của bạn – tất cả mà không cần động đến ví của bạn.

“Điều này không giống như trộm cắp truyền thống”, chuyên gia an ninh mạng James Chen giải thích. “Những tên tội phạm này sử dụng máy quét ẩn có thể đọc thẻ của bạn ngay qua ví hoặc túi xách từ khoảng cách lên đến 30 feet. Khi bạn nhận được cảnh báo gian lận, tài khoản của bạn đã bị rút hết tiền.”

Phần đáng sợ nhất?

“Bất kỳ ai cũng có thể mua những thiết bị quét này trực tuyến với giá dưới 50 đô la”, cựu đặc vụ FBI Robert Miller cảnh báo. “Chúng ta đang thấy thanh thiếu niên làm điều này ngay bây giờ. Họ chỉ đi bộ qua các cửa hàng đông đúc và thiết bị của họ âm thầm thu thập thông tin tài chính của mọi người”.

Miller đã chứng minh điều đó xảy ra nhanh như thế nào. Chỉ trong một lần đi qua một trung tâm mua sắm đông đúc, máy quét thử nghiệm của ông đã thu thập thông tin thẻ tín dụng từ 42 người khác nhau.

jelly smartphone GIF by Product Hunt

“Ví thông thường của bạn không có khả năng bảo vệ nào”, Miller giải thích. “Những máy quét này có thể đọc xuyên qua da, vải, thậm chí cả những lớp giấy bạc nhôm kiểu cũ mà mọi người vẫn dùng”.

Sự gia tăng của trộm cắp kỹ thuật số

Chỉ tính riêng năm 2024:

Nhưng vẫn còn hy vọng

booty infomercial GIF

Một cựu chuyên gia an ninh mạng của NASA, người đã mất 70.000 đô la vì loại trộm cắp này, đã phát triển một giải pháp được các chuyên gia an ninh gọi là “mang tính cách mạng”.

Cardian là một thiết bị mỏng, có kích thước bằng thẻ tín dụng, tạo ra một lá chắn điện từ không thể xuyên thủng xung quanh ví của bạn. Sử dụng cùng công nghệ được phát triển để bảo vệ thiết bị vũ trụ nhạy cảm, nó chặn ngay cả những thiết bị quét tiên tiến nhất.

“Về cơ bản, nó là một trường lực vô hình cho ví của bạn”, nhà phát minh ra nó giải thích. “Chỉ cần nhét nó vào bên cạnh thẻ của bạn, và những tên trộm kỹ thuật số không thể chạm vào bạn”.

Nguyên lý hoạt động: Cardian sử dụng công nghệ SafeShield™ được cấp bằng sáng chế để:

“Điểm làm nên sự khác biệt của Cardian là chip AI tiên tiến của nó”, Chen nói. “Không giống như các bộ chặn RFID cơ bản, nó chủ động phát hiện và vô hiệu hóa các nỗ lực quét. Thẻ của bạn hoàn toàn vô hình đối với kẻ trộm”.

Tại sao mọi người cao tuổi đều cần điều này

Margaret Vaughn hiện đang mang theo một chiếc Cardian. “Sau khi mất tiền tiết kiệm hưu trí, tôi sợ đi mua sắm. Bây giờ tôi lại cảm thấy an toàn. Giống như có một nhân viên bảo vệ cá nhân trong ví của tôi vậy”.

Thiết bị này thường được bán lẻ với giá 99,95 đô la, nhưng hiện tại công ty đang cung cấp mức giảm giá đặc biệt 50% để giúp bảo vệ những người cao tuổi dễ bị tổn thương.

“Chúng tôi đã chán ngấy khi chứng kiến người Mỹ cao tuổi bị nhắm đến”, nhà phát minh cho biết. “Mọi người đều xứng đáng được cảm thấy an toàn với số tiền của mình”. Tyler Rogerson

Đơn Vị Cũ, Chiến Trường Xưa

Lê Quang Vinh

Trận đánh giữa Chi Ðoàn 2/ 12 Thiết Kỵ và Cộng quân tại ranh giới 3 tỉnh Ba Xuyên, Chương Thiện và Bạc Liêu.

https://i1.wp.com/www.73rdaviationcompany.org/gallery/var/albums/Al-Adcock-Submitted/Arvn%20M113%27s%20%20at%20Tan%20Heip%20Airfield%20Road%20.jpg

Nhận bàn giao chức vụ Chi Ðoàn Trưởng, Chi Ðoàn 2/12 Thiết Kỵ từ Thiếu Tá Nguyễn Chinh Phu tại khu vực chân núi Cô Tô, quận Tri Tôn, tỉnh Châu Ðốc, sau Tết Nguyên Ðán năm Giáp Dần. Lúc này đơn vị đang hoạt động trong khu vực Thất Sơn song song với Chi Ðoàn 3/12 Thiết Kỵ của Thiếu Tá Ðỗ Văn Chỉ hoạt động vùng biên giới Việt Miên thuộc quận Tịnh Biên. Sau đó, Chi Ðoàn được lệnh di chuyển lên Cần Thơ tăng phái cho Tiểu Khu Phong Dinh.

Rời Cô Tô, Chi Ðoàn di chuyển ra ngã ba lộ tẻ qua Long Xuyên, lên Cần Thơ, qua ngã ba Cái Tắc, trình diện Bộ Chỉ Huy Hành quân Tiểu Khu Phong Dinh đặt tại Trường Tiểu học Long Thạnh, nằm trên quốc lộ 4 nối liền Cái Tắc và Cầu Trắng. Tiểu khu Phong Dinh đang mở cuộc hành quân truy lùng một Tiểu đoàn của Trung đoàn Tây Ðô Cộng Sản đang dưỡng quân trong liên ranh quận Phụng Hiệp, Thuận Nhơn thuộc tỉnh Phong Dinh và Long Mỹ Thuận tỉnh Chương Thiện.

Hôm sau, Chi Ðoàn vượt tuyến xuất phát giữa cầu Tầm Vu và Rạch Gòi thuộc quận Thuận Nhơn, cặp theo bờ kinh Rạch Gòi đổ xuống cầu Trắng, càn qua khu lau sậy bạt ngàn xuống Phụng Hiệp rồi đổ ra xã Tam Bình của quận Long Mỹ. Khu vực rộng lớn như vậy mà không thấy một bóng dân cư, chỉ có rất ít nhà cửa cặp theo bờ kinh lớn, còn tất cả chỉ là lau sậy, tràm, không có vết chân người.

Sau gần ba tuần không gặp địch, tuy vậy Chi đoàn cũng có một số thiệt hại về nhân mạng vì mìn bẫy. Ðiều này đã làm cho Trung Tá Tôn Thất Hoàng, Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 12 Kỵ Binh, không hài lòng. Bởi vậy, các Chi đoàn tác chiến đã nhận được 1 văn thư với nội dung như sau :

Nơi gởi : Bộ Chỉ Huy Thiết Ðoàn 12 Kỵ Binh Hành Quân.

Nơi nhận : Các Chi đoàn 1- 2- 3/ 12 Thiết Kỵ.

Tham chiếu báo cáo hoạt động của các Chi đoàn.

Trong thời gian gần đây hoạt động của địch đã giảm sút trong khu vực hoạt động của các Chi đoàn, tuy vậy vẫn có sự tổn thất cho Chi đoàn vì mìn bẫy của địch.

Bộ Chỉ Huy Thiết Ðoàn lưu ý các Chi đoàn trong việc điều động, di chuyển đóng quân vẫn phải lưu ý, đề phòng cẩn thận để tránh tổn thất cho đơn vị vì mìn bẫy của địch, Chi Ðoàn Trưởng hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu có sự thiệt hại cho đơn vị không phải do giao tranh với địch. Chấm và hết.

Biết rằng sự vụ văn thư này là để khiển trách cá nhân tôi vì trong mấy tuần qua dù không gặp địch, nhưng Chi đoàn vẫn bị tử thương 1 và 2 bị thương vì mìn bẫy của địch. Biết sao bây giờ, chỉ biết cho các Chi đội đề phòng tối đa.

Vài tuần sau, Chi đoàn được lệnh xuất phát khỏi Tiểu khu Phong Dinh, di chuyển xuống Ba Xuyên, tăng phái cho Trung Ðoàn 15 thuộc Sư Ðoàn 9 Bộ Binh, Trung đoàn này đang hành quân tại khu vực quận Ngã Năm của tỉnh Ba Xuyên.

Là một tỉnh lớn của miền Hậu Giang, Ba Xuyên có 8 quận là :

Mỹ Xuyên (cũng là quận Châu Thành), Kế Sách, Hòa Tú, Thuận Hòa, Lịch Hội Thượng, Long Phú, Thạnh Trị, Ngã Năm.

Quận Ngã Năm nằm trên liên tỉnh lộ nối từ quận Thạnh Trị, quốc lộ 4 qua Cái Trầu là khu trù mật thời Ðệ Nhất Cộng Hòa vào quận Long Mỹ, tỉnh Chương Thiện. Quận lỵ nằm trên bờ kinh Xáng từ Sóc Trăng đi Phước Long của tỉnh Bạc Liêu, khu vực này là ranh giới giữa 3 tỉnh Ba Xuyên, Bạc Liêu và Chương Thiện cho nên đây là địa bàn lý tưởng cho địch tập trung quân để đi đánh phá các nơi rồi rút về để dưỡng quân sau những lần đụng độ với các đơn vị Quân Lực VNCH.

Trung đoàn 15 Bộ Binh đặt BCH/ HQ tại Chi Khu Ngã Năm, Trung đoàn đang hành quân để truy lùng một đơn vị Cộng quân bị Sư đoàn 21 Bộ Binh truy đuổi từ Chương Thiện chạy qua và uy hiếp các đồn bót thuộc Chi khu Ngã Năm. Sau khi có thêm Chi đoàn 2/12 Thiết Kỵ, Trung Ðoàn 15 Bộ Binh mở cuộc hành quân vào khu vực ranh giới của Ba Xuyên và Chương Thiện với thành phần tham dự như sau :

– Chi đoàn 2/12 Thiết Kỵ được Ðại Ðội 15 Trinh Sát của Trung úy Ðức tùng thiết làm nỗ lực chính từ Ngã Năm tiến vào.

– Tiểu đoàn 1/15 Bộ Binh từ Long Mỹ tiến qua.

– Tiểu đoàn 2/15 làm nút chặn trên phần đất Bạc Liêu.

– Ðồn Ðịa Phương Quân cấp Tiểu đoàn của Chương Thiện bung ra án ngữ đường rút lui của địch

– Tiểu đoàn 3/15 làm lực lượng trừ bị.

Sáng hôm sau, Chi đoàn vượt tuyến xuất phát lúc 6 giờ, vượt kinh xong lúc 7 giờ 30, chiếm mục tiêu A lúc 8 giờ, vượt kinh tại A và chiếm mục tiêu B lúc 10 giờ. Ðồng thời gian trên, Tiểu đoàn 1/15 Bộ binh vào mục tiêu 1 và báo cáo có rất nhiều hầm hố mới cùng dấu vết cho thấy địch vừa mới rút khỏi khu vực này. Tiểu đoàn 2/15 Bộ binh vào vị trí nút chặn từ đêm trước, đồn Ðịa Phương Quân báo cáo có một Ðại đội đang hoạt động bên ngoài đồn nhưng không phát hiện có sự di chuyển của địch. Bộ Chỉ Huy Hành Quân ước đoán địch đã bị kẹt trong vòng vây của các đơn vị hành quân chắc chắn sẽ có đụng độ. Do đó, Bộ Chỉ Huy cho lệnh Tiểu đoàn 1/15 bố trí tại chỗ chặn đường rút lui của địch, đồng thời cho lệnh Chi đoàn 2/12 Thiết kỵ sau khi chiếm mục tiêu C thì sẽ chiếm K vào 2 rồi qua 3 và cuối cùng là F.

11 giờ Thiết giáp chiếm mục tiêu C, không có dấu vết của địch, muốn vào K, Chi đoàn phải vượt qua con kinh nối từ D qua C và ra tới lộ. Ðịa thế tương đối ít rậm rạp nhưng hai bên bờ là dừa nước nên bãi lầy rộng chiếm nhiều thời giờ khi vượt kinh. Quan sát khu tứ giác trước mặt bằng ống nhòm thì thấy D kéo vào 3 có một xóm nhà nằm phía trên bờ kinh với khu dừa nước xanh tươi, nhưng từ K vào 2 và qua 3 địa thế trở nên rậm rạp với những rặng trâm bàu từ bờ kinh ăn ra ngoài ruộng. Trong bờ kinh những hàng dừa cao và những líp chuối dày đặc, nếu không cẩn thận sẽ bị sụp lỗ ở đây. Cân nhắc từng vị trí và ước đoán vị trí súng cộng đồng của địch nếu có sẽ bắn vào đội hình của thiết giáp, tôi phân nhiệm cho các Chi đội như sau:

– Chi đội 3 trực : sẽ vượt kinh và kéo Chi đoàn qua trong thời gian nhanh nhất, sau khi kéo được một Chi đội qua, Chi đội 3 sẽ chiếm và bố trí tại mục tiêu M để bảo vệ cho Chi đoàn vượt kinh.

– Chi đội 1 và 2. Sau khi kéo Chi đội chỉ huy và Chi đội yểm trợ qua sẽ bố trí về hướng K.

– Tiền sát pháo binh lập hỏa tác xạ vào K, 2 và 3 theo yêu cầu.

Chi đội 3 vừa dàn đội hình tấn công vào M thì cối của địch bắt đầu đổ xuống khu vực Chi đoàn. Trận mưa pháo của địch làm thay đổi một phần kế hoạch tấn công của thiết giáp. Chi đội 3 không cần vào M mà nằm cách 800 mét, bắn cầm chừng cho địch lộ diện, Chi đội yểm trợ dùng hỏa lực cơ hữu : 3 khẩu cối 81 ly bắn vào 2 và 3, yêu cầu pháo binh tác xạ vào K.

https://i1.wp.com/vnafmamn.com/ARMOR/ARVN_armor28.jpg

Trong khi hai Chi đội 1 và 2 dàn đội hình tấn công vào K thì pháo binh bắt đầu bắn vào K. Loạt đạn cuối cùng vừa dứt thì trên mười xe M113 ào ạt tiến lên, tất cả đại liên 50 và 30 thiết trí trên M113 đều khai hỏa. Hỏa lực của gần 50 khẩu đại liên dội vào mục tiêu như cơn bão lửa. Dừa, chuối, trâm bàu thi nhau gãy rạp dưới làn đạn của Thiết kỵ, bụi khói bay mù trời và hỏa lực của địch gần như tê liệt dưới cơn mưa đạn của thiết giáp. Ngược lại pháo của địch cũng bắn ngay vào đội hình của Thiết kỵ cũng không kém phần dữ dội và từ mục tiêu 2 địch bắn vào cạnh sườn của Chi đoàn bằng tất cả hỏa lực mạnh mà địch có sẵn : Ðại bác 82 ly không giật, đại liên 12 ly 8, đại liên Ðông Ðức. Ðịch cố tiêu diệt tiềm năng của Thiết giáp bằng pháo và vũ khí chống chiến xa. Và thiết giáp phải tràn ngập mục tiêu trong thời gian ngắn nhất để tránh tổn thất bởi pháo. Do vậy trận đánh đã dữ dội ngay từ giây phút mở màn.

Khoảng cách hai bên từ 800 mét xuống còn 600 mét rồi 200 mét đã phải trả giá bằng máu của rất nhiều Kỵ binh và Trinh sát. Với khoảng cách 200 mét, thiết giáp chỉ còn cách duy nhất là ủi hầm để đánh bằng lựu đạn.

Cái khổ tâm của các đơn vị tác chiến trong giai đoạn cuối của cuộc chiến là đạn pháo binh bắn theo cấp số ấn định chứ không như trước kia bắn theo nhu cầu đòi hỏi của chiến trường. Bởi vậy, muốn dùng pháo binh để cắt mục tiêu 2 và K, không cho tiếp ứng với nhau mà không được, phải dùng hỏa lực cơ hữu của Chi đoàn : Cối 81 ly và đại bác 106 ly không giật.

Cối 81 ly vừa rớt vào giữa K và 2 thì hai Chi đội cũng tống hết ga lao vào mục tiêu, bên cánh phải có tiếng lựu đạn nổ rền trời và trinh sát đang đánh hầm bằng lựu đạn.

Chi đội 1 tấn công bên cạnh trái của K lại không gặp thuận lợi như Chi đội 2. Hỏa lực chống chiến xa được địch sử dụng tối đa. Ðại bác 82 ly không giật từ khoảng giữa mục tiêu 2 và 3 bắn vào cạnh sườn Chi đội 1, B40 và B41 từ bờ kinh phóng thẳng vào Chi đội 1. Ðại liên 12 ly 8 từ phía bên phải của mục tiêu 2 cũng bắn ngay vào Chi đội. Một chiếc xe M113 trúng đạn đứt xích, gãy truyền cơ cuối, tài xế bị thương, xe bất động, Chi đội 1 khựng lại.

Sợ Chi đội 1 chạy lui, xe Chỉ huy chạy lên thay vị trí xe bị liệt và cho 3 khẩu 81 bắn tối đa vào 3 và 2, khẩu 106 ly không giật quan sát tìm vị trí 82 ly của địch để tiêu hủy. Thấy một xe bị trúng đạn, địch bắn luôn vào xe chỉ huy vừa lên thay. Ðạn trúng bờ đất bên trái của xe nhưng làn khói trắng bên cạnh rặng trâm bàu nằm ló ra ngoài ruộng gần mục tiêu 2 cho ta biết chính xác vị trí súng của địch. Không bỏ lỡ cơ hội bằng vàng, hai khẩu 106 ly không giật phóng liền 4 quả dạn nổ làm bay luôn đám trâm bàu che dấu khẩu đại bác 82 ly không giật.

Cho phân đội sửa chữa vào thay Chi đội 2, yêu cầu Trinh sát cho Trung đội đi theo Chi đội 2 ở lại vị trí bắn vào cạnh sườn địch, rút luôn Chi đội 3 và giao lại khu vực M cho Chi đội yểm trợ. Tôi dùng toàn lực Chi đoàn để thanh toán chiến trường. Bây giờ là giây phút quyết định của trận đánh. Thiết giáp chỉ có đi tới chứ không có lui trong lúc này. Chi đoàn đã khai hỏa bằng tất cả hỏa lực hiện hữu với 3 khẩu cối 81 ly – 2 khẩu đại bác 106 ly – 22 khẩu đại liên 50 – 39 khẩu đại liên 30 và 34 khẩu M79 của Bộ binh và Thiết giáp cùng khai hỏa vào tuyến phòng thủ của địch với chiều dài gần 2 kilômét. Lửa đạn đỏ rực cả góc trời, không còn ai nghe tiếng súng của địch, ai bị trúng đạn té xuống thì lúc đó người bên cạnh mới biết.

Trận đánh càng lúc càng khốc liệt. Pháo của địch cùng B40 và B41 đã gây khó khăn rất nhiều cho thiết kỵ. Hai bên dùng mọi hỏa lực có trong tay để tiêu diệt đối phương để dành sự sống còn. Tuy nhiên, thiết giáp vẫn giữ phần ưu thế về hỏa lực và di động mau. Khoảng cách thu hẹp mau lẹ, 100 mét rồi 50 mét, mấy khẩu 12 ly 8 của địch ngụy trang rất kỹ nên vẫn chưa bị phát giác, cho tới lúc toán Trinh sát tung mình ra khỏi xe để đánh bằng lựu đạn thì địch khai hỏa ngay và nguyên toán Trinh sát bị đốn ngã ngay khi chân vừa chạm đất. Chi đội 2 dồn hết 15 khẩu đại liên cày nát mục tiêu trong giây lát, từ bờ đất, bụi cây, rặng trâm bàu thi nhau bay lả tả như lá mùa thu. Tất cả đã cán hầm địch, Trinh sát bắt đầu đánh hầm.

Ðã từng đi với nhiều đơn vị tùng thiết từ Dù ở Hạ Lào tới Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân và nhiều đơn vị Bộ binh khác, tôi chua từng thấy đơn vị nào đánh đẹp, nhịp nhàng như Ðại Ðội 15 Trinh Sát nếu có cảnh này trong “Movie” cũng chỉ như vậy thôi chứ không hơn. Tất cả Trinh sát trên các Chi đội đều phóng mình ra khỏi M113 khi xe vừa ủi hầm, vị Sĩ quan là người đầu tiên lao vào hầm địch, rồi từng tổ 2 hay 3 người yểm trợ lẫn nhau dưới sự bảo vệ của đại liên trên Thiết giáp.

Trong lúc Chi đoàn tấn công bằng tất cả hỏa lực, Tiểu đoàn 1/15 la inh ỏi vì đạn của thiết giáp bay tới tấp vào vị trí của Tiểu Ðoàn, Bộ binh phải nằm dưới mương để tránh đạn thiết giáp. Bất chợt Trung úy Việt, Chi đội trưởng Chi đội 3 gọi:

– 27 đây 3 (27 là danh hiệu của Chi đoàn trưởng).

– 27 nghe 3.

– Trình 27, chuột chạy về mục tiêu 3 nhiều lắm, cho gia đình 3 làm ăn.

– Cho gia đình 3 đánh dồn từ 3 về 2 và gia đình 2 sẽ dồn từ K về 2.

Ðịch chỉ có khả năng cầm chân và đánh trả quân bạn khi địch còn có hầm hố và giao thông hào, nhưng khi bị đánh bật khỏi vị trí hầm hố thì chúng như bầy gà trước đoàn chim ó, đưa lưng ra hứng đạn của Thiết giáp.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d0/ARVN_in_Cambodia.jpg

Trong lúc Thiết giáp càn quét địch trên tuyến dài từ K vào 2 qua 3 thì Ðại đội 15 Trinh sát cũng móc địch lên từ hầm này qua hầm khác và dồn chúng xuống sông và Tiểu đoàn 1/15 đã nằm đợi sẵn bên kia sông.

Tới xế chiều thì trận đánh hoàn toàn kết thúc, sau khi Thiết kỵ và Trinh sát 15 lục soát và thanh toán tất cả hầm hố của địch với kết quả ghi nhận như sau:

A – Thiết giáp :

– 2 xe M 113 bị hư. – 3 Kỵ binh hy sinh – 8 bị thương.

Trinh Sát : – 7 hy sinh – 14 bị thương.

B – Ðịch : – 197 chết bỏ xác tại trận.

Tịch thu :

– 1 Ðại bác 82 ly không giật. – 2 súng cối 82 ly. – 1 súng cối 61 ly. – 1 Ðại liên 12 ly 8. – 2 Ðại liên 7 ly 62 Ðông Ðức. – 10 Trung liên nồi. – 7 B40. – 2 B41. – 4 K 54. – 80 vũ khí cá nhân AK47 và CKC. – 2 máy truyền tin.

Theo tài liệu thu nhận, địch gồm một Tiểu đoàn tăng cường với Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn mưu toan đánh chiếm quận Ngã Năm và địch đã bố trí như sau :

– Tại mục tiêu K có một đại đội.

– Tiểu đoàn nằm từ 2 tới K.

– Vũ khí nặng và Bộ Chỉ Huy Trung đoàn nằm giữa 3 và 2.

– Vũ khí bố trí theo phóng đồ.

Trận đánh vừa kết thúc thì ban 3 báo cáo về Thiết đoàn 12 kỵ binh kết quả hoạt động của Chi đoàn, ngay sau đó Chi đoàn nhận được Công Ðiện của Thiết Ðoàn với nội dung như sau :

Nơi gởi : Bộ Chỉ Huy Thiết Ðoàn 12 Kỵ Binh Hành Quân.

Nơi nhận : Chi Ðoàn 2/12 Thiết Kỵ Hành Quân.

Thông báo : Lữ Ðoàn 4 Kỵ Binh/ Phòng 3.

Bản văn số…….

Tham chiếu báo cáo hoạt động của Chi đoàn 2/12 Thiết Kỵ Hành Quân # Trung tá Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 12 Kỵ Binh Thiết Giáp nhiệt liệt ngợi khen Kỵ binh các cấp thuộc Chi Ðoàn 2/12 Thiết Kỵ # Ðại tá Tư Lệnh Lữ Ðoàn 4 Kỵ binh và Trung tá Trung Ðoàn Trưởng sẽ tới thăm Chi Ðoàn vào ngày……. giờ # yêu cầu quí Chi đoàn cho an ninh bãi đáp # Chấm và hết.

Hôm sau Ðại tá Trần Ngọc Trúc, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 4 Kỵ Binh, và Trung tá Tôn Thất Hoàng, Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 12 Kỵ Binh, đã tới thăm Chi đoàn tại khu vực hành quân. Tại đây tôi đã thuyết trình diễn tiến trận đánh, chiến thuật Chi đoàn đã áp dụng, đồng thời hướng dẫn hai ông đi xem tuyến phòng thủ của địch và xác địch vẫn còn nằm ngổn ngang trên khu vực giao tranh.

Sau đó như cánh chim trời, vết xích của Chi đoàn 2/12 Thiết kỵ lại trải dài trên khắp 16 tỉnh miền Tây và bất cứ nơi nào khi tình hình đòi hỏi. Rồi vết xích cuối cùng của Chi đoàn Thiết kỵ là bờ sông Cái Răng, Phong Ðiền, Cần Thơ. Ðã đi vào trang lịch sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày ô nhục cho đất nước Việt Nam.

Lê Quang Vinh – New JerseyNguồn:https://hoiquanphidung.com/showthread.php?17303-%C4%90%C6%A1n-V%E1%BB%8B-C%C5%A9-Chi%E1%BA%BFn-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-X%C6%B0a


Hiệu quả của TT Trump sau 90 ngày
Cuộc bầu cử gay go hồi hộp nhất toàn cầu đã kết thúc trong êm thắm. Đây là trò chơi khá tàn nhẫn khi có tỷ người vui cũng có tỷ người buồn trên toàn thế giới.

Dù ghét hay thương, Trump vẫn là một hiện tượng độc lạ. Trong 8 năm ông tham gia chính trường là 8 năm sóng gió không thôi. Cũng chính ông là người lôi kéo được người dân toàn cầu quan tâm đến chính trị.
Ông có sức hút kỳ lạ. Người thương mến ông thì đắm đuối, kẻ ghét ông ghét tận xương tủy, đến độ giết được ông mới hả dạ. VN cũng không là ngoại lệ. Những người bình dân lao động nghèo, chả biết nhiều về chính trị cũng đem lòng yêu mến ông, mong ông thắng cử. Giới trí thức, nhà báo thì ngược lại, một số ghét ông đến tàn tệ, ghét lây những người yêu mến ông.

4 năm nữa nước Mỹ lại đi bầu. Nhưng chắc là sẽ không còn ly kỳ căng thẳng ở mức độ này nữa, vì không có Trump.

***
Nhìn lại chặng đường 8 năm của Trump mới thấy kinh khủng. Chỉ vài tháng sau khi nhậm chức năm 2017 là ông bắt đầu đối diện với những cuộc điều tra bất tận. Suốt gần 2 năm đó, hằng ngày trên mặt báo là những dự đoán Trump sắp bị bắt, Trump sẽ vào tù, đã có bằng chứng..v.v…. Và ông vẫn tiếp tục làm việc dưới giá treo cổ.

Ngày 15 tháng 11 2022 ông chính thức tuyên bố ra tranh cử lại. Chỉ vài ngày sau đó bộ trưởng tư pháp Merrick Garland bổ nhiệm công tố viên đặc biệt Jack Smith, điều tra ông về tội lưu giữ hồ sơ mật trái phép. Vài tháng trước đó là màn lục soát Mar-a-Lago của F.B.I, không khác gì cuộc bố ráp 1 tên trùm tội phạm ma túy nguy hiểm.

Cũng từ đó là những chuỗi ngày dài ông bị bủa vây bởi trận đồ pháp lý của phe DC. Có những lúc trong 6 tuần liên tục ông phải hầu tòa vài chục lần, tiền luật sư phí lên đến hàng trăm triệu. Nếu không phải tỷ phú chắc ông đã quy hàng.

Chưa có 1 tổng thống nào trong lịch sử, và trên thế giới bị trù dập tàn khốc như vậy. Ông 2 lần bị đàn hặc, bị chụp hình tù nhân, đối diện với án tù 500 năm, 2 lần bị ám sát, và thường xuyên bị bịt miệng.

Cũng chưa có ai lì đòn cỡ Trump. Trở lại chính trường, đối mặt với muôn vàn khó khăn nguy hiểm, ông lại bình tĩnh, kiên trì hóa giải từng thế cờ, biến những đòn tấn công của đối thủ thành thế đánh có lợi cho mình. Như một võ sĩ nhu thuật, Trump mượn sức của đối thủ để phản đòn lại. Đối phương ra đòn càng mạnh lại càng dễ chết.

Trump, 1 ông già 78 tuổi nhưng sức khỏe phi thường. Cuộc đua càng về cuối Trump càng mạnh mẽ, dẻo dai, vận động xuyên suốt không ngừng nghỉ, cứ như là ông đang ở độ tuổi 40.

***
Nếu 4 năm trước dịch Covid hại ông, thì năm nay Trump có thiên thời địa lợi nhơn hòa. Trước hết là ông có 1 team quá giỏi. Đầu tiên phải kể đến James David Vance (JD Vance) phó tướng trẻ trung tài giỏi, lý lịch không tì vết, ứng xử đối đáp khôn ngoan. 2 nhân vật nổi bật của phe DC là Tulsi Gabbard và Robert Kennedy Jr. vì bất mãn đã về cùng đội Trump. Phía truyền thông có Tucker Carlson danh trấn giang hồ với những bài nói chuyện phỏng vấn xuất sắc, hàng chục triệu người theo dõi. Rồi Joe Rogan, nhà bình luận nổi tiếng trên podcast, cũng có hàng chục triệu lượt xem cuối cùng đã chọn endorse Trump.
Trên tất cả, người hùng Elon Musk đã tự nguyện giúp Trump nhiệt thành, nhất là sau khi chứng kiến Trump không hề run sợ, dũng mãnh đáp trả ngay ở giây phút vừa suýt mất mạng bởi viên đạn của thù ghét. Hành động can đảm đó đã chinh phục trái tim Elon.
Elon tài giỏi, thông minh xuất chúng, hiệu quả vô song. Có lẽ Elon là quân bài mạnh nhất, nếu không có Elon, có lẽ Trump cũng khá gian nan.

Team Trump luôn có cách thức tranh cử khôn ngoan và hiệu quả. Sự kiện ông bán McDonald’s vừa để chế nhạo đối thủ, vừa thu hút rất nhiều cử tri. Cái clip này được Google cho Trump biết là có nhiều người search nhất toàn cầu. Khi Biden chê những người ủng hộ Trump là rác rưởi, ngay lập tức Trump trở thành tài xế xe rác. Lại là 1 chiêu thức biến hóa khôn lường, chinh phục giới lao động bình dân.

Bầu cử lần này Trump không còn bị big tech hiếp đáp như 4 năm trước, khi ông liên tục bị kiểm duyệt, thậm chí là xóa tài khoản. Từ facebook đến google năm nay hòa hoãn, dễ thương với Trump hơn.

***
Trump thắng cử còn vì đối thủ quá yếu. 4 năm qua nước Mỹ có nhiều khó khăn thấy rõ. Lạm phát tăng cao, nạn nhập cư lậu quá nhiều, tình trạng cướp bóc tràn lan. Bà Kamala đi qua 4 năm mà không để lại dấu ấn nào ngoài việc là phụ nữ, và nguồn gốc có dính chút da đen của mình.

Khi cuộc chiến ở Trung đông bùng nổ dữ dội, số người chết quá nhiều mà chính quyền Biden vẫn loay hoay không có giải pháp. Điều này khiến cử tri cả 2 khối Hồi giáo và Do thái giáo ở Mỹ quay sang ủng hộ Trump.

Quan trọng nhất, sách lược tranh cử của Kamala quá đơn điệu. Thay vì đưa ra lộ trình kiến thiết quốc gia, bà chỉ tập trung tố cáo Trump là phát xít, Trump đe dọa nền dân chủ Mỹ. Thông điệp này mơ hồ và nhàm chán, không đủ sức thu hút cử tri.

Đang khi Trump tả xung hữu đột, nhận lời phỏng vấn khắp nơi, vào cả hang cọp của cánh tả để gửi đi thông điệp của mình thì Kamala lại gần như né tránh phỏng vấn. Bà không có khả năng diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, ứng phó khôn ngoan.

***

Cuối cùng thì Trump đã trở lại. Tên phát xít nguy hiểm nhất hành tinh, tên tội phạm đối diện bản án 500 năm tù đã trở thành vị tổng thống Mỹ lần nữa, sau hàng núi khó khăn, nguy hiểm, kể cả tính mạng.

Và kẻ thất bại thê thảm nhất chính là truyền thông dòng chính. Những nổ lực bôi nhọ Trump đã không còn tác dụng. Jeff Bezos của Amazon, người giàu thứ 2 thế giới, ông chủ tờ báo cực tả Washington Post, đã thẳng thừng không cho chủ bút tờ báo ủng hộ Kamala, sau khi nhận ra dân Mỹ không còn tin cậy nền báo chí quá thiên vị đảng phái. Đã đến lúc phải uống chén đắng, biết đưa tin trung thực hơn để lấy lại lòng tin đã mất.

Kẻ thất bại thứ 2 chính là bộ tư pháp. Hàng loạt những đòn tấn công chí mạng đã không bỏ tù được Trump, cũng không thuyết phục được dân Mỹ quay lưng lại với ông. Ông đã thắng không chỉ phiếu cử tri đoàn mà cả phiếu phổ thông – Trump đã chinh phục lòng dân.

Thất bại này còn là dịp đảng DC nhìn lại chính mình. Thời của Obama đã hết, đảng DC cần regroup lại, chọn hướng đi mới. Câu chuyện về một đảng DC của người lao động chỉ còn là huyền thoại xa xưa. Đảng DC hôm nay từ lâu đã trở thành đảng của giới Elite kiêu kỳ, xa rời đời sống của giới bình dân.

Giờ thì Merrick Garland, Jack Smith, rồi Alvin Bragg, Letitia James, Engoron, hay Fani Willis, những kẻ cố tình bẻ cong luật pháp, quyết bỏ tù Trump, ắt phải xấu hổ và âu lo lắm.

Tuy nhiên, mình nghĩ là Trump sẽ không trả thù. Ông còn nhiều việc phải làm thay vì nghĩ đến bọn tiểu nhân.

Xin chúc mừng Trump đã trở lại. Chúc ông nhiều sức khỏe. Mong là ông sẽ hàn gắn những rạn nứt, thù ghét không đáng có giữa 2 phe. Phải là đối lập chứ không là kẻ thù. Mong nhất là ông sẽ đem lại hòa bình cho thế giới như 4 năm trước. Đã có quá nhiều người chết oan uổng, từ vùng Trung Đông tới Đông Âu. Chiến tranh cần chấm dứt. Cảm ơn ông.

Tác giả Larry De King

Log in or sign up to view

Log in or sign up to viewSee posts, photos and more on Facebook.

Log in or sign up to viewSee posts, photos and more on Facebook.

CÁC CON PHẢI SỐNG

       “Các con phải sống” là lời kêu van bi thảm của người mẹ, khi 2 đứa con bé bỏng của bà đang đứng trước ngưỡng cửa biên giới của sự sống, và sự chết, trong một cuộc giải phẫu thập phần nguy hiểm. Đây là chuyện thật về một cặp vợ chồng bất hạnh nọ, đã phải chịu đựng bao nhiêu đau khổ, khi cho ra đời những đứa con hình thù quái dị: một cặp song sinh dính liền nhau. Nhưng không vì thế, mà họ chối bỏ các con của họ. Niềm tin vào Chúa, sự quyết tâm, và lòng thương con vô bờ bến của 2 người cha mẹ nọ, đã góp phần không nhỏ với đội ngũ các bác sĩ, trong việc cứu sống hai đứa bé vô tội, cho chúng có thể sống như những người bình thường. Mời nghe tâm sự của bà mẹ đau khổ

5441 ConPhai SongLuuPhgLan

       Tỉnh dậy trong căn phòng hồi sinh của bệnh viện với cảm giác dã dượi, tôi khẽ cựa mình, cảm thấy đầu nặng như chì nhưng người lại nhẹ tênh, dập dềnh như đang trôi theo đám mây.  Có tiếng nói vang lên ngay bên tai:

 Em tỉnh rồi à, có nhận ra anh không?  Bây giờ em thấy trong người ra sao?

       Tiếng nói của chồng tôi nghe mơ hồ như vọng lại từ một cõi xa xăm nào đó, nhưng cũng đủ hiệu lực để gọi tri giác tôi trở về.  Tôi lờ đờ mở mắt, vật đầu tiên mà tôi nhìn thấy là cái trần nhà trắng toát, ánh sáng chói chan của ngọn đèn néon trên trần làm tôi khó chịu.  Tôi hạ tầm mắt xuống thấp hơn, và nhìn thấy chai nước biển treo tòn ten bên thành giường và khuôn mặt thân yêu của Nguyễn đang cúi xuống trên người tôi, tất cả đều mờ mờ như được bao phủ bằng một lớp sương mù.  Nhưng chỉ sau vài phút, mọi vật đều trở nên rõ ràng, và tôi có thể nhìn thấy những nét lo lắng trên khuôn mặt hốc hác của Nguyễn.

       Tôi nằm yên một lúc lâu, qua cơn ngầy ngật vì ảnh hưởng của thuốc mê, dần dần nhớ lại tất cả mọi việc, tim tôi bỗng nao lên những xúc động khó tả, lần đầu tiên trong đời, tôi vừa được làm mẹ!  Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, chảy lan trên má. Tôi cố nén để khỏi bật ra tiếng khóc, nhưng những giọt nước mắt vẫn thi nhau tuôn chảy làm ướt hoen cả gối, không phải là những giọt nước mắt sung sướng của người mẹ mới sinh con đầu lòng đâu, mà là những giọt nước mắt đau khổ của một người đàn bà bất hạnh, bởi vì tôi vừa mới cho ra đời một quái thai: hai đứa bé sinh đôi dính liền nhau.

Nguyễn thở dài:

– Em đừng khóc nữa, khóc có ích gì?  Chúng ta phải can đảm lên!

– Anh nhìn thấy con chưa?  Tôi thều thào hỏi.

       Nguyễn gật đầu nhưng không nói gì cả.  Tim tôi lại nao lên, thu hết can đảm, tôi thốt lên câu hỏi xé lòng:

– Trông chúng thế nào?

Nguyễn lảng tránh tia nhìn của tôi :

– Người ta sắp đem tới bây giờ… Cũng không có gì ghê gớm lắm đâu, em đừng quá lo!

       Chàng nắm lấy tay tôi, tay chàng nhớp mồ hôi. Tôi rùng mình… không, không  phải tôi sợ hãi những gì sắp được trông thấy, dù thế nào đi nữa chúng vẫn là các con của tôi.  Nhưng viễn ảnh của những ngày sắp tới khiến tôi lo lắng, liệu tôi có đủ nghị lực và can đảm để có thể đương đầu với những khó khăn trong tương lai?  Được cái may là bên tôi còn có Nguyễn, một người chồng rất tốt, chàng an ủi, chia xẻ với tôi mọi thứ, chia đều gánh nặng trên hai đôi vai.

       Nguyễn và tôi yêu nhau từ thuở mới lên đại học, và kết hôn năm năm sau đó sau khi cả hai đều tốt nghiệp ở những trường chuyên môn: Nguyễn ngành kỹ sư hoá học, và tôi ngành kế toán ngân hàng.  Ổn định xong công ăn việc làm, chúng tôi nghĩ ngay đến việc cho ra đời những đứa trẻ.  Mặc dù cả hai vợ chồng đều khỏe mạnh, và không có gì trục trặc trong khả năng sinh con, thế mà không hiểu tại sao mãi đến hơn mười năm sau, tôi mới có thai lần đầu tiên, ở vào cái tuổi ba mươi tám.  Khỏi phải nói, chúng tôi đã sung sướng đến thế nào, khi được báo tin kết quả thử thai dương tính.  Mọi việc đều bình thường, thời kỳ hôi cơm tanh cá, Nguyễn chăm sóc tôi từng ly từng tí.  Đó là thời kỳ hạnh phúc nhất, chúng tôi suốt ngày bàn về đứa con sắp ra đời, sẽ là trai hay gái?  Đặt tên là gì?  Mặt mũi nó ra sao, giống cha hay mẹ?  Lớn lên sẽ làm nghề gì? v…v… Bao nhiêu thương yêu, bao nhiêu hy vọng, đều dồn cả cho đứa con còn nằm trong bụng mẹ. Tôi mang thai đến tháng thứ ba thì được bác sĩ cho biết:

– Bà sẽ sinh đôi.

– Ồ thật vậy sao?

       Chúng tôi cùng bật lên những tiếng kêu mừng rỡ, Nguyễn có vẻ sung sướng  hơn bao giờ hết, ngay chiều hôm đó chàng đưa tôi đi ăn khao.  Nguyễn nhìn tôi cười rạng rỡ:

– Chúng mình hiếm hoi nên trời đền bù cho gấp đôi.  Em có ngại vất vả không?

Tôi lắc đầu, mắt sáng ngời niềm kiêu hãnh:

 –  Vất vả vì con thì có gì mà ngại, còn hạnh phúc nào cho bằng hạnh phúc được làm mẹ.

       Sau thời gian ốm nghén, tôi ăn ngủ lại được, và lên cân đều hoà.  Mọi việc đều tốt đẹp, cho đến một lần đi khám thai định kỳ vào tháng thứ tư, chúng tôi được mời vào gặp bác sĩ:

– Quang tuyến cho thấy là hai thai nhi đâu mặt vào nhau, một việc hơi bất thường một chút. Tuy nhiên ông bà đừng lo lắng quá, có thể bây giờ hãy còn hơi sớm, hy vọng bào thai sẽ tiếp tục phân hóa, và sau này, mọi việc sẽ đâu vào đó.

       Nhưng lần tái khám kỳ sau cho thấy không có tiến triển khá hơn, vị thế của hai thai nhi vẫn không thay đổi, bác sĩ buộc lòng phải nói ra sự thực:

– Đây là tin chẳng lành, hai babies của ông bà sẽ là Siamse twins.

Chúng tôi còn đang sững sờ, thì ông giải thích:

– Siamese twins là danh từ dùng để chỉ những đứa bé song sinh dính liền nhau, nguyên do là phôi thai không phân hóa trọn vẹn.  Có trời mới hiểu tại sao.  Đây là những trường hợp rất hiếm khi xảy ra,  người ta gọi như vậy là để kỷ niệm căp song sinh nổi tiếng thế giới đã xảy ra lần đầu tiên tại Siam (Xiêm la, tức là Thái Lan bây giờ ) cách đây gần hai trăm năm …

       Ông còn nói thêm vài điều nữa, nhưng tai tôi ù đi, tôi chẳng còn nghe gì được nữa. Trời ơi, có thể nào như vậy được chăng?  Tôi không tin đây là sự thực, tôi có làm gì nên tội đâu mà sao trời nỡ bắt phạt?  Mắt tôi hoa lên, tôi đứng không vững, Nguyễn vội vàng dơ tay ra đỡ, chàng ôm lấy tôi vỗ về. Ông bác sĩ nhìn hai vợ chồng tôi với cặp mắt ái ngại, xong cũng không biết phải nói thế nào để an ủi, ông thở dài buồn bã, tiễn chúng tôi ra cửa.

       Trên đường về, hai vợ chồng cùng im lặng, không ai nói với ai lời nào, mỗi người theo đuổi những ý nghĩ riêng của mình.  Phải làm thế nào bây giờ?  Chỉ còn cách là phá thai, giết chết cả hai đứa bé, trước khi chúng ra chào đời.  Dã man quá, tôi rùng mình trước ý nghĩ ghê rợn đó, trường hợp này phá thai chắc sẽ không mang tội với pháp luật, nhưng làm sao khỏi mang tội với lương tâm?

       Là tín đồ sùng đạo của Công giáo, tôi không dám đi ngược lại lời răn của Chúa, là hủy diệt đi mạng sống của con người.  Nhưng thật ra không đơn giản chỉ là tránh mặc cảm phạm tội, mà sự thực là đã có một sợi dây tình cảm thiêng liêng ràng buộc giữa tôi, và hai đứa bé ở trong bụng, đó là tình mẫu tử.  Tôi yêu các con của tôi, từ đầu tuần rồi, chúng bắt đầu máy , chúng cử động được rồi, chúng là những mầm sống do tôi tạo ra, chúng là  kết tinh của tình yêu giữa tôi và Nguyễn, chúng là các con của tôi… Ồ không, không bao giờ tôi nỡ giết con, cho dù hình dạng của chúng có quái dị thế nào đi nữa.  Như đọc được những ý nghĩ trong đầu tôi, Nguyễn nhìn sâu vào mắt tôi, nói thong thả từng tiếng một:

– Đừng nghĩ vớ vẩn nữa, hãy can đảm lên!  Chúng ta sắp làm cha mẹ, sắp cho ra đời hai đứa trẻ, chúng ta thương yêu các con của chúng ta, và sẽ làm tất cả những gì chúng ta có thể làm cho chúng.

       Tôi cảm động, ứa nước mắt khóc.  Ngay sau đó, chàng đưa tôi đến các thư viện lục tìm tất cả các tài liệu, báo chí, sách vở để tìm hiểu về những trường hợp Siamese twins.  Đa số những đứa bé sinh ra đều chết ngay từ khi mới lọt lòng, chỉ có một số rất ít còn sống sót với tình trạng rất bi thảm.  Nhưng đó là thời kỳ mà khoa học chưa tiến bộ như bây giờ.  Những năm gần đây, ở nhiều nơi trên thế giới, người ta đã thành công trong việc tách rời những đứa bé dính nhau, hiện thời chúng vẫn sống và có những cuộc đời riêng biệt.  Những thành quả của khoa học, cùng với sự động viên của các bác sĩ, của các thân nhân khiến hai vợ chồng cảm thấy phấn khởi đôi chút.

       Chúng tôi không cô đơn, chúng tôi không phải chiến đấu đơn độc một mình, chúng tôi có cả một tập thể mạnh mẽ đứng sau lưng làm hậu thuẫn.

Hai vợ chồng cương quyết nói với bác sĩ:

– Dù có thế nào đi nữa, chúng tôi vẫn nhất định sẽ giữ hai đứa bé.

       Biết được ý định của chúng tôi, cả bệnh viện họp nhau lại và ngay lập tức,  một quỹ cứu trợ được thành lập, để gây ngân quĩ cho cuộc giải phẫu mà phí tổn dự trù có thể lên đến hơn một triệu đô la.  Rất nhiều người hưởng ứng, người Mỹ đa số đều có lòng, các hội đoàn từ thiện, những người giàu có, các vị hảo tâm, tất cả đều sốt sắng đóng góp. Về tiền bạc, chúng tôi không phải lo lắng gì cả, như thế cũng đỡ đi một mối bận tâm,  chúng tôi chỉ phải chuẩn bị tinh thần để đón nhận hai đứa bé, đón nhận cái số phận trời đã dành cho mình.

       Những lần chụp quang tuyến sau này cho thấy hai thai nhi có hình dạng bình thường ở đầu, vai và hai tay, nhưng phần dưới thì dính chung làm một.  Chúng không tách ra, không thay đổi vị trí và phân hoá gì thêm, nhưng dính nhau ở mức độ nào thì chỉ có thể biết sau khi chúng ra chào đời.  Các bác sĩ cho biết sẽ phải giải phẫu để lấy hai đứa bé ra, vì với vị thế dính nhau của chúng, tôi sẽ không sinh đẻ được bình thường. Trong lúc chờ đợi, thật là kinh khủng. Tết năm đó là một cái Tết buồn thảm nhất đời của hai vợ chồng,  chúng tôi không còn lòng dạ nào nghĩ đến việc mua bán sắm sửa, trang hoàng nhà cửa cho ba ngày đầu xuân thiêng liêng của một năm mới bắt đầu, thay vào đó, chúng tôi để thì giờ bàn về những việc sắp xảy ra.

       Thế rồi cái gì phải tới đã tới, tôi mang thai đã được bốn mươi tuần, vào thời điểm này, tất cả các cơ quan, bộ phận của thai nhi đã phát triển đầy đủ. Tôi được đưa vào bệnh viện, để mổ lấy thai nhi ra hai tuần trước hạn kỳ, bụng tôi đã lớn quá cỡ.  Cuộc giải phẫu ngắn ngủi chưa đầy một tiếng đồng hồ, đã xong xuôi tốt đẹp, và bây giờ tôi nằm đây, trong phòng hồi sinh của bệnh viện, hồi hộp chờ đợi để được thấy mặt con.  Nguyễn cho tôi biết:

– Hai đứa bé là con gái, chúng cân nặng tổng cộng gần bốn kí.  Cả hai đều khoẻ mạnh, và may mắn chúng dính với nhau ít hơn là người ta dự đoán, nghĩa là chỉ dính từ phần bụng cho tới vùng xương chậu.  Mỗi đứa có một thân mình riêng, với đầy đủ hai tay,  nhưng phần dưới chỉ có một chân, và chung nhau cái chân thứ ba.

       Nguyễn được nhìn thấy con trước, trong khi tôi còn đang ở trong phòng hồi sinh.  Ba giờ sau khi tôi tỉnh dậy, người ta đem hai đứa bé tới cho tôi nhìn mặt, chúng được bọc trong một tấm chăn màu hồng.  Thoạt đầu, tôi tưởng rằng hình ảnh mà tôi trông thấy sẽ làm tôi dội ngược trở lại, nhưng không,  trông chúng chỉ giản dị như hai đứa bé đang ôm nhau, chỉ có thế.  Sau đó, y tá đưa các con tôi về một khu riêng biệt.

       Còn lại một mình trong phòng với Nguyễn, tôi bật khóc nức nở, hai đứa bé trông thật là xinh đẹp, vậy mà trời nỡ bắt tội chúng phải mang một cái tật quái dị là dính liền nhau.  Chúng tôi đặt tên hai con là Mai và Phượng.  Các bác sĩ cho biết theo đúng kế hoạch, thì phải đợi tới khi Mai và Phượng được hơn một tuổi, mới có thể tiến hành cuộc giải phẫu để tách rời, vì khi đó chúng mới đủ lớn để có sức chịu đựng.

       Ba tuần sau khi sanh, chúng tôi được đem con về nhà.  Mặc dù cơ thể có khiếm khuyết, các con tôi vẫn lớn lên theo năm tháng.  Chúng tôi được hướng dẫn các phương cách để có thể chăm sóc cho chúng một cách đặc biệt. Vị thế dính nhau khiến chúng không thể nẳm ngửa, vì như vậy một đứa sẽ nằm chồng lên đứa kia, chúng tôi khắc phục cái bất tiện ấy, bằng cách đặt chúng nằm nghiêng, thỉnh thoảng lại trở mình để cho đỡ mỏi, chúng tôi kê dưới lưng chúng mỗi đứa một cái gối.  Mai và Phượng giống nhau như hai giọt nước, với mái tóc tơ mềm mại hơi quăn, đôi mắt to tròn đen láy, với những cái nhìn thật tội nghiệp, và cái miệng thật là xinh xắn dễ thương.  Các con tôi bắt đầu mọc răng và bi bô gọi mẹ.  Nhìn con, tôi như đứt từng khúc ruột, hai khuôn mặt đẹp như thiên thần, nhưng cơ thể không phát triển bình thường, đã gần thôi nôi rồi mà không biết lẫy, cũng chẳng biết bò, và dĩ nhiên làm sao đi được?  Chúng không thể nào cứ sống như vậy suốt đời, bằng bất cứ giá nào, chúng tôi phải cứu lấy chúng.

      Các bác sĩ cho biết, cuộc giải phẫu tách rời hai đứa bé sẽ thập phần nguy hiểm, có thể lấy đi mạng sống của chúng, nhưng nếu thành công, thì các con tôi có thể sống cuộc đời bình thường.  Chúng tôi run tay ký giấy chấp nhận mọi sự rủi ro.  Thật là một quyết định đau lòng, nhưng không còn cách nào khác.  Các thử nghiệm cho biết, hai đứa bé có hai lá gan, nhưng dính làm một,  hai bộ phận tiêu hoá riêng biệt, nhưng chúng chỉ có hai quả thận và một cái chân chung.

Tiến trình của cuộc giải phẫu được hoạch định như sau:

– Chúng tôi sẽ chia đều hai quả thận cho mỗi đứa một quả.  Bác sĩ nói, sau đó sẽ tách rời hai lá gan, phải hết sức cẩn thận để không làm đứt những ống dẫn mật từ gan vào ruột.  Sau đó sẽ đến phần xương chậu bị hở ở phía trước, chỗ dính liền ở bụng dưới, mỗi đứa chỉ có nửa vòng xương chậu, nửa vòng còn lại sẽ được thay thế bằng thép.  Còn cái chân chung, vấn đề khó khăn là phải chẩn đoán xem cái chân thuộc về đứa bé nào?  Nghĩa là máu trong đứa bé nào đã đi vào mạch máu, để nuôi cái chân đó?  Sự chẩn đoán phải thật chính xác.  Bởi vì nếu lầm, thì cái chân đó sẽ chết, và không đứa bé nào sẽ được cái chân đó cả.

– Các bác sĩ sẽ có cách chứ?  Nguyễn lo lắng hỏi .

– Dĩ nhiên!  Khoa học ngày nay tiến bộ, thì việc đó sẽ có cách giải quyết.  Chúng tôi sẽ cho chích vào mạch máu một số lượng nhỏ chất phẩm phát quang, sau đó sẽ quan sát, theo dõi và xác định.

Chúng tôi cám ơn bác sĩ về những lời giải thích rất rõ ràng và dễ hiểu,  Nguyễn nói:

– Chúng tôi đặt tất cả tin tưởng vào các bác sĩ, và vào khoa học.

Ông mỉm cười với chúng tôi và khuyên:

– Ông bà không nên lo lắng quá.

       Thái độ tự tin của ông, làm chúng tôi an tâm phần nào.  Sau cùng, thì cái ngày trọng đại đó cũng sắp tới.  Ba tuần trước ngày sinh nhật đầu tiên của Mai và Phượng, các con tôi được đưa tới bệnh viện nhi đồng, ở tiểu bang Philadelphia, nơi đó người ta chuyên môn về những vụ mổ xẻ như vậy.  Một ê kíp các bác sĩ chuyên khoa đã sẵn sàng.  Tháp tùng hai đứa bé, có bác sĩ và hai cô y tá của bệnh viện, hai vợ chồng tôi, và người chị ruột của tôi cũng được đi theo, để giúp đỡ và hỗ trợ tinh thần.  Một xe cứu thương đã trực sẵn ngay tại phi trường để đem ngay hai đứa bé vào bệnh viện, từ nay cho tới ngày mổ, chúng phải ở luôn tại đó để được hưởng sự chăm sóc đặc biệt.

       Ba người chúng tôi, thuê một phòng nhỏ trong một khách sạn gần bệnh viện, để tiện việc tới lui thăm viếng.  Chúng tôi có thể đi thăm chúng hàng ngày, vào những giờ giấc nhất định.  Các con tôi rất ngoan, không hề la khóc, ngay cả những khi bị tiêm, chích, hoặc làm những thử nghiệm đau đớn.  Hình như chúng hiểu, người ta làm vậy là chỉ vì chúng.  Nhưng những ánh mắt cam chịu của trẻ thơ làm chúng tôi mủi lòng.  Lần nào cũng vậy, mỗi khi hết giờ thăm, khi cô y tá vào phòng bồng chúng đem đi, tôi không sao cầm được nước mắt.  Các con tôi xoải những cánh tay nhỏ bé, cố nắm níu, với theo một cách tuyệt vọng.  Chúng dõi những cặp mắt tội nghiệp nhìn theo cha mẹ với một vẻ quyến luyến không muốn rời, miệng chúng méo xệch đi nhưng không khóc.  Sau đó, chúng úp mặt vào nhau, xây lưng ra ngoài, xây lưng lại với đời … Nguyễn kéo tôi đi nhanh, mắt chàng cũng đã ngập đầy lệ .

      Các bác sĩ có vẻ lạc quan vì cả hai đứa bé đều có vẻ khoẻ mạnh và cân lượng rất tốt, những điều kiện thiết yếu cho một cuộc giải phẫu lớn, họ nói chúng  có hy vọng sống sót.

       Trong khi chờ đợi, chúng tôi dành tất cả thì giờ để cầu nguyện.  Ngày qua ngày, chúng tôi sống trong tâm trạng bất an, có lúc sốt ruột thấy thời gian trôi chậm quá, có lúc lại mong cái ngày đó đừng bao giờ tới, tự mình mâu thuẫn với chính mình.  Bà chị của tôi, trái lại rất bình tĩnh và lạc quan, bà ấy được cứu sống sau một tai nạn trầm trọng, nên rất tin tưởng ở khoa học.  Nhờ chị ấy an ủi, khích lệ nên chúng tôi mới giữ vững tinh thần.  Buổi chiều hôm trước ngày giải phẫu, chúng tôi được phép vào bệnh viện thăm con và ở lại với chúng bốn tiếng đồng hồ.  Đây là những phút giây não lòng nhất, có thể không bao giờ Nguyễn và tôi còn gặp lại chúng nữa.  Nước mắt rưng rưng, chúng tôi ôm các con vào lòng nựng nịu, vuốt ve hôn hít và nói chuyện với chúng.  Tôi nắm lấy những bàn tay bé nhỏ, thì thầm :

– Ôi thật tội nghiệp cho các con của mẹ,  Nhất định các con sẽ phải sống nhé, các con phải hứa sẽ không được bỏ đi.  Ngoan nào, Mai và Phượng, các con hứa đi!

       Hai đứa bé giương những cặp mắt ngây thơ nhìn cha mẹ, chúng nhoẻn miệng cười.  Tim tôi thắt lại, lòng tôi đau như xé, tôi cố nén nhưng nước mắt vẫn trào ra.  Lau vội giòng lệ, tôi mở mắt thật to, nhìn như uống lấy chúng, cố thu hết những hình ảnh cuối cùng của các con vào ký ức, vì biết đâu đây chẳng là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy chúng?  Nguyễn đã để sẵn trong ví số điện thoại của nhà quàn.

       Sáng sớm hôm sau, trước khi đẩy xe hai đứa bé vào phòng giải phẫu, các nhân viên của bệnh viện dừng lại một phút, cho chúng tôi hôn từ biệt các con một lần cuối.  Sau đó cửa phòng được đóng lại, ngăn chúng tôi ở bên ngoài.

       Tôi đứng lặng, trong lúc Nguyễn bồn chồn đi tới, đi lui trên hành lang, miệng lẩm bẩm điều gì nghe không rõ.  Sau cùng, chàng dìu tôi ngồi xuống ghế.  Đầu gối tôi mềm nhũn, toàn thân tôi rũ liệt, bao nhiêu sinh lực biến đi đâu mất cả.  Nhìn cánh cửa khép kín, tôi cảm thấy hoàn toàn bất lực, các con tôi đang ở trong đó, chúng đang ở biên giới giữa cái sống và cái chết, các bác sĩ đang dành giựt mạng sống của hai đứa con tôi với tử thần…

–  Phải gắng sức lên các con nhé, hãy chiến đấu cho tới cùng, đừng buông xuôi, đừng bao giờ bỏ cuộc!  Đời sống quí giá lắm các con ạ, hãy cố mà giữ lấy … Nếu các con biết được lòng cha mẹ thương yêu các con đến mức nào, chắc chắn các con sẽ không bỏ đi đâu, phải không Mai, Phượng?  Còn nữa, ngoài tấm lòng của cha mẹ, còn tấm lòng của những người đã đóng góp cho cuộc lạc quyên, tấm lòng của xã hội, tấm lòng và công ơn của các y sĩ giải phẫu, các nhân viên bệnh viện … Nếu sống sót, các con sẽ là niềm hãnh diện của khoa học, nhiều người trên thế giới đang quan tâm  theo dõi, và cầu mong cuộc giải phẫu được thành công, để các con có thể sống một cuộc đời đáng sống.  Đừng phụ lòng trông đợi của mọi người, các con nhé?  Hãy vững niềm tin nhất định khoa học sẽ thắng, nhất định các con sẽ sống, các con phải được sống… Ôi thật là tội nghiệp các con bé bỏng…

Lạy Chúa lòng lành, lạy Mẹ hằng cứu giúp, xin hãy tiếp sức cho chúng tôi!

       Tay nắm chặt cây thánh giá bằng bạc nhỏ xíu, tôi nhắm mắt lại cầu nguyện. Đột nhiên, tôi có cảm thấy như có một làn gió lạ vừa thổi qua làm tôi tỉnh hẳn người, quanh tôi, cảnh vật như bừng sáng, ánh sáng xanh của hy vọng,  cây thánh giá trong tay tôi mát lạnh như tượng đức Mẹ làm bằng đá cẩm thạch ở trong nhà thờ.   Một niềm an ủi vô biên làm thần kinh tôi dịu lại, tôi thấy vững tin hơn bao giờ.

       Chín giờ sáng, cuộc giải phẫu bắt đầu, y tá thỉnh thoảng lại ra báo tin cuộc giải phẫu tiến hành tốt đẹp, và hai đứa bé ở trong tình trạng tốt. Vào khoảng 4 giờ chiều, một tin làm chấn động mọi người: hai đứa bé đã hoàn toàn được tách rời.  Sau đó, là phần việc của các bác sĩ chuyên môn, trong việc phân chia các cơ quan, bộ phận và ghép vòng xương chậu.

       Đúng 7 giờ tối, cửa phòng giải phẫu mở toang, và người ta đem hai đứa bé ra, trên hai chiếc băng ca khác nhau.  Chúng tôi đứng bật dậy, chạy tới…

       Các con tôi mắt nhắm nghiền, mặt nhợt nhạt như những xác chết, băng quấn đầy mình, và những dây, những ống cắm chằng chịt, nhưng là hai thân thể đã hoàn toàn tách rời, là hai đứa bé riêng biệt.

Bác sĩ trưởng toán giải phẫu nói với vợ chồng tôi:

– Mọi việc đều trôi chảy, hai đứa bé hiện đang ở trong tình trạng nguy kịch, nhưng ổn định.  Hy vọng rồi sẽ qua  và mọi việc sẽ tốt đẹp.

       Chúng tôi bắt tay ông và ngỏ lời cám ơn, ông mỉm cười và dơ ngón tay cái lên chúc may mắn, trán ông lấm tấm mồ hôi, trông ông có vẻ mệt nhọc và hơi phờ phạc, nhưng rất vui vẻ.  Ông và toán giải phẫu đã làm việc hơn mười giờ, trong tình trạng căng thẳng, nhưng không ai tỏ ra nóng nảy, bực bội.  Mọi người đều  tươi cười, họ xúm quanh chúng tôi, thân mật bắt tay, nói những câu an ủi, và chúc mọi sự sẽ tốt đẹp.

Bà Nguyễn kể tới đây, thì ngưng lại lau mắt với một vẻ rất cảm động, sau đó bà kết luận:

– Từ đó đến nay đã hơn bốn năm qua, Mai và Phượng đã đến tuổi đi học, và đang học lớp mẫu giáo.  Chúng có một cuộc sống bình thường như mọi đứa trẻ khác.  Mai đi hơi lệch, vì một chân bị ngắn hơn chân kia, chỉ cần mang một đôi giầy đặc biệt là nó có thể đi lại bình thường, còn Phượng thì chỉ có một  chân và phải mangchân giả.  Nhưng điều quan trọng, là chúng đã sống và có hai cuộc đời riêng biệt, không còn chung chạ…   Đó là một thành công của khoa học.

       Người mẹ khiêm tốn kia, đã quên không đề cập đến vai trò của hai vợ chồng bà, trong việc cứu sống hai đứa bé, và sức phấn đấu của con người trước nghịch cảnh.  Khoa học thôi, không đủ, còn cần cả tình thương nữa.  Phải,  chỉ có lòng tận tụy, hy sinh, và tình thương vô bờ bến của cha mẹ, mới là động lực chính giúp hai đứa bé dành được mạng sống giữa biên giới của cõi chết, và giúp chúng bình phục mau chóng, sống một cuộc đời như những người bình thường.

Lưu Phương Lan

Đại Đội 3-Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù (LLĐB)

  • Image en ligne
    Đầu Xuân vẫn tay súngGiày nhà binh bết bùnNhìn én lượn không trungNgày Xuân ngàn mai nởThôn xóm pháo đì đùng Chiếc xe Jeep láng coóng của Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt chở chúng tôi, ba tân Thiếu Uý khoá 22 Võ Bị Đà Lạt vừa đậu lại bên trước  bậc tam cấp của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 91Biệt Cách Dù (BCH 91 BCND) thì đã có vị Sĩ Quan của đơn vị  đứng chờ sẵn đón chúng tôi với tay bắt, mặt mừng thân thiện và tự giới thiệu:- Tôi là Đại Úy Nguyễn Quang Vinh Tiểu Đoàn Phó, khóa 14 Đà Lạt, các Anh vào đây, Thiếu Tá đang chờ…!!!Chúng tôi bước vào văn phòng làm việc của vị Tiểu Đoàn Trưởng, văn phòng rất đơn sơ, phía sau bàn làm việc là cây cờ của Binh Chủng LLĐBVN và hiệu kỳ TĐ91BCND, với năm ba ghế sắt kê sát 2 bên tường. 3 chúng tôi đồng loạt chào tay và đứng thẳng người, cằm gập ba ngấn đúng quân cách… Ông đứng lên, tay xếp lại hồ sơ quân bạ của chúng tôi đang có sẵn trước mặt, đi vòng qua bàn làm việc nghiêm nghị chào lại chúng tôi và nói:- Thôi, bỏ tay xuống đi, ngồi xuống đây… ngồi xuống. Các anh Khóa 22 hả? Tên tôi là Lê Như Tú, Khóa 11 Đà Lạt, còn đây là anh Vinh, Khóa 14 Đà Lạt. Chúng tôi rất vui mừng khi nhận công điện của Bộ Tư Lệnh báo cho biết các anh sẽ được bổ nhiệm về đơn vị nầy, mặc dù đích thân tôi đã xin trước 6 người nhưng chỉ được có 3! Thôi như vậy cũng mừng lắm rồi!!! Hôm nay là ngày 22 Tết, đơn vị đang nghỉ dưỡng quân và tôi được biết chắc chắn là chúng ta sẽ được ăn Tết ở hậu cứ. Vì lệnh ngưng bắn sẽ có hiệu lực từ 12 giờ trưa ngày 30 Tết cho đến 12 trưa ngày mùng 3 Tết. Ông vẫn ngồi bên cạnh chúng tôi trên cái ghế sắt cũ kỹ rỉ sét, ông nửa như tâm sự, nửa như trình bày một số vấn đề liên quan tới đơn vị,rồi dẫn chúng tôi qua các phòng bên cạnh giới thiệu các Ban của Bộ CHTĐ, đi một vòng doanh trại chỉ dẫn… đây là ĐĐ3, ĐĐ4, ĐĐ5, và ĐĐ6 đang thành lập, còn ĐĐ1, ĐĐ2 thì ở bên trại Nguyễn Văn Tân (trại Đằng Vân cũ) cùng với TTHLHQDelta… Kết thúc 2 chiếc xe jeep của ĐĐ1 và ĐĐ2 đưa 2 tân Thiếu Úy: Đặng Thiện Chẩn và Huỳnh Kim Tiễn về đơn vị, còn tôi được chỉ định theo Trung Úy Nguyễn Đăng Lâu trình diện Trung Úy Trần Hoạt Thành (ĐĐT-ĐĐ3) ở doanh trại nằm sát bên cạnh Bộ CHTĐ đối diện cuối phi đạo phi trường Nha Trang. Giữa tôi và anh Nguyễn Đăng Lâu (K/21 ĐL) chẳng xa lạ gì, khi còn ở trong trường Võ Bị Đà Lạt, anh là SVSQ Cán Bộ Ban 5 của LĐ và cũng là Trưởng Ban Phát Thanh của trường. Tôi cảm thấy hân hoan vui thích vì mới vừa ra trường, được về đơn vị có nhiều đàn anh “Niên Trưởng” chăm lo rồi! Vì hơn ai hết, chúng tôi hiểu và biết thế nào là tình đồng môn xuất thân từ một trường mẹ (VBĐL). Sau khi trình diện TR/U Thành (Khóa 11TĐ), anh Lâu dẫn tôi xuống doanh trại, giới thiệu các Sĩ Quan Trung Đội Trưởng,… Thiếu Úy Dương Thiên Ngô, La Lưu Ý, Nguyễn Anh Phong, Nguyễn Khoát Hải, Đinh Văn Tiến Hùng, Đặng Văn  Nam,… rồi tới các Hạ Sĩ Quan mà anh Lâu kề tai nói nhỏ với tôi: “… đây là mấy ông thần nước mặn bán trời không mời thiên lôi…” Ba Bứng, Thạch Sương, Thạch Ri, Kim Sua, Kim Chơi,… Buổi chiều cùng ngày, Thượng Sĩ Mười (thường vụ) mời tôi ra nhà trại gia binh nằm phía sau BCH, ăn bữa cơm tối với những đồng đội tác chiến đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi, với những “Ông Thần” vừa kể trên “chơi” hết 2 chai Black and White và mấy dĩa lòng heo chấm mắm tôm…!!! Tôi quắc cần câu, gần như “bất tri hà sự”, Ba Bứng, Thạch Sương cõng tôi về doanh trại nửa đêm về sáng. Ngày hôm sau, anh Lâu hỏi:  – Hôm qua có vui với tụi nó không?- Dạ vui!!! Nhưng suýt bỏ mạng!- Anh bị tụi nó thử lửa đó, nhập gia tùy tục, nhưng phải nhớ nhập giang phải tùy khúc, vì vậy cái ĐĐ nầy mang tiếng là “Quậy” nhất của TĐ và cũng mang tên là ĐĐ bị đày đó. Sáng nay Tr/U Thành và tôi được báo cáo đầy đủ bữa tiệc lòng heo đêm hôm qua, tụi tôi vui lắm cứ cười ha hả và yên tâm với cái phong cách “giang hồ hảo hán” của anh có thể khắc phục tụi nó dễ dàng.Vì trước đây có nhiều SQ chịu không nổi phải xin thuyên chuyển đi nơi khác vì bị chê là cù lần, hách dịch mà lại nhát như thỏ, thượng đội hạ đạp!! À thì ra là thế! vô tình tôi đã có một “anh dũng bội tửu” được mấy “ông thần” lãng tử biên thùy khoái tỷ so cựa đàn anh “Sĩ Quan Sữa” đêm hôm qua có vẻ “ngầu” chơi được… và  “tương kính như tân” nên hai “Ông” Hạ Sĩ Nhất tình nguyện đưa lưng cõng “Quan” về trại!!!Theo lệnh ngưng bắn, đơn vị được xả trại đón giao thừa Tết Mậu Thân.  Anh Lâu rủ tôi về nhà anh ăn bữa cơm cuối năm với gia đình, Ông Bà Cụ thân sinh và cô em gái, hình như có mặt của Đinh Văn Tiến Hùng, sau bữa cơm, anh cho tôi mượn chiếc xe Vespa của anh rong chơi thành phố… Tôi chẳng có thân nhân, chẳng có bạn bè thân thích, về lại doanh trại thì chỉ loe ngoe chục binh sĩ độc thân đấu láo, tôi ghé cư xá Tổng Hành Dinh tán gẫu với mấy cô Nữ Trợ Tá Xã Hội của BTL, hầu hết họ đã được đi phép vể gia đình ăn Tết vui Xuân, chỉ có Trung Sĩ Ngô Túy Lan còn ở lại đơn vị, cô yêu cầu tôi chở ra Chợ Đầm mua ít hoa quả về đón giao thừa, chợ chiều 30 Tết vắng tanh, nhưng lùng sục một lúc cũng kiếm được một bó hoa mẫu đơn và trái dưa hấu, vài hộp mứt cho có lệ. Hai tâm hồn cô đơn “xa quê hương nhớ Mẹ hiền”, đốt vài nén nhang, ngồi trước mái hiên chờ tiếng pháo giao thừa trong tĩnh lặng không lời…! Tôi từ giã, định trở về trại, cô nói:- Thiếu Úy, nghĩ ở đây đi, nằm trên giường của chị Bé Tư nè (Bé Tư là Trưởng Phòng Xã Hội-BTL), ngày mai tôi nhờ Thiếu Úy chở đi Tháp Bà xin xâm.Tôi ngần ngừ không trả lời, vẫn ngồi yên trên cái ghế thấp trước hiên nhà, chợt nghĩ: “… năm nay dân Nha Trang ăn Tết lớn”!!! Mãi tới 2 giờ sáng mà tiếng pháo vẫn còn đì đùng khắp nơi!!! Ở đây tôi và Lan cảm cảnh “Xuân Nầy Con Không Về”! Chạnh tình Lan kéo chiếc ghế xích lại gần nhè nhẹ ngã đầu vào vai tôi, ánh mắt đen huyền nhìn lên bầu trời khuya lơ lửng ánh sáng hỏa châu chiếu rọi và rồi tiếng động cơ L19 bay lượn vòng vòng thả trái sáng với tiếng loa phóng thanh từ trên không vọng xuống:“Tất cả các quân nhân đồn trú thuộc Quân Trấn Nha Trang, bằng mọi phương tiện phải trình diện đơn vị ngay tức khắc, và cũng ngay lúc này lệnh giới nghiêm được ban hành toàn Thị Xã Nha Trang đến khi có lệnh mới.”Túy Lan hỏi tôi:- Thiếu Úy, chuyện  gì vậy?- Tôi không biết! Lệnh phải trở về trình diện ngay tức khắc, và cũng là lệnh giới nghiêm… Mình chờ chút nữa xem sao?Loa phóng thanh từ chiếc L19 bay lượn quanh, vẫn lập đi lập lại nhiều lần cảnh giác… Nhưng tiếng pháo từ tứ phương đông tây nam bắc vẫn tiếp tục nổ đì đùng vang dội xen lẫn với tiếng súng Ak của VC nổ từng tràng… Thôi, như vậy là có biến rồi, từ cư xá này đến BTL chỉ khoảng chừng 500 mét. Tôi bất chấp lệnh giới nghiêm nói với Túy Lan:- Tôi phải đi ngay.- Thiếu Úy chờ một chút.Cô vội vã thay quần áo nhà binh, nhẩy lên sau chiếc Vespa, tôi nổ máy phóng vội về BTL.Việt Cộng đã tấn công toàn thể Thị Xã Nha Trang đúng vào lúc giao thừa. Tình hình an ninh của Thị Xã đang đặt trong tình trạng báo động khẩn cấp, ngay cả Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng, Tư Lệnh LLĐB, kiêm Quân Trấn Trưởng cũng chưa biết chắc chắn những gì đang xảy ra trong đêm Giao Thừa loạn lạc nầy, ông chỉ biết VC đang bất thần tấn công Nha Trang! Tôi phải đợi đến 5 giờ sáng, một xe GMC đưa khoảng vài chục binh sĩ về lại TĐ91BCND, Thượng Sĩ Mười, thường vụ ĐĐ vừa nhảy xuống xe, chạy vội tới đôn đốc binh sĩ chuẩn bị tác chiến và đưa cho tôi cái áo giáp, khẩu súng Colt 45 và cây Carbin M2 bá xếp với giọng nói không còn bình tỉnh như thường ngày và hốt hoảng: – Thiếu Tá Tú TĐT, Trung Úy Tùng ĐĐT/ĐĐ4 đã tử trận, Trung Úy Thành ĐĐT của mình bị thương nặng, đã được đưa vào bệnh viện Nguyễn Huệ, Trung Úy Lâu vừa rời khỏi đây chừng nửa giờ! Thiếu Úy lên xe cùng với mấy anh em, đường Duy Tân còn an ninh, không nguy hiểm lắm, cứ chạy thẳng đến Dinh Tỉnh Trưởng Khánh Hòa thì gặp Trung Úy Lâu ở đó. Nhớ lời tôi dặn, tìm Ba Bứng, Thạch Sương, Kim Chơi và ở bên cạnh tụi nó. Thiếu Úy đừng nổi máu anh hùng rơm mà bỏ mạng!Tôi bàng hoàng và cảm động muốn rơi nước mắt! Suy nghĩ vừa mới tốt nghiệp Võ Bị với hành trang lý tưởng nào là: Tổ Quốc – Danh Dự  – Trách Nhiệm, Cư An – Tư Nguy, Tự Thắng để Chỉ Huy… mà hiện tại bây giờ đang đứng trước hoàn cảnh bất chợt phải “ba quân trong tay ta” xông lên tử chiến với quân thù “sinh Bắc tử Nam” với nhiều huyền thoại từ những “nhà” phóng viên, báo chí truyền thông Âu-Mỹ phản chiến, thân Cộng, rêu rao thổi phồng chúng như đoàn quân thiện chiến nhất hành tinh nầy vậy! Biết thế, nhưng tôi vẫn có nhiều bất an và hình như tôi đang quên đi hết những gì được thụ huấn trong quân trường?! Hiện trạng tôi chỉ có vâng lời người Thượng Sĩ già lớn tuổi hơn mình, đã trải qua bao nhiêu năm chiến đấu trên khắp mặt trận, dầy dặn kinh nghiệm chiến trường.Bất chợt tôi choàng tay ôm TS Mười xiết thật chặt thân tình rồi lên xe, nhìn đồng hồ đang 6 giờ 30 sáng ngày mùng 1 Tết, tôi dẫn quân lên đường và sau cùng cũng tìm đến được Bộ Chỉ huy Tiểu Đoàn, gặp anh Trung Úy Lâu ở phía sau bên cạnh bờ tường của Dinh Tỉnh Trưởng Nha Trang. Anh bảo tôi:- Anh lách qua bên phải gặp Trung Đội 1 và 2 bên đó… hãy cẩn thận, chết và bị thương nhiều lắm rồi! Bảo thằng HSN Bảo đưa cái máy PRC25 cho anh. Anh mang nó vào lưng và liên lạc trực tiếp với tôi.Tôi lom khom chạy sau bờ tường gặp ngay cái nhóm mắc dịch “lòng heo và Black and White” đang nốc rượu đế từ cái bi đông chuyền tay, Kim Chơi nhoài người đạp tôi một cái ngã nhào xuống đất, bên trái là 2 chiếc thiết vận xa đang hụ máy sắp sửa ủi hàng rào tấn công vào Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 5. Kim Chơi cười cười, Kim Sua nói:- Cha nội, lúc này là phải bò, phải trườn, cứ tưởng đang đi dạo phố thì đi đời nhà ma đó cha nội!!!2 chiếc thiết vận xa vượt hàng rào bắn phá… Oành, Oành, Oành… rồi một chiếc bị lãnh 1 trái B40, cài số de, ủi sập bờ tường, cán lên cả BCH/TĐ, làm cho Đại Úy Nguyễn Quang Vinh TĐP bị dập xương sống, phải tản thương khẩn cấp! Trung Úy Lâu lồm cồm bò lê, bò lết, hồn phi phách tán. Oành, Oành, Oành… Tôi cảm thấy tay trái tê buốt, nhìn qua thấy máu tuôn xối xã cả cánh tay trái. Ba Bứng nóng mặt hét to: “ĐM chơi luôn”. Hai tay ôm cây đại liên 30 không có càng nhào lên, “cái Bang” trại gia binh cùng nhào lên theo. Ôi! Nó tuyệt vời làm sao, như đang xem phim đổ bộ bờ biển Normandie: 8 chàng lính Miên, lính Nùng, lính Thượng, lom khom chạy nước rút bám được vào chân tường phía trước của Bộ Chỉ Huy TV5, Kim Chơi vói tay quăng trái lựu đạn lọt qua lỗ hổng của khung cửa sổ, trái thứ hai, trái thứ ba… Thạch Sương ngồi xuống làm điểm tựa để cho Kim Chơi nhảy đứng thẳng lên vai, Thạch Sương đứng dậy để cho Kim Chơi mượn đà nhẩy qua cửa sổ vào phòng, cứ thế 8 cảm tử quân yên hùng lao vào chiến trận cứ như “điếc không sợ súng”, xem mạng sống “nhẹ tựa lông gà”, dưới quyền chỉ huy của Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Thành, trong chớp nhoáng 8 “ông thần bán trời” đã xâm nhập vào “hang ổ” VC như chỗ không người, tuyệt vời hơn phim ảnh Hollywood đang trình chiếu toán Navy Seal hay Delta Force của Mỹ đang thi hành công tác đặc nhiệm!!! Trung Sĩ Nhất Tiên (y tá) đang băng bó vết thương ở cánh tay trái của tôi, thì Tr/Úy Lâu cũng vừa đang “bò” tới dưới hỏa lực của cây thượng liên VC đang bắn nổ dòn dã trên những cửa sỗ lầu hai. Anh ra lệnh:- Trung Sĩ Tiên, đưa Thiếu Úy Út ra phía sau và tản thương ngay.2 năm trong trường VBĐL, chúng tôi chỉ thực tập tác chiến trên chiến trận giả, bắn súng thật với đạn giả, chạm địch-bạn cũng giả… Nay mới về đơn vị chỉ vỏn vẹn có 5 ngày (thâm niên) chưa có chức vụ gì dù là Tiểu Đội Trưởng, ngơ… ngơ…ngáo…ngáo như Mán về thành, loay hoay không biết phải làm gì… trong khi những tay súng thiện chiến lỳ lợm cự phách, già dặn, tinh ranh trận mạc “đánh như chơi”, như game of death, giỡn mặt với tử thần chung quanh mình, “oánh giặc” như đang diễn tuồng xiếc!!! Không cần đợi lệnh, những “Kinh Kha Việt” tân thời gan dạ thành thạo xông vào màng lưới đạn pháo bắn như rãi..thái độ ung dung hỗ trợ nhau, vai sát vai liền lạc tấn bước bám từng góc nhà, bờ tường, len lỏi thanh toán xóa sổ từng tổ, từng chốt… không một tiếng hô xung phong và cũng không cần phải chờ hiệu lệnh chỉ huy, họ biết tự giải quyết những tình huống sinh tử cho chính bản thân và nếu chẳng may ngã xuống tại trận tiền ví như thua một cây “phé”, lỡ một nhịp đời chịu đựng cơn đau xé trời xanh, hồn bay bổng theo tiếng súng như cợt đùa với nhân gian phùng thời khói lửa chiến chinh. Nhưng sau chiến trận nghiệt ngã, vợ con, thân nhân của Tử Sĩ là cả một trời thực tế đau thương!!! Vâng, chính Họ là những Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ  thuộc Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù đã cùng tôi chén thù, chén tạc “nhậu” tới bến với “ông già chống gậy” Black and White chỉ mới vài ngày qua ở trại gia binh.Thị Xã Nha Trang và các vùng lân cận đã được giải tỏa hoàn toàn trong khoảng thời gian 2 ngày. Tôi nằm ở Bệnh Xá THD/LLĐB theo dõi tin tức hằng ngày và biết ở các Tỉnh, Thành, khắp nơi cũng tình trạng tương tự như thế… và đặc biệt đến khó hiểu là toàn bộ lực lượng Quân Đội Mỹ trong những ngày đầu Chiến Trận Mậu Thân 1968 có lệnh án binh bất động, không can thiệp, không chạm súng với VC, như đã có thỏa uớc bí mật, nếu không nói là đã âm mưu, đồng lõa hổ trợ ngầm cho VC lợi dụng tình trạng hưu chiến để tấn kích Quân Dân miền Nam ngõ hầu chiếm đoạt và tận diệt thể chế Tự Do Việt Nam Cộng Hòa?! Tôi được xuất viện, trở về trình diện ĐĐ, Tr/Úy Lâu giờ là Quyền ĐĐT/ĐĐ3, Đại Úy Woòng A Si ĐĐT/ĐĐ4, Đại Úy Khánh Cao Bồi là Quyền TĐT.Trong phòng thuyết trình hành quân, Tr/Úy Lâu ban lệnh:- Bây giờ là 9 giờ, chúng ta chỉ còn 2 tiếng đồng hồ nữa để ra phi trường, chuẩn bị 3 ngày ăn (Ration C), đi đâu và làm gì sẽ có lệnh sau, Th/Úy Út giữ chức vụ Trung Đội Trưởng Trung Đội súng nặng kể từ giờ phút này. Thôi các anh về lo cho Trung Đội đi.Vì Quân Đội Mỹ chưa có lệnh tham chiến, cho nên chúng tôi nhẩy bằng CH34 của Phi Đoàn 215 Không Quân Việt Nam đảm trách chuyển quân thả chúng tôi thâm nhập Mật Khu Đồng Bò nằm phía Bắc thành phố Nha Trang chừng chục cây số, xa nữa là khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn. Chúng tôi bố trí hành quân thần tốc tảo thanh truy lùng cán binh vc từng khu vực mãi cho tới 3 ngày đêm chỉ chạm súng lẻ tẻ vô sự như đi cấm trại, chẳng có gì đáng kể. Nhưng tôi có dịp chỉ huy, tiếp xúc làm thân, quen biết thêm được binh lính của đơn vị và những biệt tài sở trường của mấy “ông thần” Black and White như: Kim Sua xử dụng súng cối bằng đầu gối, Ba Bứng, Thạch Sương xử dụng đại liên 30 không cần càng, Y Khương hai tay xử dụng Garant M1, phóng lựu một cách chính xác như  thẩy lỗ (thời điểm này TĐ91BCND chưa được trang bị súng tự động M60, AR15, M16, M79)..!!!Cuối tháng 2/1968, Trung Úy Huỳnh Văn Thanh thay thế Trung Úy Nguyễn Đăng Lâu, Thiếu Tá Trần Phương Quế làm Tiểu Đoàn Trưởng. Trung Tâm Hành Quân Delta, TĐ91BCND (chỉ có 3 ĐĐ1, ĐĐ3, ĐĐ5) được 1 phi đoàn trực thăng 281 không số, không cờ, không huy hiệu của Quân Đội Hoa Kỳ không vận ra Phú Bài, Huế, tham dự Hành Quân Delta 35, trong tình trạng thành phố Huế đang dần dần phục hồi sau hoang tàn đổ nát và Thành Nội,Kỳ Đài còn ghim đầy dấu đạn. Cuộc hành quân dã chiến tại Huế đã ổn định xong, 3 ĐĐ được phiđoàn 281 trực thăng vận bốc thẳng vào ngay thung lũng Ashau, Alưới thả xuống hành quân tảo thanh truy kích địch tiếp tục… Tính ra kể từ ngày ra trường cho đến hôm nay, đây mới đúng nghĩa là cuộc hành quân của TĐ91BCND/LLĐB. Ngồi trên trực thăng UH1B, truớc sau đội hình bay là một hàng dài trực thăng nối tiếp nhau với tiếng động cơ và cánh quạt phành phạch xé gió lao vào vùng hành quân, tôi nôn nao thầm đếm không biết bao nhiêu chiếc nữa, bên hông trái phải là 4 chiếc Cobra Gunship trang bị hỏa lực kinh hoàng oai dũng, uy vũ như thiên thần hung tợn bay lượn tới lượn lui mở đường, hộ tống bảo vệ đội hình và sẵn sàng phóng tối đa lưới đạn, hỏa tiễn vào mục tiêu đối đầu… Bỗng dưng tôi nhớ đến bài hát Biệt Kinh Kỳ “giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu, trở về thủ đô nắm tay ta mừng vui…” và niềm kiêu hãnh vô hình đang dâng trào lên lồng ngực, tôi vỗ vai thân thiện Ba Bứng đang ôm chặt khẩu đại liên 30 không càng. Trực thăng đổ quân trên bãi đáp là 1 địa điểm hình yên ngựa thoai thoải, Gunship bay lượn quanh vùng để hỗ trợ, binh lính ĐĐ3 túa ra thành thạo tự sắp xếp đội hình tác chiến, từng bước, từng bước dọ dẫm tiến lên ngọn đồi trước mặt, ĐĐ1và ĐĐ5 được đổ xuống khoảng 15 phút sau đó. Vì là Trung Đội Trưởng súng nặng nên tôi đi bên cạnh TrÚy/ĐĐT HVThanh, 3 trung đội kia, một trung quân, một tả quân, một hữu quân… Bỗng Ầm..Ầm..Ầm, Oành..Oành..Oành.. cây lá cành gẫy đổ ngã ập xuống trên đầu chúng tôi như cơn bão táp với sức cuồng phong bốc lửa!!! Trung Úy Thanh ngã quỵ với đôi mắt trợn trừng, Y Tá Tiên nhào tới đỡ anh nằm xuống, lính quýnh mở hộp cứu thương, một viên đạn AK đã vào xé lồng ngực của anh Thanh, Kim Sua vất khẩu súng cối 60 ly nhào tới ôm tôi, cả hai ngã lăn cù trên mặt đất cùng lúc tôi nghe một tiếng nổ long trời trước mặt, tôi bị bứng văng xa, ngực trái của tôi ướt đẩm máu thấm ra ngoài cả áo giáp, Y Tá Tiên bò tới sờ ngực tôi, mắt tôi lờ đờ, anh bỗng òa khóc, tôi thiếp đi dần dần không còn biết gì nữa!Thời gian qua đi không biết bao lâu…Khi tỉnh dậy, tôi đang nằm ở Bệnh Viện 3 Dã Chiến của Hoa Kỳ Phú Bài, Huế, bác sĩ Mỹ chăm sóc cứu chữa và cho biết: Tôi lãnh trọn 1 trái Beta vào ngực, nhưng may nhờ cái áo giáp nên miểng không xuyên phá vào sâu được, bác sĩ đã gắp ra hết chỉ còn một mãnh nhỏ ở ngay bên ngực trái không nên mổ vì sẽ chạm hệ thống thần kinh nguy hiểm, vài ngày sau đó tôi được chuyển về bệnh viện Duy Tân, Đà Nẵng. Nhập viện, “bố khỉ” lại “hội ngộ” bạn Thiếu Úy Nguyễn Hiền nằm bên cạnh với cái chân trái treo tòn teng trên giá cuối giường!!!Vài ngày sau đó, phái đoàn Phòng Xã Hội BTL/LLĐB đến thăm, có Trung Sĩ Túy Lan tâm tình đêm giao thừa vừa qua, đi trong phái đoàn ủy lạo thương binh và “ngộ” cố nhân nên cô ở lại bệnh viện 2 ngày trực tiếp chăm sóc cho tôi và kể:  – Thiếu Úy biết không, khi nghe tin ĐĐT/ĐĐ3 và Thiếu Úy Út tử trận, TĐ thiệt hại nặng, Túy Lan điếng người, gọi điện thoại lung tung, mấy ngày sau mới biết tin chính xác. Trung Úy Thanh được đưa ra Đệ Thất Hạm Đội, mổ khẩn cấp để gắp lấy viên đạn AK (vì vậy sau này mới có tên là Thanh AK) tình trạng khả quan, còn Thiếu Úy được đưa về Đà Nặng, tổn thất của ĐĐ rất nặng với 12 chết, 27 bị thương nặng nhẹ, may là TĐ được bốc ra ngay, nếu không thì chẳng có người nào được trở về!Một tuần sau tôi xuất viện, được nghỉ phép 29 ngày chờ tái khám. Khi trở về đơn vị thì tân ĐĐT là Trung Úy Ngô Tùng Lam (Khóa 11TĐ), TĐ91BCD được cải danh TĐ81BCD, mấy “ông thần” Black and White được bình an vô sự, chỉ có Hạ Sĩ Nhất Mang Đen còn nằm nhà thương vì câu nói bông đùa thường nhật của anh: “… cắt cổ không bằng đổ rượu”, bây giờ thì anh bị đổ ruột!Cuối tháng 4 năm 1968, lệnh hành quân về Sài Gòn vì Việt Cộng tấn công đợt hai, chiếm vùng Cây Quéo, Cây Thị (Bình Hòa-Gia Định), Trung Đoàn chủ lực miền Quyết Thắng của VC đã xâm nhập vào đây và bám trụ rất chặt trong từng nhà dân chúng. Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù quần thảo với chúng nó cũng đã nhừ tử rồi, nhưng chưa bứng chúng được là vì lệnh trên không cho phi pháo yểm trợ vào khu dân cư đông đảo! Giải pháp và quyết định tối hậu sau cùng là chỉ có lực lượng Delta 81BCD với sở trường “vạc ăn đêm, mèo bắt chuột” là trừ khử con cháu “bác và đảng” giặc từ miền bắc vô đây, bàn tay vấy máu dân lành… và chỉ có Delta 81BCD đột kích từng căn nhà trong đêm mới có thể “móc” ra được loại quỉ vô thường VC ra khỏi hầm hố đào bới, bám trụ trong nhà phố cư dân… vì địch ở trong thế bối thủy sinh tử chiến: hoặc chết hết hoặc đầu hàng mà thôi! Quả thật, các cấp chỉ huy đã có quyết định hành quân chính xác khi xử dụng Delta 81BCD trong mặt trận này. Như qui luật bất thành văn: “Biệt Kích Dù Anh Hùng Vô Danh” nên “mèo bắt chuột” thì chẳng có gì kể lể chiến công. Nhưng sau khi đã bứng và tống khứ, đưa tiễn linh hồn cán binh VC ra khỏi vùng chiếm đóng, để trả lại sự bình yên cho dân chúng sau những ngày tháng tang tóc và nỗi chết luôn chực chờ… Người chiến sĩ Delta 81BCD đã được Quân-Dân miền Nam biết đến và hâm mộ, thương yêu những “Kinh Kha Thời Đại”, với những chiến công sát cộng Bảo Quốc – An  Dân từ Tết Mậu Thân Đợt 1 và Đợt 2 qua hệ thống truyền thông, truyền hình, báo chí… Đi với tôi có phóng viên Dương Phục của Trung Tâm Điện Ảnh Quân Đội làm phóng sự, tháp tùng bên cạnh tôi là Ba Bứng với cây đại liên M60 mới toanh, Kim sua ôm khẩu phóng lựu M79 cáo cạnh vừa mới xử dụng một ngày trước đó, Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Thành, Trung Đội Phó của tôi. Tôi nhớ lại mới mấy ngày đêm vừa qua khi tôi chỉ huy dẫn toán các toán Delta xâm nhập vào từng căn nhà vào lúc nửa đêm về sáng, ĐĐ2 và ĐĐ3 theo sự hướng dẫn làm mũi dùi chính chiếm mục tiêu: Kim Sua  xử dụng súng phóng lựu M79 bắn chính xác rót vào mục tiêu như “thẩy lỗ” Bụp…Bụp…Bụp…vừa bắn vừa nói lầm bầm: “nè…cho mày ngụp xuống hầm…rồi… trúng, tapi…cho mầy banh sàrong coi chơi”. Địch banh xác pháo!!! Kim Sua xử dụng cây M79 hiệu quả còn hơn súng cối 60 ly!!! Ba Bứng vừa bắn đại liên M60 nổ dòn vừa chửi thề: “Đm… cho mày như con thằn lằn rớt xuống đất…dzô..dzô..dzô con…cho mầy chết nè…nè”!!! Cho đến khi tàn “cuộc chơi”  nhìn thấy những cán binh VC bị bắt với thân thể ốm đói sau nhiều ngày tử thủ chân mang dép râu chiếc còn chiếc mất, mũ tai bèo tơi tả, mặt mày tái mét thiếu ăn, mất ngủ, ngơ ngáo, nằm bẹp xuống sàn nhà… Chẳng cần bắt trói, tôi bàn giao chúng lại cho toán sau, lại tiếp tục đột kích sang từng căn nhà khác cạnh kề và lại tiếng súng nổ, tiếng lựu đạn nổ và thây người cán binh ngã xuống, chẳng thèm thu nhặt chiến lợi phẩm súng ống, chúng tôi lại tấn kích tiếp tục sang từng căn phố, cho đến khi tất cả 167 cán binh thuộc Trung Đoàn Quyết Thắng may mắn sống sót, tháo chạy về hướng cầu Băng Ky và đầu hàng với cánh quân TQLC ở ngã năm Bình Hòa, Gia Định. Tôi được thăng cấp Trung Úy tại mặt trận và làm Đại Đội Phó từ đó. Tiếp đến Đại Đội lại được điều động qua cầu Nhị Thiên Đường, bến Phạm Thế Hiển, nơi đây xảy ra nhiều chuyện nửa khóc nửa cười: Ba Bứng say rượu vác đại liên bắn chỉ thiên, rượt Đại Úy ĐĐT Ngô Tùng Lam chạy bán sống bán chết vì bị phạt cạo đầu nhốt chuồng cọp 3 ngày với cái tội nói chuyện với ĐĐT mày tao, Thạch Sương, Mang Đen hai tay với 2 trái lựu đạn mở chốt tìm ĐĐT nói chuyện phải trái vì tội vô kỷ luật, Thiếu Úy La Lưu Ý với mối tình 3 ngày với cô học sinh lớp đệ tam trường trung học Cần Giuộc, kết quả là cô tự vận chết, La Lưu Ý ăn năn, cạo đầu ăn chay xin xá tội…!ĐĐ3/81BCND của tôi đó!!! Chỉ có 4 tháng kể từ ngày ra trường trải qua với 4 cuộc hành quân, 4 vị ĐĐT, một bị cưa chân, một bị lãnh viên AK vào ngực trái, 3 vị Tiểu Đoàn Trưởng, tôi bị thương hai lần. Một điều lạ là cái “Băng lòng heo luộc Black and White” Thượng- Miên- Nùng thuộc Đại Đội 3 TĐ81BCD bình an vô sự, không hề hấn gì. Chắc có lẽ cũng vì thế mà đúng 1 năm sau, vào tháng 5/1969, tôi được bổ nhiệm làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 5 chỉ mới có 23 tuổi đời, một “ĐĐT Sữa” của Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đơn vị ưu tú và thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lưu danh trong dòng Chiến Sử sánh vai với tất cả Quân Binh Chủng Miền Nam Việt Nam trong suốt 21 năm Cuộc Chiến Quốc-Cộng và hiện tại ở đây quê người bình yên đến buồn an lạc…Tôi vẫn luôn hoài niệm chiến trường xưa khi mà “Thiên Địa phong trần, du du bỉ phương” hà thời… Ôi! nhớ sao là nhớ những binh sĩ và “Giàn” Hạ Sĩ Quan “Thần kinh Quỉ khiếp, banh sàrong coi chơi” Thượng- Miên- Nùng và những ngày xưa thân ái  “Huynh Đệ Chi Binh”… Và: Bằng Hữu ơi, mai ta về rừng láChốn phiêu bồng cây cỏ cũng rong chơiGiã từ người đêm sau cơn nguyệt hạThả thơ thuyền cho trôi dạt mù khơi.Mai đi thật xa ta đi thật xa…Chuyến tàu đêm có đỗ bến quê nhàAnh Em tứ tán trôi vô địnhNước mắt hay sương đêm đã nhạt nhòa.                                                         (TGD) Trương Văn Út (Mũ Đỏ Út Bạch Lan)

Bạch mai

  • Má tôi nói gốc bạch mai đó có tuổi lớn hơn bà. Khi bà còn là một đứa con gái nhỏ thường theo người lớn đến mấy sòng bài để được ăn hàng thì thấy cội mai đã là một cây cao và to, nay má tôi hơn chín chục, cây mai đã quá trăm tuổi từ lâu. Mấy đứa bé muốn hái hoa để chơi đồ mua bán hàng phải bắc ghế đứng lên. Đó là gốc bạch mai trong phủ Tuy Lý Vương, dân gian gọi là phủ Ba Cửa ở Vĩ Dạ, Huế.Sau nhiều năm trở về tôi mới nhìn thấy gốc mai trắng, một cái cây già lão cằn cỗi, đã lâu không được người chăm bón. Phủ thờ hồi đó hoang tàn cùng với triều đại nhà Nguyễn. Phủ thờ chẳng còn gì nhiều, chỉ là căn nhà ngói năm gian, dài như cái rạp hát. Bên trong có vài cái tủ gỗ, mặt gương bễ cả, chứa hàng trăm bản khắc gỗ bộ sách thơ của Ngài Tuy Lý và bàn thờ ngài. Tuy Lý Vương húy là Miên Trinh, một vị vương ưu tú, rất có thế lực, song không ra tham chính trị nước, chỉ sành và yêu chuộng văn thơ. Gốc bạch mai đứng ở cạnh cửa đi vào ở bên hông nhà, làm chỗ cột dây phơi quần áo. Tôi nhớ lúc đó cây to cỡ cột nhà, chiều cao chỉ độ 3 mét, đến đây hình như nó bị bom đạn hay ai đó chém ngang, không cao lên được nữa. Từ nơi ấy nứt ra nhiều nhánh con, trông giống như công chúa đội vương miện xanh.Thú thật tôi chỉ mới nghe nói hoa mai màu trắng, chưa thấy cây bạch mai trổ hoa lần nào. Sau này về Nha Trang, tôi quen một nhà thầu khoán cũ giàu có, ông về hưu vui thú điền viên, ông có một khu vườn cây cối hoa lá tốt tươi, trồng nhiều gốc mai. Ông bạn già chỉ tôi xem một cây mai, nói đó là gốc thanh mai (mai xanh). Lúc này chưa phải mùa mai trổ hoa, cây thanh mai chẳng có điểm gì đặc sắc. Mùa xuân năm ấy ông bạn già đặt tiệc thưởng hoa, tôi được mời đến xem mai nở, trong đó có cây thanh mai. Tôi tò mò muốn xem đóa hoa mai xanh. Thế nhưng đến nơi tôi vô cùng thất vọng. Chữ thanh mai làm tôi nghĩ tới đóa hoa thực sự màu xanh, không xanh lắm như nước biển thì ít nữa cũng xanh ngọc thạch, xanh lá non hoặc màu xanh lá già hay lá úa. Tôi nghi ngờ đây không phải là cây thanh mai chính hiệu. Những đóa hoa của nó có màu vàng nhạt, vàng nhẹ, vàng chanh, nhìn và tưởng tượng mới thấy ửng lên chút xanh xao sâu bên trong. Một màu xanh còn nằm trong màu vàng, màu xanh mơ hồ.Từ đó tôi nghĩ người chơi hoa, chơi chim, chơi đồ cổ, thường tưởng tượng, ly kỳ hóa sự việc, và cường điệu hóa nó lên, khoác cho chúng cái tên lạ, chỉ để thỏa mãn tự ái. Từ đó tôi bắt đầu nghi ngờ về những hiện tượng phi thường trong thiên nhiên, cuộc đời này không dành chỗ cho sự huyền ảo mơ mộng.Năm ấy tôi được mời làm giám khảo trong cuộc thi hội hoa xuân. Cuộc thi có nhiều bộ môn, bonsai, non bộ, đá cảnh, hoa lan, hoa xương rồng… Trong cuộc thi này, ai cũng chú trọng tới hoa mai vì ấy là mấy ngày trước tết. Thực đúng là hội hoa xuân, nhiều thứ hoa lá, cây trái, nhất là mai, đủ loại to nhỏ,mai vườn,mai núi,mai biển… Sau khi đoàn giám khảo đi một vòng quan sát và cho điểm vào sổ tay của mỗi người, một vị giám khảo già kề tai tôi nói nhỏ:“Đẹp thì có đẹp nhưng toàn là hoàng mai, chậu, gốc, thân, cành, hoa, lá đều tương tự như nhau, thực khó mà chọn lựa lấy cây nào, bỏ cây nào. Phải chi có khóm bạch mai…” Ai cũng đồng ý, nếu có khóm bạch mai thì thế nào nó cũng chiếm ngôi hoa hậu, lĩnh giải thưởng mấy triệu bạc. Tôi nghĩ đến gốc bạch mai trong phủ Tuy Lý Vương ước mong: Ừ, phải chi…Còn ba ngày nữa là tết, tôi ra chợ mua mai về chưng phòng khách và cắm lên bàn thờ ông bà. Tôi vừa đi chấm mai về nên thấy mai ở chợ đều xoàng mà giá lại đắt. Tôi thử trả bị người bán chê bai, tôi giận dỗi bỏ về.Cuối đường tôi gặp một ông lão, dáng tiên phong đạo cốt, mặt mũi hồng hào, râu trắng như tuyết. Ông đẹp như một vị lão tiên trên non bồng đem hoa xuống trần gian trao cho người tài đức. Ông lão đứng giữa phố phường ngựa xe tấp nập trông thật lạc lõng tội nghiệp. Tay ông cầm cành mai lớn, gốc cây bằng cổ tay, cao mấy thước, đầy búp, vài đóa mai vàng rụt rè nở một cách thăm dò. Có lẽ ông cụ đứng trong nắng bán mai đã mấy giờ rồi, trông mỏi mệt bên cành mai. Tôi dừng lại thăm dò, hỏi: “Cụ bán cành mai này sao?” Ông lão gật đầu. Tôi hỏi, sao không bảo con cháu đi bán, cụ nói chẳng có đứa nào. Tôi xem mai, hỏi giá, ông lão nói: “Mai nhà, đau lòng lắm mới chặt đi bán. Ông cho bao nhiêu cũng được… ” Tôi xem cành mai, nó là mai vườn, có nhiều búp non hứa hẹn khi nở sẽ rất rôm rả, sáng nay, hai mươi bảy tháng chạp, chỉ mới vài nụ hé mở để lộ cái màu vàng nghệ, một màu vàng khỏe khoắn, hứa hẹn nhiều cánh, có thể đây là giống mai vàng đa cánh, mai vườn được chọn lọc và chăm sóc kỹ lưỡng. Tôi mua cành hoa với một giá đắt, và tôi cũng tự vỗ về tự ái của mình về việc mua cành mai cốt để giúp ông cụ.Ông già bán mai xong, đứng lên đổ thùng nước cắm hoa ra đường rồi xỏ chân vào đôi guốc gỗ đóng quai da bò. Ông không kêu xe mà đi bộ. Tôi hỏi nhà, ông bảo gần đây. Tôi nói chở cụ về, cụ gật đầu. Tôi đưa cành mai cho ông lão cầm hộ, lấy xe chở ông, đi được một đoạn ông bảo tôi rẽ vào xóm nhỏ, dừng trước một vườn cây. Ông già cảm ơn đi vào, dáng thiểu não, như người đang bệnh.Hôm sau và hôm sau nữa thêm một vài cái nụ nở, đúng là hoa nhiều cành, màu vàng nghệ khỏe khoắn. Hình như chúng chỉ nở đôi ba nụ, nở một cách thăm dò, còn đợi đến chính tết. Tôi biết ông cụ là một chủ vườn rất giàu kinh nghiệm trong việc cắt cành tạo dáng và trảy lá. Cả nhà tôi lo việc sắm tết, tôi lo bày biện bàn thờ ông bà, đem bộ lư đồng đi đánh bóng, vợ tôi lo bánh mứt. Thời buổi này ai cũng bị cái thuyết thực dụng chi phối. Nhà nào cũng chỉ làm việc đơn giản là đem tiền đi mua sắm, không ai chịu bỏ công ra làm thứ gì. Tôi không thích như vậy, chúng tôi muốn làm bánh mứt cho trong nhà có không khí xuân, cho con cháu được dịp nấu bánh chưng, canh nồi bánh chưng đón giao thừa.Đêm đó tôi ngồi thức canh nồi bánh chưng, 3 giờ khuya mới chợp mắt. Tôi ngủ nơi phòng khách. Trong mơ hay không phải trong mơ, hay nửa mơ nửa tỉnh, tôi nghe tiếng than thở của nhiều người, âm thanh nhỏ nhỏ, xôn xao rúc rích. Lạ chưa, lại có tiếng thút thít, tiếng nhiều đứa con trai, con gái và trẻ con khóc. Tiếng khóc nhỏ lắm, vi vu như có như không. Ríu rít như tiếng loại côn trùng. Lúc đó tôi cho chỉ là chuyện huyễn hoặc trong mơ, tôi ngủ.Sáng, khi cánh cửa lá sách bằng gỗ trông ra. Một lúc sau sáng hơn, có lẽ bên ngoài một buổi sáng mùa xuân còn đứng chờ, chưa chịu đi vào phòng. Tôi đã thức, mở một con mắt rồi hai con mắt. Tôi trông thấy cành mai trắng toát! Tôi dụi mắt nhìn cho kỹ, ngẫm nghĩ, hay tại cái ánh sáng ban mai xanh xao từ cửa sổ chiếu vào làm cho những bông hoa thấy trắng lên. Tôi ngồi dậy mở đèn, ngọn đèn nê-ông thước hai rất sáng. Những bông hoa màu trắng. Tôi vẫn còn nghi ngờ. Hay vì ánh sáng ngọn đèn huỳnh quang không thực, nó đánh lừa mắt người? Tôi mở tung cửa sổ, ánh sáng và cả ánh nắng tràn vào. Trời ơi! Mai nở rộ trắng cành, thực đúng là “Cành mai trắng mộng” (tên một tập thơ của Vũ Hoàng Chương). Những đóa hoa như được cắt bằng giấy trắng, nhiều cánh trắng như bông. Đâu đó xôn xao tiếng người, tiếng xe cộ của người đi hái lộc đầu xuân.Tôi kinh ngạc về hiện tượng kỳ dị này. Ngay ngày đầu xuân tôi trở lại ngôi nhà ông cụ bán mai. Từ xa tôi đã trông thấy rất nhiều người chen chúc trước cánh cửa gỗ, nơi chiều qua tôi đưa ông cụ về. Tôi chen vào, thấy có treo tấm bảng báo tang. Đến đây tôi đã hiểu vì sao cành mai trắng mộng./.Quý Thể

Khoảng trống cuộc đời


  • Qua người bạn thân cùng lớp, tôi quen với gia đình bác Chấn, một gia đình gốc Tây học, giàu có và thế lực của miền Nam trước năm 1975. Bác có hai người con, một trai, anh Quang hơn tôi 3 tuổi, một gái, chị Yến hơn tôi 1 tuổi. Hai người con của bác đều theo học chương trình Tây. Sự quen biết của tôi với gia đình bác rất sơ sài, không bước xa hơn những lời chào hỏi xã giao thông thường hay vài câu hỏi tò mò về thân thế, gia đình và học hành của tôi trong những lần tôi theo người bạn đến nhà bác chơi. Sau này khi vừa xong tú tài, trong một lần ghé thăm bác Chấn, tôi được biết hai người con của bác đã đi du học tại Thụy Sĩ ngay sau khi tốt nghiệp bậc trung học Pháp tại Sàigon. Còn tôi không có điều kiện nên học đại học trong nước, sau khi tốt nghiệp xuống Cần thơ dạy học, tôi không có dịp nào đến chơi nhà bác Chấn nữa. Đầu năm 1974, trước khi nhận học bổng tu nghiệp ở Nhật Bản, tôi được người bạn cho biết bác Chấn trai đã bị mất vì ung thư. Bác gái vẫn sống với vài người cháu họ xa ở căn nhà khá lớn, sang trọng ngày xưa ở đường Ngô Tùng Châu rất gần với trung tâm Sàigon.Rồi với bao nhiêu đưa đẩy của thời cuộc, cuối năm 1979 tôi rời bỏ Nhật Bản vì tìm được việc làm đúng với chuyên môn ở thành phố Zürich, vùng nói tiếng Đức, miền bắc Thụy Sĩ. Sang Thụy Sĩ được khoảng một năm tôi lập gia đình với người bạn gái người Nhật mà tôi đã quen biết nhiều năm trong thời du học tại đó.Một lần vào năm 1983 gia đình tôi xuống Genève thăm người bạn, ngẫu nhiên tôi gặp được chị Yến, cô con gái của bác Chấn. Chị cho biết chị và anh Quang đã tốt nghiệp xong đại học Genève từ lâu. Cả hai đang đi làm, vẫn sống ở Genève, nhưng kẻ ở đầu tỉnh, người ở cuối tỉnh, lại bận rộn với công việc làm cho nên cũng rất ít gặp nhau. Chị Yến cũng cho biết cả hai vẫn chưa lập gia đình nhưng sống chung với người yêu đều là người Thụy Sĩ. Tôi cũng hơi ngạc nhiên vì cả hai đều đã xấp xỉ 40 tuổi mà vẫn độc thân, nhưng không dám thắc mắc vì có lẽ lối sống Tây phương là thế.Trong lần gặp nhau đó, tôi cho chị địa chỉ, số điện thoại của gia đình, ân cần mời chị và anh Quang nếu có dịp đến chơi, coi như tìm được người bạn xa xưa nơi xứ lạ quê người. Nhưng tôi có cảm tưởng chị không có vẻ hân hoan với lời mời vồn vã, chân thành của tôi lắm. Vô tình hay cố ý, chị cũng không cho tôi biết địa chỉ! Tuy nhiên tôi cũng chẳng bận lòng vì nghĩ họ đã sống và lớn lên với nền văn hóa Tây Phương từ ngày còn bé, sự lạnh lùng, cách biệt với những người không cần thiết là lẽ tự nhiên mà thôi.Chỉ có vậy, lần gặp nhau như thoáng qua, đã được quên đi dễ dàng. Bất thình lình, khoảng gần 2 năm sau ngày chúng tôi gặp nhau thoáng qua, nhạt nhẽo đó, tôi nhận được điện thoại của chị cho biết bác Chấn gái đã được anh em chị bảo lãnh sang đoàn tụ, hiện đang sống với chị ở Genève đã được khoảng một tháng rồi. Chị có nói với bác Chấn về gia đình chúng tôi, bác mong muốn mời gia đình tôi đến chơi để tâm sự. Đặc biệt trong cuộc điện thoại này chị rất thân thiện, thân thiện đến nỗi tôi có cảm tưởng chị năn nỉ chúng tôi đến chơi với mẹ chị, giúp bà vui mà quên đi nỗi nhớ quê hương khi chưa quen biết ai ở Genève.Sau đó, một buổi sáng sớm thứ bẩy cuối tuần,vợ chồng tôi lái xe xuống Genève, chúng tôi đến tạm trú nhà một người bạn cũng ở trong Genève, nghỉ ngơi, nói chuyện một lúc. Khoảng 2 giờ chiều chúng tôi mới đến nhà chị Yến thăm bác Chấn. Trong lần gặp gỡ này có cả anh Quang cùng với 2 người Thụy Sĩ là bạn trai và bạn gái của họ. Ngay khi bước vào nhà, sau vài câu chào hỏi thông thường, vợ chồng tôi đã nhận thấy ngay bầu không khí nặng nề giữa bác Chấn với 2 người con của bác cũng như với 2 người bạn trai gái của họ.Bác Chấn hoàn toàn bị tách xa trong cuộc sinh hoạt của hai người con và bạn của họ, dù ngôn ngữ Pháp với bác không thành vấn đề. Sau vài câu xã giao bình thường, nói chuyện vu vơ với chúng tôi, nhóm con của bác Chấn cũng tự tách rời. Họ nói chuyện, cười đùa, âu yếm nhau trước mặt chúng tôi, chẳng có tí ngại ngần rồi dẫn nhau vào phòng bên cạnh đùa giỡn trong âm thanh của âm nhạc khá ồn ào. Họ để bác Chấn tiếp đãi trò chuyện với chúng tôi. Bác Chấn có vẻ ngượng ngùng, nhưng chúng tôi cố làm ra vẻ không để ý, coi như chuyện bình thường của giới trẻ Tây phương. Chúng tôi ân cần mời bác lên nhà chúng tôi chơi bất cứ lúc nào, có thể ở với chúng tôi cả tháng trời cũng chẳng sao vì nhà khá rộng lại có vườn riêng để ăn uống ngoài trời. Bác tỏ vẻ rất cảm động với nhiệt tình của chúng tôi. Bác càng thích hơn khi thấy vợ tôi cầm chiếc áo len mà bác đang đan nửa chừng, tò mò xem ra chiều hiểu biết và đồng sở thích thêu thùa. Lúc sửa soạn ra về, vợ chồng tôi có ý gặp hai người con để chào từ giã, nhưng với tí chút ngần ngừ trong vẻ ngượng ngùng bác nói:– Thôi, các cháu cứ về đi, bác sẽ nói với chúng nó sau!Từ giã bác Chấn, chúng tôi trở lại nhà người bạn ngủ qua đêm, sáng hôm sau, ngày chủ nhật, sau khi ăn sáng với gia đình người bạn xong chúng tôi từ giã ra về. Chiều ý vợ, tôi lái xe đi một vài vòng thành phố Genève cho vợ tôi xem tí chút về thành phố, trước khi về lại Zürich. Đang lúc chạy xe tôi thoáng thấy bác Chấn ngồi ở chiếc ghế của một trạm xe bus. Dừng xe vào lề đường tôi chạy vội đến nói với bác:– Bác Chấn, bác đi đâu vậy? Bác lên xe cháu chở cho.Bác giật mình khi nhìn thấy tôi, nhưng ngay lúc đó cảm giác ngượng ngùng buồn bã hiện rõ trên khuôn mặt, trong ánh mắt khi bác nhìn tôi. Chẳng đợi cho bác trả lời tôi nói tiếp:– Cháu đang định chạy lòng vòng xem thành phố đây, bác đừng ngại gì cả, cứ lên cháu chở đi mà!Nói xong tôi cầm tay, kéo bác về hướng chiếc xe, nơi đó vợ tôi đang mở cửa xe chờ đợi. Ngần ngừ tí chút, nhìn tôi như gửi gấm nỗi buồn kín đáo, bác nói như muốn khóc:– Bác có muốn đi đâu đâu! Ở nhà buồn và cô đơn quá cháu ạ, chịu không được!  Ngày nào bác cũng ra ngồi ở các trạm xe bus, xe điện để nhìn người ta lên xe, xuống xe cho đỡ buồn đó mà thôi!Nghe bác nói, tôi ngẩn ngơ, nhìn bác trân trối! Câu trả lời của bác xót đau quá! Tôi có cảm nhận người đàn bà xấp xỉ tuổi 70 đang đứng tước mặt tôi có rất nhiều tâm sự buồn đau khó nói. Hình ảnh cuộc gặp mặt chiều hôm qua ở nhà cô Yến, con gái của bác lại hiện ra, trở về trong ký ức tôi! Tôi thoáng hiểu một phần nào nỗi buồn, cô đơn của bác. Nhân dịp gặp lại trong ngẫu nhiên này tôi muốn được nghe bác tâm sự, biết đâu tôi lại tìm được điều gì đó giúp bác giảm được nỗi buồn mà bác đang chất chứa trong lòng ?! Nghĩ như vậy, tôi thân thiện khoác tay lên vai bác, khẩn khoản tôi nói:– Bác cháu mình tìm một quán nước nào đó nói chuyện đi! Bác đừng ngại ngần gì cả, ngày hôm qua cháu muốn nói chuyện với bác nhiều mà chưa hết.Hình như sự nhiệt lòng của tôi và cũng có lẽ vì quá buồn, bác im lặng đi theo. Sau một lúc chạy lung tung, chúng tôi vào một quán nước bên ngoài hành lang của một khách sạn trên đại lộ Quai du Mont Blanc, bên kia đường là hồ nước Lehmann. Bầu trời trong xanh, ánh sáng ban mai chiếu rọi lên mặt hồ nhấp nhô tạo ra những dải sáng lấp lánh tuyệt đẹp của một buổi sáng nắng tốt. Bác Chấn đã khóc gần như suốt thời gian ngồi kể cho tôi nghe về lý do của bác khi lựa chọn rời xa VN, sang Thụy Sĩ định cư. Một lựa chọn mà bác nghĩ rằng đã sai lầm, đang làm cho bác buồn đau vì cô đơn.Bác cho biết, với lời khuyên nhủ rất hợp lý, chân tình của hai con, bác đã bán căn nhà của mình ở trong nước, tiền bán nhà cùng với tất cả tiền bạc,nữ trang mà bác đã dành dụm từ khi mới kết hôn, bác đã giúp 2 con, mua cho mỗi người một căn hộ ở Genève. Căn hộ mà chúng tôi đến thăm hôm qua là của Yến. Một căn khác cho Quang, nhưng đến nay dù đã hơn một tháng ở Thụy Sĩ nhưng bác vẫn chưa có dịp đến xem nó ra sao!Trước khi rời bỏ quê hương sang Thụy Sĩ, bác nghĩ rằng, tuổi đã già, bệnh hoạn, sống chết không biết lúc nào, vì vậy nếu được sống với chính con của mình là một điều rất hợp lý, vẫn hơn sống với những đứa cháu họ ở Việt Nam. Đã thế bác nghĩ với khả năng thông thạo tiếng Pháp, có lẽ bác chẳng khó khăn trong việc giao tế với người địa phương. Thêm vào đó với sở thích đọc sách báo, thêu thùa cũng sẽ giúp bác che lấp được những lúc nhàn rỗi, cô đơn khi các con đi làm. Với ý nghĩ lạc quan như vậy bác đã chờ đợi từng ngày được ra đi đoàn tụ với hai con. Nhưng khi đến Thụy Sĩ, chỉ sau một tuần lễ đầu tiên bác đã nhận thấy mình sai lầm! Cái sai lầm ra ngoài tưởng tượng, tính toán của bác.Dù thích đọc sách,thích thêu thùa nhưng bác chẳng có được hứng thú mà làm được như mong muốn!Bác được Yến, người con gái mà bác thương yêu nhất, đón về sống chung. Mấy ngày đầu tiên, Yến nghỉ làm việc, dẫn bác đi lo giấy tờ hành chánh, bảo hiểm sức khỏe đồng thời chỉ dẫn bác cách mua vé, xử dụng các phương tiện giao thông công cộng như xe bus, xe tram của thành phố. Yến cũng không quên hướng dẫn bác xử dụng các máy móc trong nhà như máy giặt, máy sưởi cùng với những việc làm trong tập thể chung cư.Mấy ngày đầu tiên còn bận rộn với những học hỏi, làm quen với cuộc sống mới nơi xứ lạ quê người,bác không có thời gian để cảm thấy cô đơn. Nhưng chỉ một tuần sau,mọi hoạt động đã được đưa vào thứ tự và đều đặn. Buổi sáng Yến vội vàng đi làm,chiều tối về nhà, mệt mỏi nên cô ta chẳng có thì giờ và hứng thú để nói chuyện với bác ngoài vài câu hỏi sức khỏe vu vơ. Đã thế Yến thường về với người bạn trai, họ lại quây quần với nhau trong phòng riêng, chẳng thèm để ý đến bác. Bác sống im lìm như một chiếc bóng thừa thãi trong căn hộ.Mấy ngày đầu tiên, có lẽ vì món ăn lạ hay nể nang công lao nấu nướng của bác, Yến và người bạn trai còn về nhà ăn cơm tối.Nhưng chỉ được vài ngày, họ chẳng còn thú vị với món ăn của bác nữa. Yến nói với bác đừng nấu cơm cho họ, họ tự lo được. Từ đó Yến và bạn trai thường ăn cơm ở đâu đó trước khi về nhà khá muộn. Thỉnh thoảng Yến mua đồ ăn nguội, rượu bia mang về bày ra bàn, ăn uống, nói chuyện cho đến khuya rồi chẳng thèm thu dọn. Sáng hôm sau khi thức dậy, nhìn thấy đống bát đĩa bác lại phải lau chùi, thu dọn! Không nói ra nhưng bác Chấn đã có cảm tưởng mình là người hầu hạ trong nhà, không còn là người mẹ được con đón sang để phụng dưỡng nữa. Còn anh Quang, con trai của bác, thỉnh thoảng cùng với cô bạn gái đến chơi, thoáng qua một vài giờ đồng hồ nói chuyện vu vơ với bác rồi từ giã ra về, cũng chưa một lần nào chở bác đến nhà để biết cuộc sống của anh ra sao!Đôi lần thấy bác buồn, than van với các con là cô đơn không bạn bè… Yến khuyên bác hãy làm theo lối giải trí, tìm vui của người Thụy Sĩ khi về già, không có việc gì làm. Họ tìm cách tránh thời gian rảnh rỗi, cô đơn bằng cách mua vé tháng của thành phố cho xe bus, xe tram… rồi sáng đi, tối về. Ngày ngày dùng phương tiện giao thông đi từ phố này, sang phố kia ngắm nhìn người ta buôn bán ở các siêu thị hay các công viên của thành phố… Buổi trưa hay lúc mệt mỏi thì tạt vào những nhà ăn bình dân rẻ tiền trong các siêu thị uống cà phê hay ăn trưa. Nghe lời đề nghị của cô con gái, bác đã hình dung khá rõ con đường sống của mình sẽ ra sao nếu còn sống nơi đây. Bác chợt hiểu ra rằng hai đứa con của bác thật sự đã là dân Thụy Sĩ rồi, chúng sống, chúng suy nghĩ và chúng giải quyết theo xã hội, con người Thụy Sĩ. Chúng không thể nào nhìn thấy hay cảm thấy nỗi buồn, cô đơn của bác được nữa. Nói đến đây, bác Chấn ngước nhìn tôi với đôi mắt nhòa lệ, buông tiếng thở dài buồn bã bác than thở:– Có lẽ bác phải về lại VN cháu ạ, sống ở đây chắc bác sẽ chết vì cô tịch mà thôi. Mấy ngày trước bác có liên lạc với tòa lãnh sự VN ở Genève để hỏi về việc hồi hương. Theo bác không khó khăn lắm, nhưng cần nhiều thủ tục để lấy lại hộ khẩu của bác ở VN và nhất là chứng minh được sự bảo đảm về tài chánh cho sự sinh sống của bác khi hồi hương. Thấy tôi im lặng, bác buồn rầu nói tiếp:– Hiện nay bác chẳng có gì ở VN nữa, nhà cửa đã bán, tiền bạc, nữ trang cũng không còn. Bác đúng nghĩa một người nghèo, già lão đơn độc nếu về lại quê hương thì sống làm sao đây?Tôi buột miệng hỏi:– Tại sao bác không nói với anh Quang, chị Yến trả lại cho bác một ít tiền để có thể về VN sinh sống? Theo cháu biết thì không cần quá nhiều đâu vì cuộc sống và nhà cửa ở VN vẫn còn rất rẻ.Lắc đầu ra vẻ thất vọng, bác cho biết tiền bán nhà, bán nữ trang vừa rồi rất lớn so với xã hội VN nhưng có đáng bao nhiêu so với Thụy Sĩ! Bác đã chia cho hai con để giúp chúng mua nhà, theo bác biết thì 2 người con cũng còn phải mượn ngân hàng hơn một nửa mới có đủ tiền để mua 2 căn hộ. Hiện nay tiền lời ngân hàng cùng với chi phí dịch vụ cho chung cư như thang máy, điện nước, lau chùi, cắt cỏ, xúc tuyết, làm vườn… tất cả không phải nhỏ, chẳng thua gì tiền đi thuê nhà. Bác cũng đã bàn với 2 con để trả lại bác một số tiền cho bác mua một căn nhà nhỏ ở VN, nhưng coi vẻ không được vì chúng vẫn phải trả nợ ngân hàng mỗi tháng, chẳng dư dả để đưa cho bác được! Đã thế khi về VN tiền sinh sống, thuốc thang, bệnh viện khi ốm đau cũng không thể coi là chuyện bỏ qua mà không tính toán được!Nhẩm tính lại cuộc sống ở VN, tôi nói với bác:– Theo cháu nghĩ nếu hai người con của bác giúp bác mỗi tháng 200 quan Thụy Sĩ (thời điểm 1986) chắc bác sống không khó khăn lắm đâu!Bác Chấn mỉm cười với tí cay đắng, bác trả lời:– Cháu tưởng đơn giản như thế sao? Giả dụ mà chúng nó gửi cho bác 200 quan mỗi tháng thì cũng chỉ đủ cho sinh sống bình thường mà thôi. Còn lúc ốm đau, chi dụng cho việc thuê nhà, cho người quen, họ hàng để người ta vui vẻ mà săn sóc cho mình làm sao mà đủ?! Tuổi già của bác đâu có thể sống độc lập được, mà phải dựa vào người khác, nhất là lúc ốm đau. Dù là họ hàng, quen biết cũng phải có tiền cháu ạ! Không dễ dàng và đơn giản như cháu nghĩ đâu!Nghe bác tâm sự, tôi đã đã tạm hiểu hoàn cảnh của bác. Đúng như vậy, cái sai lầm lớn nhất là bác đã bán nhà, thu dọn tài sản để gửi cho con mong được sống gần con. Điều này nghe ra nó đơn giản và hợp lý như thói thường của gia đình văn hóa VN. Nhưng với hai người con của bác, nếp sống, sự suy nghĩ của văn hóa Tây phương đã thấm sâu vào con người họ, nó không còn là đơn giản nữa! Tìm một giải quyết cho bác không dễ dàng, họa chăng một hay cả hai người con bác biết cảm thông nỗi cô đơn, buồn bã của mẹ mà chính họ tìm cách giúp đỡ mà thôi. Bác không nói ra, nhưng tôi có cảm tưởng 2 người con bác không như bác chờ mong.Trước khi chia tay tôi ân cần nhắc lại lời mời của gia đình tôi, bất cứ lúc nào bác có ý muốn đến nhà tôi chơi nhiều tuần, vài tháng, hoàn toàn không có gì khó khăn. Hình như nhìn rõ sự chân thành của tôi, bác vuốt nhẹ bàn tay vợ tôi mỉm cười và hỏi vợ tôi:– Cháu có phiền lòng nếu bác đến nhà cháu chơi không?  Dù ngôn ngữ VN chỉ hiểu lõm bõm, nhưng vợ tôi cảm nhận hoàn toàn ý nghĩa lời nói của bác qua ánh mắt, khuôn mặt và cả dáng điệu chân thành trong giọng nói, nụ cười của bác. Vợ tôi đưa tay ra dấu thêu đan, lõm bõm câu tiếng Việt:– Bác cứ đến chơi đi, có nhiều việc làm với nhau lắm, bác đừng lo! Có lẽ đây là lần đầu tiên trong cuộc gặp gỡ bác hôm qua và cả hôm nay, tôi mới nhìn thấy nỗi buồn bã biến mất trên nét mặt của bác. Thay vào đó là niềm vui thoáng hiện trong ánh mắt, nụ cười của người đàn bà xấp xỉ 70 tuổi mà tôi cũng chỉ quen biết thoáng qua trong quá khứ….Trở về lại Zürich đã cả tháng trời, tôi cũng chẳng có dịp liên lạc với bác nữa.Đôi lúc trong lúc thảnh thơi tôi cũng nghĩ đến bác. Tôi cho rằng với thời gian bác sẽ làm quen với những người VN khác, rồi cũng giống như mọi người, đâu cũng vào đó mà thôi. Nhưng bất thình lình vào buổi tối khi tôi đang ăn giở bữa cơm thì bác gọi đến. Với giọng nói thều thào, chứa đầy buồn bã, chán nản bác cho biết hiện đang ở bịnh viện đã gần một tuần lễ nay. Tôi hỏi lý do, bác không nói rõ ràng lắm nhưng có lẽ liên quan đến tim mạch lại thêm bị trầm uất vì buồn bã, cô đơn mà ra. Bác khóc qua điện thoại cho biết hai người con chỉ đến thăm bác một lần duy nhất vào ngày đầu tiên, sau đó vì bận rộn họ chỉ điện thoại hỏi thăm mà thôi. Tôi buông tiếng thở dài, nói vài câu an ủi bác, hứa sẽ chở vợ đến thăm bác vào ngày mai hay ngày kia! Có lẽ cảm nhận được ý nghĩa tiếng thở dài của tôi trong điện thoại, bác nói rất nhẹ: – Cám ơn vợ chồng cháu, biết là làm phiền cháu nhưng bác muốn gặp lại các cháu lắm. Vợ chồng cháu cố đến với bác lần nữa nhé! Chắc bác không có dịp gặp lại vợ chồng cháu nữa đâu!Tôi nghe mà rụng rời, tưởng như bác muốn gặp chúng tôi để nói lời trối trăn! Tôi nói vài câu an ủi, nâng đỡ tinh thần bác rồi tôi hứa chắc ngay ngày mai sẽ xin nghỉ làm một ngày đến thăm bác.Xế chiều hôm sau vợ chồng chúng tôi đến bệnh viện của tỉnh, căn phòng khá rộng có 4 bệnh nhân. Chúng tôi đã giật mình đến độ nghi ngờ thị giác của mình khi nhìn thấy bác xơ xác nằm như đang ngủ. Chỉ hơn một tháng trời mà sắc diện của bác thay đổi quá mau! Khuôn mặt tái xanh, hốc hác như người bệnh lâu năm, cơ thể như bị thu nhỏ lại nằm ép dính xuống tấm nệm của chiếc giường! Cánh tay trái khẳng khiu, tái xanh thò ra ngoài chiếc chăn, được nối với sợi dây truyền serum treo lủng lẳng trên chiếc giá bằng alumin trắng. Tôi nhẹ nhàng nắm lấy cổ tay xương xẩu của bác,bác giật mình tỉnh dậy. Nhìn thấy chúng tôi, sự vui mừng, cảm động hiện rõ trên khuôn mặt già nua trắng bệch. Bác gật đầu nhẹ, đáp lại lời chào hỏi của vợ chồng tôi, rồi thều thào:– Cám ơn hai cháu đã đến thăm bác,mời hai cháu ngồi!Bác cho biết mấy ngày trước tự nhiên bị mệt mỏi,chóng mặt rồi bị xỉu, ngã ngay ở trong bếp vào ban đêm. Yến nghe tiếng động của chiếc ghế bị đổ, chạy ra mới biết và chở bác đến bệnh viện. Qua kiểm nghiệm bác sĩ cho biết do chứng suy tim đã có từ trước kèm theo thận hoạt động không bình thường gây tắc trách sự tuần hoàn dẫn đến chứng lậm độc máu.Sau vài giờ đồng hồ tâm sự, bác kể cho chúng tôi nghe những ngày tháng cô độc, buồn chán càng lúc càng đè nặng lên bác vừa qua. Tôi lắng tai nghe nhưng cũng chỉ biết khuyên nhủ để nâng đỡ tinh thần bác mà thôi. Chúng tôi ở với bác mãi đến buổi chiều, khi từ giã, bác nói với vợ chồng tôi trong nước mắt:– Chắc bác và vợ chồng cháu không còn có dịp gặp lại nhau nữa đâu! Dù thế nào thì bác rất cảm động với lòng tốt của các cháu đã vì thương bác mà nghe tất cả những lời tâm sự của bác. Bác cũng không ngờ cuối đời mình lại cô độc và buồn đau như thế này. Con của bác vì bận rộn hay vì vô tâm mà quên săn sóc bác. Biết làm sao hơn là im lặng! Nhưng ít ra vào lúc cuối đời này bác cũng có một niềm vui đó là có hai cháu để hàn huyên, tâm sự…Bác nói với chúng tôi nhiều lắm, toàn là những câu nói đượm buồn và kín đáo than van! Tôi có cảm tưởng tinh thần bác hoàn toàn suy sụp, buông xuôi. Nỗi chán nản cùng cực của bác không những thể hiện trên khuôn mặt mà còn trong những lời nói như trăn trối với vợ chồng tôi. Tôi cố gieo vào bác lòng tin về tài năng của y học Thụy Sĩ, họ sẽ mang lại cho bác sức khỏe và niềm vui. Tôi hứa chắc chắn khi bác khỏe mạnh tôi sẽ xuống chở bác lên chơi với gia đình tôi vài tháng. Bác nghe lời hứa của tôi trong trạng thái bâng quơ hình như kín đáo che giấu sự thất vọng ở trong lòng.Sau khi từ giã ra về, tôi tạt vào phòng y tá trực của dẫy phòng bác nằm,ý định gặp người y tá nào đó nói với họ vài lời cám ơn, nhân tiện nhờ họ thông báo cho tôi biết ngay nếu có gì cần thiết. Thật may, tôi gặp được cô y tá trưởng, biết nói tiếng Đức,nhờ vậy mà vấn đề giao tiếp, nhờ vả của tôi dễ dàng hơn. Tôi cũng chẳng ngần ngại nói rõ với cô ta sự thật về hoàn cảnh không vui của bác cùng với sự nhạt tình, thiếu săn sóc của hai người con. Tôi mong cô ta cảm thương nỗi cô tịch của bác mà đặc biệt quan tâm. Tôi cũng không quên đưa cho cô ta số điện thoại, ân cần xin cô ta báo tin cho tôi biết ngay, bất cứ giờ nào, ban đêm hay ban ngày nếu có gì bất trắc, để tôi kịp đến thăm viếng hay giúp đỡ bác nếu cần.Trở về nhà, vừa được 2 ngày, vào buổi sáng khi đang sử soạn đi làm thì cô y tá trưởng từ bệnh viện Genève gọi đến. Tôi giật mình, linh cảm có gì không may xẩy đến cho bác rồi. Cô ta cho biết bác hiện đang ở khoa cấp cứu, trong tình trạng tuyệt vọng! Với tí chút ngập ngừng cô ta cho biết đêm hôm qua vào khoảng nửa đêm, khi mọi người an ngủ, bác đã dùng kéo cắt đứt sợi dây truyền serum, rồi để nguyên mũi kim trong mạch máu ở khủy tay cho máu chẩy ra ngấm vào chăn và đệm! Khi người y tá trực đêm biết thì bác đã rơi vào hôn mê. Bác sĩ khoa cấp cứu cho biết rất khó hy vọng cứu chữa vì bệnh nhân đã bị sẵn bệnh về tim mạch lại bị mất máu nên cơ thể rất yếu. Theo cô ta, nếu tôi đến bệnh viên trước buổi trưa hy vọng có thể gặp được bác lần cuối cùng.Dù bị vướng bận với việc làm, nhưng tôi cũng xin nghỉ, lái xe một mình xuống Genève hy vọng gặp được bác thêm một lần nữa. Trên đường đi, tôi cầu mong sự kiện không phải quá bi đát như lời cô y tá nói với tôi.Đến Genève,người đầu tiên tôi tìm gặp là cô y tá, cô ta cho biết bác đã mất ngay sau khi cô ta điện thoại cho tôi, hiện đang nằm ở một phòng riêng gần khu nhà xác của bệnh viện để làm thủ tục cần thiết trước khi đưa vào nhà xác của bệnh viện. Tôi thẩn thờ khi biết mình đến quá chậm để không gặp được bác lần cuối cùng! Mở cửa bước vào căn phòng nhỏ ở cuối hành lang của dẫy nhà phụ được tách biệt với khu vực chính của bệnh viện,chỉ có một chiếc giường duy nhất trên đó bác Chấn đang nằm. Cặp mắt của bác nhắm lại, bình thản như đang trong giấc ngủ! Chỉ có khác là khuôn mặt của bác hốc hác làm cho đôi gò má nổi hẳn lên giữa màu xám, tái xanh xấu xí của làn da mặt. Tôi im lặng đặt nhẹ bàn tay lên thân thể, lên cánh tay xương xẩu của bác như muốn cảm nhận rõ hơn cái lạnh lẽo của cơ thể cũng như nỗi buồn đau, cô độc của tâm hồn bác lúc ra đi.Cũng chính lúc đó, lời tâm sự của bác mấy ngày trước khi vợ chồng tôi đến thăm bác ở bệnh viện hình như vang nhẹ bên tai tôi: Bác đã lầm lẫn chọn lựa! Cái lầm lẫn đã làm cho bác mất tất cả!Mất nhà cửa,mất tiền bạc nữ trang và có lẽ mất cả hai đứa con của bác nữa! Bác đã không thể hình dung ra cuộc sống xa quê hương nó lại mang đến cho bác thất vọng và buồn đau đến như thế! Nhưng ân hận cũng đã muộn, chẳng còn giải quyết nào khác hơn là phải chấp nhận những ngày tháng cô liêu đang đến. Nhưng bác tự hỏi bác có can đảm để chấp nhận nó suốt cuộc đời còn lại của bác hay không? Tôi đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ, bên ngoài ánh nắng hoàng hôn đổ dài trên con đường trải đá sỏi trong khung viên của bệnh viện.Vài con chim nho nhỏ chuyền nhẩy trên cành cây làm rung động những bông hoa cuối mùa đã khô vì nắng gió còn sót trên những đọt cây… Không gian thật vô tư, im lặng, chẳng có gì khác lạ để cảm thương cho một người mẹ đã vượt xa biết bao nhiêu khoảng cách trời đất, rời bỏ quê hương đến nơi đây với hy vọng được sống gần những đứa con, tìm cho mình một niềm vui đoàn tụ. Nhưng cuối cùng phải mang lấy nỗi buồn đau, cô tịch mà về với hư vô!Switzerland, Zuerich, 19/10/2024Lưu An Vũ Ngọc Ruẩn

Chuyện Biệt Kích


  • Image en ligne

    Ngày 2/5/1968, toán biệt kích do Trung Sĩ Nhất Leroy Wright làm trưởng toán đã xâm nhập vào vùng Lưỡi Câu. Thành viên của toán còn có Trung sĩ Lloyd “Frenchie” Mousseau, Brian O’ Conner cùng 9 biệt kích Nùng.Toán biệt kích xuất phát từ căn cứ Quản Lợi vào một buổi sáng. Trung sĩ nhất Roy Benavidez là bạn của Leroy Wright đã ra tiễn đưa, với lời chúc thành công. Thế nhưng, khi toán vừa đáp đất đã chạm trán ngay lập tức với lực lượng đối phương đông đảo là bọn giặc cướp cộng phỉ Bắc Việt xâm lược và buộc phải quay trở lại trong lúc đối phương đuổi theo sát nút và xử dụng hỏa lực dữ dội để kềm chế không để cho các biệt kích quân ngóc đầu dậy. Đồng thời, địch quân bắn đuổi những chiếc trực thăng cấp cứu ra chỗ khác. Một trực thăng vũ trang trúng đạn, rơi xuống thành đống sắt vụn. Đối phương tăng quân bao vây toán biệt kích đang nằm chịu trận dưới trận mưa của các loại hỏa lực như súng cối, B40, AK47… Bỗng một loạt đạn AK trúng đầu Wright, anh ta ngã ra chết ngay tức khắc. Mousseau và O’Connor cùng bị nhiều vết thương. Còn tất cả những biệt kích quân Nùng cũng đều trúng đạn, kẻ chết, người bị thương nằm la liệt. Toán biệt kích chỉ còn nước chờ bị xóa sổ.Cùng thời điểm trên, tại một túp lều dã chiến trong căn cứ hành quân tiền phương Quản Lợi, Roy Benavidez lắng nghe những lời đàm thoại qua máy truyền tin, điện đàm giữa các phi công trực thăng vũ trang và phi công lái máy bay quan sát điều hành không quân yểm trợ (FAC). Roy Benavidez rất sốt ruột, lo lắng cho các chiến hữu của mình. Leroy Wright, Mousseau, Brian O’Connor và cả những biệt kích Nùng đều lâm nạn.Một lữ đoàn của Sư Đoàn Bộ Binh số 1 “Anh Cả Đỏ” đang hành quân gần đó, nhưng họ không được phép vượt biên sang Campuchia. Một toán cấp cứu Bright Light cũng không có. Phải làm gì đây? Roy Benavidez đứng ngồi không yên.Bị mất nhiều máu, Brian O’Connor đuối dần. Anh nghe như tiếng trực thăng đang đến, nhưng không di chuyển được. Khi chiếc trực thăng vừa chạm đất, Roy Benavidez xách túi đựng dụng cụ y tế nhảy xuống và chạy thật nhanh vào bụi rậm, nơi các biệt kích SOG nằm la liệt.Roy tình nguyện một mình đi cứu toán biệt kích. Đối phương trông thấy chiếc trực thăng đáp xuống liền bắn ra tới tấp. Một viên trúng vào đùi Roy, anh vẫn tiếp tục chạy, không dám dừng lại. Vào đến vị trí toán biệt kích, Roy quan sát thật nhanh xung quanh: Wright đã chết, Mousseau trúng đạn vào đầu, nằm thẳng cẳng nhưng chưa chết, O’Connor bị thương nhưng vẫn còn bò lết được. Roy Benavidez băng bó cho bạn, chia số đạn còn lại cho những người bị thương để bắn cầm cự. Roy lãnh thêm 1 viên AK nữa vào đùi phải trong lúc chỉ điểm cho trực thăng oanh kích và để đưa những người sống sót ra. Khi chiếc trực thăng đã hạ cánh, Roy đưa khẩu AK cho O’Connor, còn mình thì vác theo xác Wright. Một viên AK khác trúng vào phổi, Roy đổ xuống, choáng váng. Chiếc trực thăng trúng đạn súng cối, gục đầu xuống, cả viên phi công và người xạ thủ đại liên đều chết.Roy cố lết lại chiếc trực thăng, giúp những người sống sót ra khỏi máy bay, trước khi nó bốc cháy. Roy tiếp tục chỉ điểm cho phản lực Phantom F4 oanh kích và lĩnh thêm 2 viên đạn AK nữa. Trong lúc đó, đối phương bắn rơi thêm một chiếc trực thăng Gunship nữa.Rồi một chiếc Huey khác vào bãi đáp, trên chiếc trực thăng có Trung sĩ quân y Ronald Samsons, anh giúp Benavidez kéo, dìu phi hành đoàn chiếc trực thăng trúng đạn, xác biệt kích quân lên máy bay. Trên đường về, Benavidez bất tỉnh vì mất nhiều máu và kiệt sức. Mouseau chết vì vết thương ở đầu quá nặng. Wright đã chết trước đó.Về sau họ được truy tặng huân chương Ngoại Hạng (Distinguish Service Cross). Benavidez nằm bệnh viện gần một năm, điều trị 7 vết thương đạn AK, cộng 28 mảnh B40, cối 60 ly của đối phương. Roy Benavidez liều mạng cứu 8 người, nhưng chẳng hiểu sao không hề được thưởng công. Người ta chỉ giải thích do giấy tờ bị thất lạc.13 năm sau, khi đã về hưu, Thượng Sĩ Roy Benavidez mới được máy bay quân đội chở đến Washington để Tổng Thống Reagan gắn huy chương Danh Dự (Medal of Honor).Sau ngày Roy Benavidez cứu toán biệt kích ở Campuchia trong tháng 5/1968, toán Alabama mới xâm nhập lãnh thổ Lào,cách thung lũng A Shau 15 dặm, họ gắn máy nghe trộm các cuộc điện đàm của đối phương. Trưởng toán là Trung sĩ John Allen, ngoài ra thành viên của toán còn có Kenneth Cryan, Paul King và 6 biệt kích Nùng.Toán Alabama xâm nhập vùng và nghi ngờ có 1 sư đoàn Bắc Việt. Đơn vị này rút qua Lào khi Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận số 1 của Mỹ mở cuộc hành quân càn quét khu vực chung quanh thung lũng A Shau.Khi chuẩn bị thả toán biệt kích gần đến bãi đáp, Allen trông thấy hầm hố, công sự phòng thủ của đối phương dưới rặng cây, nhưng không thấy bóng dáng quân Bắc Việt tại địa điểm thả toán. Allen bèn ra hiệu đáp xuống và toán biệt kích bắt đầu thực thi nhiệm vụ. Họ di chuyển khoảng 1 tiếng đồng hồ.Với kinh nghiệm của 20 chuyến xâm nhập ở Lào, một chuyến Bright Light xuống miền Bắc Việt Nam và giác quan thứ 6 mách bảo, Allen ra hiệu cho toán phó Ken Cryan biết: “Có điều gì đó không bình thường, ngửi mùi cũng biết chuyện đó”. Allen cùng một biệt kích Nùng tiến tới đằng trước quan sát. Hai người lên trước khoảng 250 thước, họ trông thấy khoảng đất rộng đã được dọn dẹp, những nhánh cây cao trên đầu được cột lại, che giấu khoảng đất trống ở dưới. Ở giữa có một căn nhà làm bằng tre. Rõ ràng đây là sở chỉ huy của đối phương, có những tên lính Bắc Việt ra vào. Xa hơn chút nữa có đường hầm rộng đủ 2 người cùng đi, đào sâu vào trong núi.Allen chụp mấy tấm ảnh rồi lùi về chỗ toán biệt kíchAlabama.Toán phó Ken Cryan cho biết có vài tên lính Bắc Việt vừa đi ngang qua. Allen quyết định “cắt đuôi”, rồi cả toán nghe tiếng hô, tiếng lùng sục trong các bụi rậm trên đường họ vừa di chuyển qua. Toán biệt kích chạy thoát. Vài phút sau, người biệt kích dẫn đường đưa toán băng qua một con đường mòn, có lẽ dẫn tới sở chỉ huy. Âm thanh truy lùng toán biệt kích chỉ cách họ chừng 50 thước, Allen quyết định tăng tốc độ di chuyển. Họ băng qua một đường mòn nữa, nghe tiếng gọi nhau của đối phương ở cánh phải và cả tiếng trả lời phía sau. Toán biệt kích chạy hết sức lực lên ngọn đồi, để lại phía sau những tràng súng AK nổ vang dội núi rừng. Một biệt kích đáp lại bọn địch bằng tràng CAR15. Cryan quỵ xuống ôm lấy đùi bên phải, Allen chạy lại xốc nách Cryan dìu đi, mặc cho Cryan yêu cầu hãy chạy đi, để anh ở lại. Một biệt kích Nùng trúng 1 viên AK vào ngực, gục xuống đất chết, cũng được đồng đội cõng theo.Trong khi Paul King gọi máy bay cấp cứu, Allen tìm chỗ để phòng thủ. Anh thấy một hố bom cách chừng 50 thước trên đường lên núi, bèn ra lệnh cho các thành viên bắn yểm trợ. Allen dìu Cryan di chuyển đến hố bom, bộ phận còn lại theo sau. Allen trải tấm panel màu cam giữa lòng hố bom, đánh dấu vị trí toán biệt kích để Paul King gọi phi cơ đến ứng cứu. Người biệt kích Nùng đã chết, Cryan trúng đạn vỡ xương đùi khiến anh đứng lên không nổi. Có lẽ phải cưa chân. King chích morphin cho Cryan, đủ cho anh đỡ đau và tỉnh táo. Allen cùng những biệt kích còn lại chuẩn bị công sự phòng thủ xong thì bọn cộng sản bắc việt xuất hiện đông như kiến, tiến lên đồi. Nhờ vị trí trên cao, toán biệt kích ném lựu đạn xuống khiến đối phương phải lui lại. Đúng lúc đó, King gọi Allen: “Đã có phi cơ FAC lên vùng” và đưa máy cho Allen liên lạc. Khi King bước ra miệng hố thay cho Allen thì gần như ngay lập tức, 1 viên AK bắn trúng đầu King khiến anh ngã ra chết ngay tức khắc. Toán Alabama giờ đã có 2 người chết.Máy bay quan sát chỉ điểm cho những chiếc phi tuần đánh bom nhằm đẩy lui quân Bắc Việt ra xa. Thế là hết Phantom F4 đến lượt Super Sabres F100, lại đến A1 Skyraider, rồi trực thăng đến. Nhưng viên phi công non gan, không dám xuống, mặc dù Allen đã trải panel, đánh dấu vị trí toán biệt kích và đưa tay ra hiệu. Lòng vòng một hồi, chiếc trực thăng phải bay về vì hết nhiên liệu, hẹn hôm sau sẽ trở lại (!) Toán Alabama đành phải đợi đến sáng hôm sau. Đêm đó, họ phải chiến đấu suốt đêm, thêm một biệt kích Nùng nữa bị thương nhẹ.Sáng hôm sau, quân Bắc Việt vẫn tiếp tục bò lên tấn công, bỗng có 1 tiếng nổ lớn rung động hố bom. Allen định thần nhìn quanh, toán Alabama 9 người lúc xâm nhập giờ đây chỉ còn lại anh và 1 biệt kích Nùng, còn tất cả đều thương vong, nằm la liệt trong hố bom.Đêm qua, bọn cộng phỉ bắc việt đã đem rất nhiều súng máy phòng không 12 ly 7 và 37 ly đến xung quanh khu vực toán biệt kích. Bọn chúng biết thế nào máy bay Mỹ cũng sẽ đến ứng cứu, nên đã chuẩn bị trận địa. Đúng như dự đoán, một chiếc Phantom bị bắn rơi, những chiếc khác lo tìm cách tiêu diệt hỏa lực phòng không của đối phương. Đến chiều, trực thăng cấp cứu CH-53 Jolly Green đến bốc toán Alabama. Do sườn núi dốc, chiếc CH-53 không đáp đất được đành phải thả dây cấp cứu xuống. Allen đặt Cryan lên một dây, dây bên kia cho một biệt kích Nùng ngồi vào, rồi chào: “Hẹn gặp ở Phú Bài”.Chiếc CH-53 từ từ bốc lên, một rừng đạn AK của bọn cộng sản Bắc Việt bắn đuổi theo trúng cả hai, máu của cả hai nhỏ xuống mặt Allen, chiếc trực thăng hốt hoảng bay đi luôn. Quân Bắc Việt vẫn bắn theo, nhằm vào đám biệt kích chứ không phải trực thăng. Hai xác chết xuôi tay, nhưng vẫn còn dính dây cấp cứu nên được trực thăng đem đi.Allen nổi điên, chửi thề um sùm và nói với FAC là sẽ tìm đường khác. Viên phi công lái FAC rất bình tĩnh hỏi lại: “John, anh định tìm đường nào?” John Allen lấy thêm đạn từ những biệt kích đã chết, rồi ra khỏi hố bom, chạy như bay xuống núi. Quân Bắc Việt bất ngờ nên không kịp bắn đuổi theo. Chạy được một quãng, John Allen gọi FAC:- Tôi đã ra khỏi, trực thăng có chưa?- Tôi vẫn theo bạn, sẽ có Kingbee đến đón.- Còn mấy ông bạn của tôi thì sao?- Y tá nói họ Ok! Họ Ok! (viên phi công FAC nói dối, để trấn an Allen).Cuối cùng, chiếc Kingbee do phi công của Phi Đoàn 219 huyền thoại của Không Quân VNCH lái đã đến bốc được Allen đưa về căn cứ hành quân tiền phương Phú Bài. Đến lúc này người ta mới biết Cryan và người biệt kích Nùng lĩnh mỗi người 30 viên đạn AK vào người khi chiếc trực thăng CH-53 đến bốc họ.Cuối cùng, toán biệt kích Alabama chỉ còn mỗi mình Allen sống sót. Ngay cả biệt kích quân ngồi sau ghế phi công của chiếc FAC là Trung Sĩ Nhất John Robertson, cũng chết 15 ngày sau, khi đi theo Phi Đoàn 219 Kingbee huyền thoại ứng cứu trong một phi vụ, cách toán Alabama xâm nhập trước đó khoảng 10 dặm.
    Nguyễn Phúc An Sơn st 

ĐƯỜNG CHIM HẠ LÀO


  • Vào một buổi sáng, Sai gòn còn chìm trong màn sương mai mỏng, tất cả chúng tôi gồm 10 người thuộc SĐ4 và SĐ3 KQ tề tựu đông đủ trước phòng Đặc Trách Quan Sát BTLKQ, và được Thiếu Tá Trưởng Phòng hướng dẫn ra bãi đậu phi cơ, chiếc DC4 ngoan ngoãn chờ đợi chúng tôi ở đó.Hoa Tiêu lên mở máy, taxi, rồi cất cánh trực chỉ Nha Trang. Đáp Nha Trang hồi 8 giờ sáng, nửa tiếng sau cất cánh lại, vượt mây mưa và hàng trăm cây số núi rừng lên Pleiku, để nhận thêm mấy Sĩ Quan Liên Lạc KQ, rồi mới bay thẳng ra Đông Hà.Trên lộ trình cuối cùng này, trần mây thấp và dày đặc, phi cơ tránh mây, đã phải bay lên cao, lên cao mãi… Tôi đoán chừng cao độ khoảng 15 ngàn bộ! Không khí buốt lạnh, làm chúng tôi ngồi co ro trong những chiếc áo Blouson và phải hút thuốc lá liên miên. Sau gần một tiếng đồng hồ trôi theo mây gió đường xa, phi cơ chao nghiêng, chúng tôi nhìn thấy thành phố Quảng Trị hiện ra mờ xa dưới cánh, một phố thị mà riêng tôi đã non 10 năm bỏ xa biền biệt… Bây giờ thì mỗi người thả hồn trôi theo những suy tưởng, những băn khoăn, và niềm lo lắng về sứ mạng sắp phải thi hành, trên chiến trường khốc liệt mà chúng tôi ai nấy đã biết ít nhiều qua báo chí và đài phát thanh.Phi trường Ái Tử hiện ra lờ mờ dưới lớp mây mù in một vệt đen dài trong màn mưa mỏng, con tàu xà thấp cánh gió, đáp nhẹ và quay đậu, đổ chúng tôi xuống sân đậu. Cơn mưa buồn và nhẹ hất vào mặt chúng tôi, giữa chốn mênh mông của phi trường. Chúng tôi đứng co ro khúm núm trong cái lạnh buốt giá của mùa mưa xứ này. Sau 15 phút thấp thỏm chờ đợi, thì một chiếc xe Dodge cũ kỹ chạy lại gần, mười mấy khuôn mặt KQ từ trên xe nhảy xuống, chào hỏi qua loa, rồi vội vã phóng lên phi cơ, như trút bỏ tất cả khó nhọc lại cho trận chiến! Cho chúng tôi! Những ngày tháng rét lạnh, hiểm nguy và vất vả, nhọc nhằn… Họ là những người hết hạn biệt phái và chúng tôi là lớp người tiếp nối nhiệm vụ của họ.Chúng tôi lên xe về căn cứ, 7 cây số ngàn đường xe, với khung cảnh nhuộm đầy sắc thái chiến tranh, âm thanh hỗn loạn của phi cơ, trọng pháo, xe tăng, vận tải, chuyển quân rầm rộ…Không khí mổi lúc mỗi ngồm ngộp, tạo nên bao nỗi giao động trong tâm hồn mọi người, cơn mưa như tấm màn lưới nhện, đan nhẹ vào không gian giá rét và không khí lạnh lẽo bao trùm rộng lớn.Chúng tôi đến Biệt Đội VO10, một biệt đội thuộc biệt đoàn Tiền Phương, do Thiếu tá Mạnh làm Biệt Đội Trưởng, Biệt Đội này gồm các loại máy bay như: HU1, H34, OV2, OV10. Với nhiệm vụ đổ bộ, tải thương, yểm trợ hỏa lực, chúng tôi ở chung với anh em PĐ110 và PĐ114, cùng các Sĩ Quan Không Trợ, bay OV2 hướng dẫn C47 và C119 yểm trợ hỏa lực ban đêm.Căn nhà chúng tôi tá túc chỉ là một kho chứa vật liệu cũ của Hoa Kỳ, vừa chật chội lại vừa thiếu thốn tiện nghi.Buổi sáng, buổi trưa, chúng tôi dùng bữa ở Mess Hall của bộ binh Hoa Kỳ, buổi chiều về nhận Briefing và đi bay, mỗi ngày chúng tôi có khoảng 24 phi vụ. Chúng tôi bay phối hợp với Đồng Minh Hoa Kỳ, trên loại máy bay OV10. Đây là loại phi cơ vừa có thể bay bằng hệ thống phản lực vừa có thể bay bằng hệ thống cánh quạt. Trang bị 8 nòngMinigun và 14 Rockets hoặc loại 4 nòng Minigun và 28 Rockets. Cũng có thể trang bị Minigun và 2 trái bom 250 lbs, tùy theo tình hình của chiến trường.Biệt đội có chừng 20 chiếc OV10, hoa tiêu Mỹ biệt phái từ Thái Lan qua. Chúng tôi bay mỗi ngày 2 phi vụ, mỗi phi vụ từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Phần nhiều cất cánh dưới trời mưa, và lên đến 9,10 ngàn bộ mới lấy hướng, bình phi, và vượt hàng trăm cây số đường núi mới qua Hạ Lào. Thời tiết vùng hành quân thường tương đối tốt hơn vùng xuất phát. Chúng tôi bay 7 hoặc 8 ngàn bộ trên mục tiêu, dưới tầm mắt chúng tôi là một màu xanh rừng núi, điệp điệp trùng trùng, một vùng hoang vu xa lạ, đầy dẫy huyền thoại về rừng thiêng nước độc, khói lửa bốc cháy ngút ngàn, ven sườn đồi, chân núi, triền dốc, lối mòn, chỗ nào cũng lăn lóc, ngổn ngang xe tăng, vận tải Bắc Việt. Hệ thống đường mòn và khe suối ở đây chằng chịt, chi chít.Đồi 31, một ngọn đồi chiến lược, một cao điểm Quân sự, luôn luôn ở trong tầm mắt, trong liên tưởng thường trực với một trận giao tranh khốc liệt, bây giờ trơ trọi hoang tàn… Mỗi phi xuất của chúng tôi hướng dẫn từ 4 đến 12 phi tuần Phản lực Hoa Kỳ, U2. Oanh kích phần nhiều là tiếp cận vì cộng quân luôn bám sát các cánh quân Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Phản lực Mỹ gồm có A3, A4, A6, A7, F100, F4C,F.A.C. Việt Nam gồm những KQ ưu tú trong ngành Quan Sát nên mặc dù hỏa lực của địch rất mạnh (theo tin tức của Tình Báo thì có chừng 2000 súng phòng không của địch luôn hoạt động) chúng tôi cũng vẫn liên lạc chặt chẽ thường xuyên với quân bạn, và hướng dẫn oanh kích thật chính xác mục tiêu, gây nhiều nỗi kinh hoàng cho địch quân cũng như những tổn thất trầm trọng cho đối phương.Thời tiết thường xấu, nhất là tại các vùng hành quân, mây, mưa, gió, đạn phòng không vẫn là những đe dọa thiết thực đối với KQ. Mặc dù vậy, chúng tôi đã tình nguyện gia nhập Quân Chủng Không Quân, làm việc trong đơn vị tác chiến, nên cho dù hiểm nguy cách mấy, chúng tôi vẫn không sờn lòng. Có lao vào vùng lửa đạn, mới có những cảm giác “không tả”, “vô lường” vì cao xạ phòng không của địch lúc nào cũng đan từng mảng lưới lửa đạn, và tạo thành từng rừng bông khói trắng từ 8, 10, 12 đến 14 ngàn bộ… Điều đó có nghĩa là: Phi cơ lúc nào cũng bay trong tầm hiệu quả của phòngkhông địch! Phương thức “né đạn” là phải bay lượn thường xuyên, nhất là những lúc xạ kích hoặc chỉ điểm, chúng tôi phải rất cảnh giác và khéo léo “xàng qua, xàng lại” để tránh đạn của địch. Thông thường mọi người vẫn quan niệm “đạn tránh người” nhưng thực tế ở chiến trận “Hành Quân Hạ Lào” này, thì…“người phải tránh đạn”!!!Vì OV10 có thể bay được bằng chong chóng và phản lực, nên rất lợi hại, muốn bay chậm hay bay nhanh đều dễ dàng hành động, cũng vì ưu điểm đó, mà giờ này tôi mới còn có cơ hội ngồi viết bài này! Mỗi phi vụ ở chiến trường Hạ Lào, tưởng chừng như gấp 5, gấp 7 lần so với những phi vụ ở vùng 4 hay ở Miên, luôn luôn được ăn “G”, Black out và red out, là chuyện “cơm bữa”.Ngày mới ra đây, phi vụ đầu tiên chưa quen, có anh đã “cho chó ăn chè”, phần đông thì cũng rất mệt mỏi và… thần kinh giao động! Nhưng khi “quen nước quen cái” rồi, thì bổn phận, trách nhiệm đã lấn áp tất cả, có khó khăn, gian nguy, mới nảy sanh lòng quyết thắng, khả năng và kinh nghiệm mới có cơ hội được thể hiện tròn nét. Vâng, những ngày biệt phái từ vùng 4 ra vùng 1, để tham dự trận đánh lịch sử Hạ Lào đã qua rồi, nhưng nó vẫn còn mãi với nhữngkỷ niệm vàng son trong muôn vàn kỷ niệm nối kết của cuộc đời xông pha lửa đạn, mong có 1 đất nước Việt Nam hòa bình thịnh trị, muôn người như một, sống chan hòa tình thương đồng loại.Tưởng cũng nên đan cử ra đây một vài kỷ niệm, mà chính nó đã tô thành những nét son chói đỏ trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, một niềm hãnh diện lớn lao cho Sư Đoàn 4 KQ cũng như Phi Đoàn 116 vậy.Đồi 31 là một cao điểm quân sự do Tiểu đoàn 39 Biệt động Quân trấn giữ. Trời hôm đó hơi xấu, trần mây thấp, mà áp lực địch có phần nặng hơn mọi ngày, địch với súng cối, hỏa tiễn, bắn như mưa bão lên đồi, khói lửa và cát bụi bốc cao mịt mù, đồng thời xe tăng và bộ binh Bắc Việt kéo ào ạt lên đồi, như chốn không người. Đại úy Tôn Thất Tân (PĐ110) và Đại úy Nguyễn viết Trường(PĐ116) đã cố gắng tập trung các phi tuần Phản Lực của Hoa Kỳ, để dội những trận mưa bom xuống địch, hòng đập tan âm mưu dã man của chúng, hàng loạt MK82, BLU27, BLU32, rơi xuống như vũ bão, khiến địch quân khựng lại. Nhưng, rất xui, khi đó có 1 phi cơ loại F4C bị trúng đạn phòng không, 2 phi công Hoa Kỳ nhảy dù xuống đất, thế là theo lệnh của trên, tất cả các phi công Mỹ được lệnh bỏ Đồi 31 để cấp cứu 2 phi công bị nạn này. Đại úy Tân và Đại úy Trường đành nghẹn ngào và uất hận khi chứng kiến địch quân tràn ngập đồi 31!Trước đó mấy ngày, Đại úy Nguyễn viết Trường đi bay với 1 Trung úy Mỹ trên loại máy bay VO10, anh được biết có 1 Phi hành đoàn trực thăng HoaKỳ gồm 7 người đã bị trúng đạn phòng không của địch, họ đã sống trong nỗi kinh hoàng trong 2 ngày 3 đêm, mọi phương tiện cấp cứu của Hoa Kỳ đều thất bại, phi cơ đến cứu không vào được mục tiêu vì hỏa lực địch mạnh vô cùng.Đại úy Nguyễn viết Trường (PĐ116) quan sát mục tiêu, khi biết có thể liên lạc trực tiếp với Phi hành đoàn bị nạn, anh đã cho biết với kinh nghiệm bao năm chiến đấu với Cộng quân, anh có thể cứu được 7 người Mỹ này, và chỉ cần thời gian là nửa ngày mà thôi!Sau khi được sự chấp thuận của hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ, anh bắt đầu tiến hành những phương cách của riêng mình nghĩ ra. Thoạt tiên, anh đề nghị cho oanh kích dữ dội một mục tiêu cách xa đó, với mục đích đánh lạc hướng suy nghĩ của địch quân, trong lúc đó anh đề nghị cho “đổ” một toán Hắc Báo cách nơi toán lâm nạn khoảng 10 Km, rồi hướng dẫn họ đến mục tiêu giải cứu 7 quân nhân Hoa Kỳ, để giữ an toàn cho đám Hắc Báo, anh đã cho thả bom theo hình chữ U xung quanh toán Hắc Báo. Phi Tuần, F.A.C, và toán Hắc Báo đã được phối hợp một cách nhịp nhàng và hữu hiệu, dưới tài điều động của Đại úy Nguyễn viết Trường, kết quả toán Hắc Báo đã đến nơi chỉ định an toàn.Khi toán Hắc Báo và Phi đoàn thọ nạn liên lạc được nhau, sẵn sàng thực hiện việc giải cứu, Đại úy Trường đề nghị cho thả bom theo hình chữ L và hướng dẫn trực thăng đến “bốc” toàn bộ mọi người về căn cứ Khe Sanh, theo hướng do anh chỉ định.Thời gian cấp cứu vỏn vẹn đúng nửa ngày, theo như tiên đoán của anh. Thật là một phi vụ tuyệt vời. Câu trả lời cho các báo chí ngoại quốc của Đại úy Trường là:“Bất cứ một người Việt Nam nào khi gặp trường hợp như anh, đều làm được như anh, có khi còn hay hơn anh nhiều”.Kết quả, Đại úy Nguyễn Viết Trường được tuyên dương và gắn huy chương tại Bộ Tư lệnh Không Quân, là chiến sĩ xuất sắc, được đi du ngoạn Đài Loan, Hồng Kông, và được báo chí Việt Nam và báo chí Mỹ đăng hình và phỏng vấn.Trong 1 phi vụ khác, Phi hành đoàn gồm Đại úy Hudges và Đại úy Mai trí Dũng (PĐ116) cùng bay trên OV10, số đuôi 789, cất cánh lúc 16 giờ 15 phút, tại căn cứ Ái Tử, đến vùng hành quân, hướng dẫn 2 phi cơ A6 oanh kích tiếp cận cho một vị trí của Dù, tình hình rất nguy khốn, vì địch quân vây hãm và tấn công dữ dội…Lúc xuống bắn Rockets để đánh dấu mục tiêu, ở cao độ 5000 bộ, phi cơ trúng một loạt phòng không của địch, động cơ ngưng hoạt động, khi kéo lên, cũng bị thêm một loạt cao xạ khác, làm nổ tung ổ đạn Minigun bên trái, nhưng cả hai đồng quyết định cố gắng bay về Đà Nẵng đáp, vì có nhảy dù ra ở đây cũng chết vào tay quân thù. Rất may mắn, họ đã đáp Đà Nẵng an toàn,Phi hành đoàn quả là gan dạ và “hết xẩy”!Những Phi vụ nêu trên, cho thấy khả năng và lòng can đảm của những người Không Quân chúng tôi có thừa!Nhưng cuộc chiến Việt Nam với những ràng buộc vào Đồng Minh, đã ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần và lòng yêu nước của chúng tôi!Đến nay,Lịch sử đã sang trang, những người đáng phải thắng lại thua, những người đáng phải thua lại thắng!Đất nước Việt Nam còn nhiều trăn trở, lắm đau thương, cho đến nay mấy chục năm trời đã trôi qua, nhưng những chứng nhân lịch sử vẫn ít nhiều còn tồn tại, họ đã, đang và sẽ nghĩ gì? Hành động gì? Chắc không ai trong chúng ta không biết và không hiểu, hơn nữa có một điều khẳng định được:Họ đã một thời vì lòng yêu nước, vì chính nghĩa Quốc Gia, đã cống hiến tuổi thanh xuân cho Quê Hương đọa đày này! Thật đáng trân trọng lắm thay!SA GIANG(NGUYỄN VĂN ĐỨC PĐ116)

 Đội quân bí ẩn của Giáo hoàng

  • IMG_2035.jpg


    Đó là đội quân nhỏ nhất và bí ẩn nhất trên thế giới: Đội cận vệ Thụy Sĩ của Giáo hoàng. Bộ phim đồng hành cùng những người đàn ông có đức tin và chiến đấu này, từ khi họ được tuyển dụng ở Thụy Sĩ cho đến khi được huấn luyện quân sự tại trung tâm Vatican.
    Gồm 150 thanh niên, đội quân tinh nhuệ này sống trong doanh trại ở trung tâm Thành phố Vatican. Tất cả đều phải là công dân Thụy Sĩ và là người Công giáo ngoan đạo. Tất cả đều đã thề sẽ chiến đấu đến chết để bảo vệ đức tin và Đức Thánh Cha.

    Họ là những người thừa kế truyền thống 500 năm , khi đó sự bảo vệ và an ninh của Giáo hoàng được đảm nhiệm bởi những người lính đánh thuê từ Thụy Sĩ.

    Được huấn luyện để sử dụng cả vũ khí halberd và súng trường tấn công bán tự động, Đội cận vệ Thụy Sĩ tạo thành một đội quân độc đáo. Nhưng họ thực sự là ai? Điều gì thúc đẩy những chàng trai trẻ này tham gia vào quân đội và quân đoàn tôn giáo này? Một cái nhìn sâu sắc vào một thế giới thường đóng cửa trước các máy chụp hình .

    Đội quân bí ẩn của Giáo hoàng
    The Pope’s mysterious armyThe Pope’s mysterious army | DW DocumentaryThe Pope’s mysterious army | DW DocumentaryThèm

    • Tụi bây biết không? Bây giờ tao đi làm bằng xe đạp. Tụi bây đừng cười. Tao không giỡn đâu. Hồi xưa, trong bọn mấy đứa tụi mình, tao là thằng tếu nhứt. Tao hay kể chuyện tiếu lâm, hay bịa chuyện này chuyện nọ để chọc cười, để phá phách cho vui với nhau. Nên tụi bây thường nói: “Coi chừng! Nó nói cái gì mình phải xin keo coi có đúng không, rồi hãy tin”. Hồi đó khác. Bây giờ khác. Tụi bây đi hết rồi, chỉ còn mình tao kẹt lại. Nói thiệt hay nói dóc đều không còn ý nghĩa gì nữa, cũng không còn giá trị gì nữa đối với tao. Bởi vì không còn ai để giỡn, không còn lòng dạ đâu để giỡn, và cái cười của tao đã vượt biên đâu mất từ lâu… Điều ngộ nghĩnh là, bây giờ, bất cứ chuyện gì tao kể ra chắc chắn tụi bây đều không tin ráo! Bởi vì tụi bây đã di tản trước ngày 30 tháng tư 1975, không thấy không biết những gì đã xảy ra ở trong nước, làm sao mà tin ? Vả lại “những gì đã xảy ra” đã không xảy ra theo quy luật thông thường. Tất cả đều bị xáo trộn, đảo lộn một cách nghịch lý đến nỗi tao là người sống trong đó mà lắm khi tao phải tự hỏi: “Làm sao có thể như vậy được?”. Vậy mà nó đã “như vậy được” tụi bây à! Khó tin nhưng có thật! Cho nên, những gì tao viết ở đây cho tụi bây hoàn toàn là những chuyện có thật mà… khó tin đó.
      Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày, tao cứ phải nghe ra rả nói láo nói dóc, cứ phải luôn luôn nói láo nói dóc… Nào là “Đã vượt chỉ tiêu 150%” (Chỉ tiêu là con số đã được ấn định trước cho mức sản xuất, không biết là bao nhiêu, nhưng thấy tháng nào cũng vượt, năm nào cũng vượt, ngành nào cũng vượt, tao phải…dịch những chữ mới rõ ràng ra như vậy cho tụi bây hiểu bởi vì bây giờ mình không còn nói giống như hồi trước nữa) nào là “Đã hồ hởi phấn khởi đi làm nghĩa vụ” nghĩa là đi làm cái nghĩa vụ gì đó một cách…khoái trá sôi động bởi vì biết chắc rằng không đi cũng không được. Nào là “Hoàn toàn nhất trí” (Bây giờ không nói nhứt nữa, mà nói nhất, nghe… cách mạng hơn), nghĩa là “đồng ý hoàn toàn”, cho nó rồi, kẻo không thì… kẹt lắm. Mọi người đều “nhất trí” hết mà mình không “nhất trí” thì nó… lòi ra coi không giống ai. Thành ra “nhất trí” cũng có nghĩa là “phải làm như mọi người”. Tụi bây hiểu chưa? Nào là “Làm việc rất là năng nổ”. Tao nghĩ chắc khỏi cần dịch. Tụi bây cứ nghe “nó… lốp bốp” là đoán ra cái nghĩa của nó rồi. Đại khái là làm việc giống như có cờ phất trống khua, có loa trên loa dưới ồn ào, còn lè phè suốt buổi hút thuốc uống trà là chuyện khác… vân vân và vân vân… Kể không hết!
      Sau bao năm dài sống trong môi trường như kể trên, “cái thèm” rất lớn của tao là được sống thật, nói thật. Cho nên, viết cho tụi bây giống như tao được… giải phóng. Vậy những gì tao kể ra đây, tụi bây khỏi phải xin keo!
      Bây giờ, tao đi làm bằng xe đạp. Vẫn làm ở sở cũ. (Còn được làm việc ở sở cũ là may đó nghen. Nhiều người bị đổi đi nơi khác xa hơn và thường thì ở một ngành nghề không dính dấp gì với phần chuyên môn của mình hết. Cách mạng mà)! Cái xe hơi con cóc, tao đã cho nó lên nằm trên bốn gộc cây để bán lần bán hồi bốn bánh xe, cái bình điện, cái đề-ma-rơ… Hầu như tháng nào tao cũng phải bán một món gì trong nhà, bởi vì lương của tao cộng với những gì vợ tao và hai con gái lớn kiếm được hằng tháng… không đủ sống. Tình trạng đó bắt đầu từ sau hai “trận” Nhà Nước đổi tiền.
      Đạp xe riết rồi cũng quen. Khoảng cách trên 10 cây số từ nhà đến sở, tao coi như “pha”. Chỉ bực mình là xe đạp của tao hay sút sên khi nó “nhảy” ổ gà. Mà đường sá bây giờ, ổ gà ở đâu nó… lòi ra nhiều quá. (Người ta nói Mỹ rút đi, để lại toàn là đồ giả không – tao nghe sao chép vậy)! Cho nên, ở nhiều đoạn đường, tao lái xe tránh ổ gà giống như người say rượu! Vậy mà có hôm vẫn “nhảy” ổ gà cho nên hai tay tao thường lấm lem dầu, đất, mà quần áo thì ướt đẵm mồ hôi.
      Bây giờ, tao làm việc “thông tầm”, nghĩa là làm suốt tới chiều rồi về sớm không có về nhà ăn cơm nghỉ trưa như hồi trước. Vì vậy, mỗi sáng tao mang theo một lon ghi-gô cơm với vài miếng cá mặn để ăn tại bàn viết buổi trưa. Chiều về sớm, tao có bổn phận nấu cơm làm đồ ăn, bởi vì giờ đó vợ con tao còn làm việc ở tổ may thêu cách nhà cũng khá xa.
      Mỗi sáng đi làm, lúc nào tao cũng đem theo cái giỏ đi chợ treo tòn ten ở ghi-đong, giống như đi chợ chớ không giống đi làm! Bởi vì trong sở thường hay…bất thần bán cho nhân viên (gọi là “phân phối” chớ không gọi là “bán”, nghe có vẻ… chia xẻ hơn là trao đổi) cá, rau cải..vv… Tuy không nhiều và không được lựa chọn vì phải…bắt thăm trúng lô nào lấy lô đó, nhưng rẻ hơn ngoài chợ thành ra cũng đỡ. Cho nên, đi làm việc mà ngày nào cũng nhóng nhóng hỏi thăm “coi bữa nay có phân phối gì không?” và chiều về đến nhà, thằng con tao – thằng út đó, tụi bây nhớ không? bây giờ nó lớn đại rồi – chạy ra mở cổng lúc nào cũng hỏi: “Bữa nay có mua được gì không ba?”. Và hôm nào thấy trong giỏ có đồ gì để ăn là mắt nó sáng rỡ. Tội nghiệp, sống trong sự thiếu thốn triền miên, có đứa nhỏ nào, có người lớn nào mà không nghĩ đến miếng ăn?
      Bây giờ, tao hút thuốc lá vấn tay. Tao tự vấn lấy. Không phải tao muốn lập dị mà vì tao không đủ sức mua loại thuốc điếu kỹ nghệ thông thường. Mới đầu, tao vấn thuốc rê Gò Vấp. Nó nặng muốn… tét phổi! Về sau, tao bắt chước thiên hạ mua thuốc lá Lạng Sơn đã xắt sẵn – nghe nói là giống thuốc Virginia, mấy ông ngoài Bắc bảo thế! – đem trộn với thuốc Gò Vấp, hút thấy được. Vậy là mỗi khi muốn hút, tao cứ tà tà xé một miếng giấy quyến, tà tà rứt một miếng thuốc kéo cho dài dài ra khi để lên lòng giấy, rồi đặt hết tâm tư vào mấy ngón tay (của cả hai bàn tay đang chụm đầu lại nâng nhẹ giấy và thuốc)! để ém, lận, cuốn, xe… cho điếu thuốc được tròn đều trước khi đưa lên lưỡi liếm. Xem thật “ung dung nhàn hạ”. Giống như một nghi thức. Và tao có quyền tà tà vấn thuốc như vậy bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào: trong khi làm việc, trong các buổi hội họp học tập, và cả ngay trước mặt ông xếp của tao nữa. (Bây giờ gọi là “thủ trưởng”, nôm na là “cái đầu đứng đầu”. Còn cái đầu có cái óc hay không lại là chuyện khác). Cho nên, hút thuốc vấn – đối với tao – giống như là một cách thoát tục, cái “tục” quá… tục mà tao đang sống bây giờ. Tuy nhiên, sao tao vẫn nghe thèm điếu thuốc ba số năm là loại thuốc mà mấy chục năm tao đã hút!Làm như mùi vị của nó còn nằm ở đâu trong máu trong xương. Nhiều đêm trở giấc, tao nghe thèm ray rứt, thèm chảy nước mắt!
      Chiều hôm qua, trên đường về nhà, đạp xe tới chợ Tân Định thì trời bỗng đổ mưa. Tao tấp vô đụt mưa dưới mái hiên tiệm nước nằm ở góc đường dọc hông chợ (tao quên tên) và đường Hai Bà Trưng. Lúc đó, cỡ gần 5 giờ (đồng hồ tay, tao đã bán từ lâu, nên từ lâu, tao chỉ… đoán giờ thôi)! Trong tiệm thấy lai rai có người ăn uống. Tao đã đứng sát vào vách vậy mà gió cũng tạt mưa vào ướt hết phía dưới chân. Một lát, tao nghe lạnh chân. Rồi tao nghe đói. Cái đói đến một cách đột ngột, giống như nó chui từ dưới chân chui lên. Hồi nãy đạp xe trên đường, tao có thấy đói đâu, mặc dù  buổi trưa tao chỉ ăn có một lon ghi-gô cơm với ít mắm ruốc – dĩ nhiên là tao có uống thật nhiều trà, thứ này, loại thường thôi, trong sở (Bây giờ gọi là “cơ quan”) có chị nhân viên tối ngày cứ châm đầy bình cho mình uống “líp” – Vậy mà bây giờ tao lại thấy đói. Có lẽ tại vì lỗ mũi tao nghe mùi hủ tiếu, mùi mì. Ờ… tụi bây không biết chớ từ lâu rồi – tao không nhớ là bao nhiêu lâu, nhưng chắc là lâu lắm – tao chưa được ăn mì. Bây giờ đứng đây phía đường hông chợ Tân Định, phía trên gió, vậy mà vẫn “đánh hơi” rõ mồn một mùi nước lèo của xe mì nằm bên đường Hai Bà Trưng, phía dưới gió, rõ như hơi của nước lèo đang bốc lên ngay trước mũi! Tao nuốt nước miếng.
      Thèm quá! Tao thèm ăn ngay một tô mì! Thọc tay vào túi quần, tao đụng hai tờ giấy bạc. Móc ra xem thì ra là hai đồng. Tao chỉ có ngần đó thôi! Nhưng hai đồng, đủ để ăn một tô mì rồi! Thì ăn… đại một tô cho nó đã! Tao dợm bước vào tiệm nước bỗng nhớ lại vợ tao hồi sáng khi trao cho tao hai đồng đó, có dặn: “Chiều, anh ghé chợ Cây Quéo mua 6 cái hột vịt và nửa giỏ rau. Về, anh bắc nồi cơm bỏ vô luộc trước. Chừng mẹ con em về, em làm nước mắm rồi dầm cho nhà ăn.” Hình ảnh cả nhà tao 7 đứa quây quần bên “nửa giỏ rau và 6 cái hột vịt” và hình ảnh tao một mình ngồi ăn tô mì… làm tao khựng lại. Tô mì mà tao muốn ăn, thèm ăn, là cả một bữa ăn của gia đình! Tao không thể đổi được. Thà là tao nhịn thèm. Thà là tao chịu đói để về ăn chung với vợ con. Ăn thứ gì cũng được, ít nhiều gì cũng được, dở ngon gì cũng được. Miễn là ăn chung với tụi nó. Để thấy rằng cuộc đời tao bây giờ chỉ còn lại có tụi nó là quí thôi! Tao nghe thương vợ thương con vô cùng. Và tao cũng nghe thương thân tao vô cùng… Tao đứng yên nhìn ra mưa bỗng nghe hai má của mình ướt lạnh. Đưa tay lên vuốt mặt mà nghĩ rằng mình vuốt nước mưa trên má…(Trên đây là lá thơ viết lỡ dở, của ai viết cho ai, tôi không biết. Thơ viết trên giấy tập học trò, chữ nhỏ li ti, nhưng đẹp và rõ nét. Tình cờ, tôi nhìn thấy “nó” trong xấp giấy gói hàng của bà bán xôi đầu ngõ nên tôi xin)…
      Tiểu Tử

Để NHỚ… MỘT THỜI-HỒI ỨC SÀI GÒN THỜI LÍNH TRÁNG

Blog Người Phương Nam

Mời đọc

Những Cuộc Tình Đong Đưa

  • Buổi tối trời Đà Lạt đầy sương, tôi rủ Đức:- Không lạnh lắm, mình xuống hồ Xuân Hương uống café.Đức nhún vai:- So với Minnesota cái lạnh này ăn thua gì. Đi bộ nói chuyện cho vui.Đức đến thăm tôi thật bất ngờ. Chúng tôi là bạn từ thời trung học nhưng nhiều năm rồi chúng tôi không gặp nhau vì mỗi đứa sống một nơi, mỗi đứa một cuộc đời, lâu lâu điện thọai hỏi thăm để biết bạn bè còn đó, hẹn gặp nhau nhưng rồi hình như chẳng bao giờ có thì giờ.Chúng tôi đi xuống con dốc dài. Con dốc này  là ‘con đường mang tên em’ khi mà mái tóc chúng tôi còn xanh, khi mà trái tim chúng tôi còn ấm nồng, khi mà những đôi má hồng của những cô bé Bùi Thị Xuân vẫn còn làm chúng tôi ngẩn ngơ, trước khi Đức xuống Sài Gòn theo học ‘Quốc Gia Hành Chánh’, và trước khi tôi làm người đi biển, lưu lạc bốn phương trời.Tôi hỏi Đức:- Mày về đây hôm nào?- Mới sáng nay.- Sao biết tao ở đây mà tới kiếm?Đức cười:- Tưởng mày phiêu bạt, bỏ vợ ở nhà một mình đi phương trời nào, không ngờ quay về chốn cũ. Trước khi rời Hoa Kỳ tao có điện thoại, Trinh cho biết mày về dạy học ở đây.- Tạm thời thôi. Đi đi về về chứ không ở hẳn. Xong niên học này tao lại về Cali với gia đình vài ba tháng. Còn mày, vợ con có theo về không hay chỉ một mình?- Trinh hiểu biết và rộng lượng nên mày mới tự do ‘nay ở mai về’, tao không có cái may mắn đó. Yến về thăm mẹ dưới dốc ‘Nhà Bò’, khuya tao sẽ phải đón em về  khách sạn ‘Empress’.Tôi hỏi:- Sao không đưa Yến tới chỗ tao?Đức lắc đầu:- Không tiện. Để chúng mình tự do nói chuyện tình ngày xưa. Vả lại không muốn bị mắng là ‘già đầu hai thứ tóc mà cứ còn ‘mày  tao’ như trẻ thơ’!- Ừ, chẳng còn được bao nhiêu đứa như bọn mình. Ước gì còn thằng Tuấn Mù ở đây nữa là đủ bộ ba như ngày xưa. Còn nhớ ngày đó chúng mình làm báo trường với nhau không? Mày là ‘Văn Bựa’, tao là ‘Trữ Tình’ (1), còn thằng Tuấn Mù thì bao giờ cũng vẫn là Tuấn Mù, yêu nhỏ Linh vừa đen vừa lùn.Giọng Đức có thoáng buồn:- Tao tưởng đời tao đã là ‘khốn nạn’ nhất, nhưng vẫn còn có những đứa xót xa hơn. Mấy chục năm không nghe tin nó, sợ rằng Tuấn Mù chẳng còn sống trên cái cõi đời buồn thảm này.- Đừng bi quan Đức ạ, dù thế nào cũng nên thiết tha với đời sống. Một trong những lý do tao trở về đây dạy học là mong gieo rắc trái tim xanh của mình cho lớp trẻ. Tao thấy họ thông minh và cần cù hơn chúng mình trước đây, nhưng có lẽ sau chiến tranh điêu tàn, họ không có trái tim nồng ấm như chúng mình ngày xưa.Hồ Xuân Hương mờ ảo trong sương, ánh đèn từ nhà thủy tạ mù mờ và tiếng nhạc vọng ra nghe êm đềm. Chúng tôi chọn chiếc bàn ngoài hành lang gần mé nước vì bên trong đầy khách trẻ và khói thuốc mịt mù. Đức nhìn quanh:- Ngày xưa chúng mình cũng không khác gì, lúc nào cũng điếu thuốc trên môi, cũng café đen và nhạc tình, chỉ khác là lúc đó là café Tùng.Tôi nhắc:- Café Tùng vẫn còn đó.Đức cười:- Nhưng người xưa không còn.Có bóng người che mất ánh đèn. Tôi ngẩng lên và thấy Loan đứng đó tươi cười:- Thầy uống gì ạ? Mà thôi em biết thầy uống gì rồi. Café sữa nóng!Tôi chưng hửng:- Em vào làm ở đây từ bao giờ?Loan trả lời như phân trần:- Em mới vào làm tuần này.  Nhà trường lại mới tăng học phí nên em đi làm vài tối một tuần.Tôi chỉ Đức:- Kỹ sư Đức bạn tôi, còn đây là Loan, sinh viên lớp vi tính do tôi hướng dẫn.Đức lịch sự nghiêng đầu:- Chào cô Loan, thầy Duy uống gì tôi uống thứ ấy.Loan gật đầu:- Em mang lại liền.Bước chân Loan nhún nhảy, luồn lách giữa đám bàn ghế chật hẹp, nhưng vẫn còn ngoái cổ lại nhìn và mỉm cười. Đức tra vấn:- Sao mà Loan nó biết mày chỉ uống café sữa nóng?Tôi cười:- Tao đi uống café và ngao du với sinh viên rất thường. Họ quen tính, biết thầy Duy hiền khô, không rượu chè, café là hết cỡ thợ mộc!Đức dọa:- Mày vớ vẩn ‘ông’ về Mỹ ‘ông’ mách Trinh là mày ốm đòn.- Mày đừng có ‘bỏ bom’. Tao lăng nhăng dăm ba cuộc tình, nhưng đó là chuyện xưa. Lúc nào tao cũng yêu Trinh.- Xưa mẹ gì. Trinh mách với tao là hơn năm trước đây mày ‘lêu lổng’ ra tận Tây Hồ với em Jackie hay Phương Thảo nào đó. Về Mỹ với vợ mà lâu lâu còn thở dài. Đúng không?Tôi cười trừ:- Đúng có một nửa. Mà thôi, ‘ông’ muốn nghe chuyện tình của mày chứ đâu phải mang mày ra đây để mày sỉ vả ‘ông’. Mày biết đó, tao ở Cali còn mày ở Minnesota, như đầu sông với cuối sông, mấy chục năm mới gặp nhau được vài lần. Biết mày ly dị rồi trải qua mấy cuộc tình mới mà cũng không rõ cội nguồn. Bây giờ là lúc mày kể rõ cho tao nghe.Tôi ngừng một giây rồi nói thêm:- Nói tao nghe để tao còn biết đường mà tránh. Long đong như mày không biết rồi hậu vận có khá hơn không.Đức chợt buồn:- Cũng là số phận. Có bao giờ tao nghĩ là Diệu và tao phải xa nhau. Như mày biết, tao là mối tình đầu của Diệu, cô nữ sinh 18 tuổi, con ông hội đồng, yêu ông ‘phó quận’ và lấy người mình yêu như ước mơ. Chúng tao đã có những ngày rất hạnh phúc. Khi còn ở Sài Gòn mày thường đến tao, và mày thấy chúng tao yêu nhau đến thế nào.Tôi ngậm ngùi:- Tao biết chứ. Con gái mày vẫn gọi tao là ‘bố Duy’. Gia đình mày là nơi tao nương máu mỗi khi đi biển về, và tao thật buồn khi nghe tin chúng mày xa nhau. Ước gì khi đó tao ở gần, biết đâu chẳng giúp được chúng mày làm lành.Đức thở dài:- Mày không làm được gì đâu. Bây giờ nghĩ lại tao biết đổ vỡ là do hoàn cảnh. Chúng tao được một gia đình Mỹ đỡ đầu, định cư tại vùng Twin Cities khi chạy khỏi Sài Gòn năm 1975. Cảnh sống của những người lưu vong như chúng mình lúc đó ra sao thì mày đã biết rồi, khỏi cần kể lể làm chi. Lúc đó Diệu còn rất trẻ, chưa tới 30, còn tao đã bắt đầu cằn cỗi với tuyết sương mùa lạnh. Diệu yêu tao và muốn đỡ đần một phần nào gánh nặng gia đình, nên ghi tên theo học một vài lớp tại đại học cộng đồng địa phương, hy vọng lấy được bằng kế toán, xin được việc nhẹ nhàng, phụ giúp chồng, nuôi hai con còn nhỏ. Lúc đó Oanh mới 8 tuổi và đứa em trai nó còn bé hơn hai năm.Tôi ngắt lời:- Tao thấy như vậy Diệu là người biết nghĩ. Mày còn đòi hỏi gì hơn.- Không. Tao còn khuyến khích Diệu nữa là đàng khác. Nhưng đó là khúc quanh của lỗi lầm. Mày biết không khí đại học ở bên đó rồi. Rất là sống động, môi trường của tuổi trẻ yêu đời và hy vọng. Cũng có nhiều sinh viên VN học chung trường với Diệu, và ‘Chị Diệu’ là một ngôi sao vì trẻ đẹp và vui tính. Tối nào từ xưởng tiện lội tuyết về đến nhà tao cũng chỉ muốn lăn ra ngủ, trong lúc Diệu ríu rít kể chuyện vui trong trường. Dần dần Diệu chán chẳng thèm để ý đến tao vì chưa nói được vài câu tao đã ngủ mất rồi. Bạn bè Diệu càng ngày càng nhiều, và có những cuộc vui tao không có mặt vì không thích hợp với không khí trẻ trung, với ngôn ngữ thời thượng, và nhất là không có ai cùng trang lứa với mình. Khi xưa Diệu nũng nịu, bắt tao bồng bế lên giường trong đời sống vợ chồng, bấy giờ hình như ngại mùi dầu mỡ dính vào da thịt, và né tránh bàn tay sần sùi mỗi khi tao vuốt ve ân cần….Những đứa con trai mà trước đó tao không buồn để ý vì còn măng sữa dần dần đến chơi thường hơn, ở lại lâu hơn, và khi ra về nắm tay từ giã thiết tha hơn. Một lần tao thấy thằng nhỏ Dân khi ra về ‘hug’ Diệu dưới bóng đèn mờ của hiên nhà trong lúc tao đứng từ phòng ngủ nhìn ra. Tao thấy Diệu ngoái nhìn vào trong nhà, như có mặc cảm tội lỗi, và chờ thật lâu cho đến khi xe Dân đã khuất bóng mới lững thững vào nhà. Tối đó chúng tao cãi nhau một trận tơi bời. Từ đó không có anh nhóc nào bén mảng tới nhà, nhưng khoảng cách giữa tao và Diệu càng xa hơn. Diệu vẫn trông nom gia đình, các con tao vẫn mặc đủ áo ấm khi tới trường, vẫn có thức ăn nóng trên bàn, nhưng Diệu ít nói với tao hơn, nhiều khi viết giấy để lại chứ không chờ nhau hay nói cho nhau nghe những điều cần nói giữa hai vợ chồng.Tôi hỏi:- Tình trạng thê thảm đó kéo dài bao lâu?- Gần một năm, cho đến khi Diệu ra trường, kiếm được việc làm.- Và hai vợ chồng làm hòa?Đức lắc đầu:- Không, chỉ vui được vài tuần sau đó tình trạng tồi tệ hơn.Diệu không còn lệ thuộc tao về tài chánh nữa. Tao tự ái không thèm so sánh nhưng cũng biết là Diệu như một kế toán viên còn làm ra nhiều tiền hơn thằng thợ máy là tao lúc bấy giờ. Diệu chưng diện hơn và bắt đầu quen với khí hậu, với môi trường mới nên càng ngày càng xinh tươi, còn tao chỉ thêm ủ rũ, thương nhớ những ngày qua, luống tiếc cuộc đời quyền uy cũ.Tôi thở dài:- Đó là một lỗi lầm của mày.Đức gật đầu:- Bây giờ thì tao biết. Nhưng lúc đó tao u mê, và càng đẩy Diệu xa tao, vào vòng tay kẻ khác.Tôi thấy thật buồn như chuyện đó xãy ra cho chính mình:- Tao không ngờ. Diệu vốn rất ngây thơ.- Tao biết, cũng vì Diệu ngây thơ nên nghe theo những lời dịu dàng của những gã đàn ông chỉ tìm cách lợi dụng đàn bà. Diệu bắt đầu đi sớm về trễ, lấy cớ làm thêm giờ. Buổi tối nhiều khi ra khỏi nhà, nói cần lên thư viện học thêm để thăng tiến nghề nghiệp.Đức ngừng câu chuyện vì Loan vừa trở lại, mang theo hai phin café và phích nước sôi, và vì Loan như muốn nán lại chuyện trò. Tôi hỏi Loan:- Em đi làm như thế này bố mẹ em có bằng lòng không?Loan nghiêng đầu nhìn tôi:- Em ngồi với thầy một lát nhé.Tôi gật đầu, đúng dậy kéo chiếc ghế trống cho Loan ngồi xuống. Loan tâm sự:- Bố mẹ em không được vui lắm nhưng em nói là chỉ làm tạm.Hết năm học này là em tốt nghiệp rồi, và dù không có việc làm ngay nhưng không còn phải đóng học phí nên cũng không cần phải đi làm.Tôi ngần ngại:- Em nên cẩn thận. Buổi tối đi về nên có người đưa đón. Dù sao như vậy cũng yên tâm hơn.Loan nhìn tôi:- Em không có anh em trai lớn. Thầy…Loan cúi đầu không nói thêm. Tôi thở dài:- Để tôi nói Tùng đưa đón em.Loan giãy nảy:- Không được! Chúng nó cười chết. Với lại Tùng đâu có muốn vậy.Tôi mỉm cười:- Tôi cam đoan với em là Tùng sẽ rất vui lòng.Loan vẫn lắc đầu:- Em không thích thế. Thầy… ác lắm. Và Loan ngúng ngẩy đứng lên bỏ đi. Đức nheo mắt nhìn theo:- Phải nói là thầy… ngu ơi là ngu! Chết mày. Coi chừng lại ‘đong đưa cuộc tình’.Tôi lắc đầu:- Never happen. Nói tiếp chuyện của mày đi.Đức trở lại u buồn:- Lúc đó tao rất buồn, trời Minnesota rất lạnh. Tao hút thuốc nhiều hơn và đôi khi còn húng hắng ho. Diệu vin vào cớ đó và đòi ngủ giường riêng. Tao vừa buồn vừa tủi nên đành có thái độ dứt khoát.Một tối ngay khi Diệu ra khỏi nhà tao chở hai con theo sau xa xa. Diệu không đến thư viện như là Diệu nói nhưng lại là một căn nhà trong khu dân cư ở ngoại ô. Tao thấy Diệu đậu xe trên drive-way, bấm chuông đứng chờ. Tao ngồi trong xe bên kia đường và thấy người đàn ông đó ra mở cửa, giang tay ôm Diệu rồi dắt nhau vào nhà. Tao quặn đau nhìn hai mái đầu sát vào nhau in trên màn cửa sổ. Trời đổ mưa và bóng đêm nhạt nhòa. Đèn trong nhà vụt tắt, và bố con tao ngồi trong xe lặng lẽ khóc, chừng như khuya lắm mới dắt díu nhau ra về.Tôi thấy cay ở mắt:- Khi nghe mày gọi về Cali, nói là chúng mày ly dị vì không hợp nhau, tao có buồn nhưng không ngờ Diệu lại làm thế.Giọng Đức nghe thiểu não:- Và ngay đêm đó tao đã làm một việc ngu xuẩn nhất đời. Khi Diệu trở về tao hỏi thẳng là “mày đi ngủ với thằng nào”. Diệu mím môi không nói, chỉ hất mặt lên như bất cần, và tao đã dùng hết sức còn lại đấm vào khuôn mặt xinh đẹp đó. Diệu kêu nhẹ một tiếng nhưng không nói một lời, chỉ lặng lẽ vào nhà thu xếp, dắt hai con đi trong khi tao còn đang ngồi ôm đầu ở sa-lông.Đức ngừng nói, xoay nhẹ tách café trên bàn nhưng không uống, mắt nhìn một chỗ nào như rất xa xôi. Tôi vỗ vai bạn:- Khúc cuối của một chuyện tình buồn.Đức lắc đầu:- Chưa hết! Diệu moved-in với người đàn ông ngay đêm đó và vài tháng sau tao phải ra tòa về tội hành hung vợ. Tòa chỉ cảnh cáo, nhưng cuối cùng chúng tao ly dị, Diệu được giữ con, giữ nhà, còn tao bỏ đi lang  thang.Dù đã biết trước như vậy mà tôi còn thấy bất bình:- Đời chó đẻ, đau quá, phải không mày?Đức gõ nhẹ ngón tay trên bàn:- Đau thì có đau thật, nhưng nhờ đó mà tao ra khỏi ngõ cụt cuộc đời. Còn ít tiền dành dụm, tao bỏ việc thợ máy, thuê căn phòng nhỏ của nhà thằng An, trở lại trường và đâm đầu vào sách vở đề quên đời, quên nỗi buồn và nhất là quên Diệu. Đó là lúc mày mất liên lạc với tao vì tao không muốn bạn bè thương xót hoàn cảnh của mình.Tôi gật gù:- Tao hiểu.- Sách vở có làm tao quên nỗi buồn, nhưng không làm tao quên được Diệu, dù rằng sau đó tao có trải qua thêm dăm ba cuộc tình. Một mối tình khá sâu đậm, nhưng rồi cũng lại vỡ tan tành chỉ vì bóng ma dĩ vãng.Tôi mỉm cười:- Cái chuyện này thì tao chưa bao giờ nghe mày nói.Đức gật đầu:- Tao yêu Đào, em thằng An, chỉ vì Đào thoáng nhìn thật giống Diệu. Cũng mái tóc dài, dáng người mảnh mai, đôi mắt tròn và nước da trắng. Đào thỉnh thoảng đến thăm gia đình An, biết chuyện của tao nên từ xót thương đi dần đến yêu đương. Chúng tao có được với nhau một thời gian êm đềm khá dài, đến hơn một năm. Tao đã nói với Đào về một tương lai của hai đứa sau khi tao tốt nghiệp. Vợ chồng thằng An xúi thêm nhưng Đào vẫn ngần ngại vì sợ rằng tao chưa quên được Diệu. Tao biết trong thâm tâm tao không quên được Diệu, nhưng vẫn hứa hẹn với Đào là chuyện xưa đã qua, và đó là chuyện buồn nên tao đã quên.Tôi hỏi:- Đào tin mày?Đức gượng cười:- Tin cho đến ngày tao ra trường. Tối hôm đó An mở party mừng tao. Tao ôm Đào dìu nhau trong tiếng nhạc, Đào trượt chân và tao lơ đãng “Diệu, em dẫm lên chân anh bây giờ”. Đào đứng chết sững rồi òa khóc, đẩy mạnh tao, bỏ chạy ra về. Tao cố chạy theo, cố năn nỉ nhưng không bao giờ Đào tha thứ. Đào biết là tao còn nhớ thương Diệu và không muốn chia xẻ tình yêu với một bóng người của dĩ vãng. Tao rất buồn, muốn đi tìm một chân trời khác, hy vọng là sẽ quên được nơi chốn có những cuộc tình tan vỡ. Sau đó tao may mắn tìm được việc ở Florida nên bỏ Minnesota tuyết lạnh, về miền nắng ấm mong làm lại cuộc đời thêm một lần.Tôi đứng lên:- Đúng là chẳng ra cái ‘đếch’ gì. Nhưng cũng là tại mày chứ số mạng nào khiến mày gọi tên vợ cũ khi đang ôm người yêu mới! Tao còn muốn nghe chuyện mày và Yến, nhưng để vừa đi vừa nói. Tới đón em về không em lại cho mày lang thang một mình nốt cuộc đời. Đức cũng đứng lên:- Sẽ không bao giờ xảy ra. Bây giờ tao… khôn rồi.Tôi tới quầy trả tiền. Loan hỏi:- Sao thầy về sớm thế? Và một chút tinh nghịch, cười bằng mắt: – Cô đâu có ở nhà!Tôi lắc đầu:- Cũng không sớm lắm, mai Loan nhớ đi học nghe.Loan nhìn tôi cười:- Có bao giờ em vắng mặt giờ thầy Duy đâu!Tôi cũng cười:- Nhớ ra rồi. Em và Tùng không bao giờ vắng mặt.Loan lườm tôi:- Em và Tùng! Bộ Tùng ‘hối lộ’ thầy cái gì hay sao mà lúc nào thầy cũng nhắc tới Tùng?Tôi không trả lời, chỉ mỉm cười vẫy tay chào. Ra tới cửa Đức còn ngoái đầu nhìn lại. Nó chọc tôi:- Chết mày! Em nhìn theo đăm đăm.Tôi huých nhẹ vai Đức, không trả lời. Chúng tôi theo con dốc bưu điện về nhà mẹ Yến. Đức khoe:- Con đường này ngày đó tao và Yến vừa đi vừa hôn nhau bao nhiêu lần. Thoáng một cái mà cũng đã mấy năm.Tôi hỏi :- Hồi nào?- Từ từ tao ‘thú tội’ cho mày nghe. Ở Florida tao chẳng quen ai. Có thằng Bá ở Tampa nhưng cũng phải lái xe cả tiếng mới tới nên tao cũng ít gặp. Lúc đó là lúc tao liên lạc lại với vợ chồng mày, gọi mày sang nghỉ hè nhưng mày còn mê man với công việc, không thèm vác mặt sang.Tôi chống chế :- Tao chẳng tới thăm mày một lần là gì. Đức chửi thề:- Sư mày! Mày trên đường từ Brazil về, phải đổi phi cơ ở Miami, ngồi ngủ quên ở phi trường, trễ máy bay về California nên mới nhân tiện tới thăm ‘ông’ chứ mày tử tế gì. Chưa nói được câu nào đã chạy cong đuôi.Tôi cười trừ:- Thăm được là quí rồi. Tao bận bỏ mẹ. Sinh nhật vợ còn không nhớ. May mà Trinh nó hiền nên nó tha tao.Đức nói :- Mày may mắn hơn tao. Nhưng thôi để tao kể tiếp. Hơn năm trời quạnh hiu ở Florida tao rất buồn, chỉ biết đi làm, rồi ăn, rồi ngủ. Tao nghĩ thầm nếu cứ như vậy hoài thì một ngày nào đó tao sẽ héo hon và chết vì buồn. Hồi đó tao có sang thăm mấy thằng bạn quốc gia hành chánh xưa ở Nam Cali, nhưng khi về lại Florida tao còn thấy buồn hơn vì gia đình chúng nó hạnh phúc trong khi tao cu-ki một thân một mình. Tao cũng có trở về Minnesota một lần vì tao nhớ con tao. Diệu đưa con tới nhà An cho tao gặp nhưng không vào nhà. Tao thẫn thờ đứng nhìn theo xe Diệu. Cha con tao ôm nhau khóc vùi. Bé Oanh cứ sờ mặt tao mà gọi bố. Mày biết không, giá lúc đó Diệu vào nhà thì tao đã quỳ xuống xin Diệu trở về. Tao sẽ quên hết lỗi lầm xưa của hai đứa, sẽ yêu nhau như ngày xưa, khi chúng tao mới gặp nhau ở Mỹ Tho. Hèn quá phải không mày?Tôi lắc đầu:- Phải ở vào hoàn cảnh đó mới hiểu được. Thế có gặp lại Đào không?Đức lắc đầu:- Đào cũng đã lấy chồng và dọn về Virginia. Khi trở về lại Florida tao thấy bơ vơ trên xứ lạ, nhiều lúc muốn chết hơn là đối diện với cô đơn. Đó là lúc VN mới mở cửa, và tao quyết định về thăm nhà. Bố mẹ tao đã qua đời, chỉ còn gia đình ông anh trong ấp Thái Phiên. Tao gặp Yến ở đó, Yến là bạn của các cháu tao.Tôi cười :- Thế là ‘chú’ Đức yêu ‘cháu’ Yến tức thì, phải không? Lúc đó Yến ‘lên mấy’?Đức lại chửi thề:- Sư mày. Để yên cho ‘ông’ kể tiếp. Chuyện không giản dị như mày nghĩ đâu. Yến kém tao hơn 20 tuổi, nhưng cũng đã trải qua một cuộc tình, ly dị và có đứa con gái nhỏ. Đó là yếu tố làm chúng tao thông cảm và gần gũi nhau. Quả thực ban đầu Yến có gọi tao bằng chú, tuy nhiên chúng tao coi nhau như bạn bè và chia xẻ với nhau tâm sự chân thành. Cùng với hai đứa cháu gái chúng tao đi chơi chung, đi ăn tối, đi nhảy đầm, và chỉ có thế thôi. Khi trở về Mỹ tao mới thấy thương nhớ Yến, một phần vì tao cô đơn, nhưng tao cũng thấy như mình sống lại thời thanh xuân mỗi khi nghĩ tới Yến, và biết rằng tao không thể nào xa người đàn-bà-trẻ-con tao vừa gặp. Tao bắt đầu viết thư cho Yến, viết đều đặn mỗi tuần một lần bày tỏ tình cảm của mình. Có thư tao viết: Bây giờ thì tôi biết là tôi yêu Yến thực tình. Yến đừng gọi tôi bằng chú nữa, và cho tôi xưng anh với Yến nghe. Chúng mình đã nhiều đau khổ, hãy làm lại cuộc đời bên nhau, cho anh được yêu em, săn sóc em và con những tháng năm còn lại. Anh vụng về nhưng lòng anh chân thật. Xin em hãy tin anh, cho anh mang em và con về một nơi mà anh biết là chúng mình sẽ có hạnh phúc và con sẽ có cơ hội hơn ở bất cứ nơi nào.Tôi cười ha hả:- Tán cải lương như vậy thì em cảm động và chịu là cái chắc.Đức lắc đầu :- Đâu có dễ vậy. Yến cũng như con chim phải ná, vẫn còn rất e dè, không hoàn toàn tin tưởng bất cứ người đàn ông nào. Em nói rất có cảm tình với tao, nhưng chưa bao giờ nghĩ tới chuyện lứa đôi. Yến nói: Dù sao đi nữa thì nơi đây cũng là quê nhà. Yến có anh, có em, có bạn bè, khi vấp ngã có bàn tay nâng đỡ, có bờ vai cho Yến khóc vùi. Nơi xứ lạ Yến đâu có biết ai. Nhỡ anh hất hủi thì mẹ con em sẽ bơ vơ nơi xứ người. Em thì sao cũng được, nhưng còn con. Em làm thế sao đành.Tôi than thở:- Vậy mà ai cũng tưởng là cô gái nào cũng chỉ muốn tìm một người tình Việt kiều để ra khỏi VN. Tao nghĩ Yến là người thành thật. Rồi làm sao mày thuyết phục được em?- Tao viết cho Yến, than rằng đời tao chỉ bị đàn bà bỏ rơi chứ tao chưa phụ tình ai. Thư đi thư lại nhiều lần trong mấy tháng trời nhưng tao vẫn không lay chuyễn được ý định của Yến. Sau cùng không báo trước tao trở về VN, lên Đà Lạt tìm Yến. Lúc đó trời đã khuya, mưa rả rích và gió lạnh căm căm. Vai áo và tóc tao ướt mềm khi tao bấm chuông nhà Yến, run rẩy đứng chờ. Yến kêu lên hốt hoảng khi thấy tao, và bật khóc khi thấy tao té xỉu trước khi nói được một lời.- Thế là em bằng lòng?Đức gật đầu:- Tao đau và mê sảng mất một ngày. Khi tỉnh dậy câu đầu tiên tao nói là “Anh yêu em, anh chết mất nếu Yến không thương xót anh”. Chúng tao ôm nhau khóc ròng và sau đó là những ngày thần tiên.Đến lượt tôi chửi thề:- Mẹ mày! Uống thuốc liều. Nhưng tao phục mày. Như thế mới gọi là yêu!Đã tới gần nhà mẹ Yến. Đức đi chậm lại:- Để tao tóm tắt nốt cho mày nghe. Gần một năm sau tao mới đón được Yến và con sang Florida. Thằng ‘cà chớn’ Bá ở gần nên nó có đến thăm. Nó dọa tao là lấy vợ ‘nhí’ thế thì chỉ ít lâu là em sẽ giã từ tình anh.Tôi cười:- Tao có biết vài trường hợp như vậy. Mấy anh già mất vợ chỉ còn biết an ủi là ‘6 tháng thôi cũng đã lời chán”. Mày ‘lời nhiều lắm’ vì Yến đã sống với mày rất lâu. Mấy năm rồi đấy nhỉ?Đức gật đầu:- Hơn 4 năm, không phải chỉ ‘lời’ mà tao còn nợ Yến một món ân tình. Hơn năm trước đây tao bị stroke nhẹ, tưởng là đi đong, may mà chỉ méo mồm, liệt mất tay trái. Yến đã phải chăm sóc tao, và còn phải đi làm thêm trong xưởng plastic lấy tiền chữa chạy cho tao. Tao nằm nhà mất gần 6 tháng mới khỏi hẳn. Ân tình này nặng hơn núi Lâm Viên nhiều.Tôi vỗ vai Đức:- Có nghe Bá nói. Nó vẫn tếu, nói tại mày có vợ ‘nhí’ nên ‘hung hăng quá độ’, tí nữa là đi đong.Đức cười:- Mẹ cái thằng cà chớn! Tao còn tin vui này nữa nói cho mày hay. Tao không còn nhớ thương Diệu nữa. Chúng tao bây giờ lại là bạn rồi. Cuối cùng Diệu đã bỏ người tình cũ có lẽ vì những sôi nổi, ngu ngơ ban đầu qua mau, nhận thấy mình sai lầm, nhưng đã quá muộn để trở về với tao nên bước thêm bước nữa, lập gia đình với một giáo sư gốc Nhật. Hai vợ chồng có đến thăm tao. Diệu và Yến trở thành bạn thân, và các con tao cũng rất thương yêu Yến.Tôi nói:- Mừng cho mày. Có bao giờ mày tin vào ‘duyên phận’ hay không? Tao thì tao tin, dù rằng ý chí con người cũng có phần.Ngừng một chút tôi nói thêm:- Cũng cần có tấm lòng nữa. Như mày đã nói, mày vụng về nhưng mày có một tấm lòng, yêu ai cũng yêu bằng hết trái tim, như thế trước sau gì rồi hạnh phúc cũng trong tầm tay.Đức nói khẽ:- Cám ơn mày.Yến mở cửa cho chúng tôi. Trong bóng đêm trông Yến bé bỏng như hãy còn là sinh viên mới bước chân vào trường, như Loan, như Thủy trong lớp vi tính tôi đang hướng dẫn.Đức chỉ tôi giới thiệu:- Thằng Duy, bạn anh đấy.Yến đon đã, giọng bắc kỳ ngọt ngào:- Anh ạ, mời anh vào chơi.Quay sang Đức, Yến mắng yêu:- Anh ăn nói đứng đắn không em mách mẹ bây giờ.Tôi có chút khách sáo:- Chào chị và xin chị tha lỗi. Đức với tôi bạn bè từ nhỏ, mấy chục năm trời, không thay đổi cách xưng hô được đâu.Chỉ Đức, tôi mỉm cười:- Giao lại cho chị thằng Đức còn nguyên vẹn, và xin lỗi chị tôi chợt nhớ ra một việc phải làm nên cần đi ngay. Tối mai, khoảng 7 giờ, tôi sẽ tới đón chị và Đức tại Empress. Chúng mình đi ăn và sẽ nói chuyện nhiều.Tôi cúi chào và quay ra. Đức chạy theo:- Mày đi đâu giờ này?Tôi nói nhỏ:- Tao đi tìm thằng bé Tùng. Nhà Loan xa và ở nơi vắng vẻ, nên cần có người đưa về.Đức cười cười, giơ tay vẫy chào. Tôi bước nhanh hơn và hỏi thầm:- Nếu mình không tìm thấy Tùng đêm nay thì sao?Tôi chợt thấy bâng khuâng:- Hay là mình…Tôi thở dài, bước chân chậm lại như không dám nghĩ xa hơn. Gió thổi nhẹ, sương bay vướng ánh đèn đường, tôi rùng mình kéo cao cổ áo lạnh, và bỗng dưng thèm một vòng tay ấm áp như vòng tay của Trinh. 
    (1) Nhân vật trong truyện của H.H.Thủy
    Trần Quang Thiệu 

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.