GOOD MORNING VIET NAM
[huongxuan2016] ĐIỂM TIN DIỄN ĐÀN 29-02-2024 (SỐ 049-2024)
- Tuệ Ngữ
- Con đường xưa Em đi
- Chuyện một thuyền nhân
- Con Trăn Rừng Kè
- Niềm Vui Bình Dị sau ngày Tết Giáp Thìn 2024
- NATO CÓ BAO NHIÊU NƯỚC? SỨC MẠNH QUÂN SỰ RA SAO?
- Chuyện Vợ “Ông Nhà Thơ”
- KHI ĐÃ YÊU
- Thịt cầy
- Anh yêu ai?
- Mời đọc những bài viết
- Hải Ngoại Năm Châu Rợp Bóng Cờ
Tuệ Ngữ
1. Nếu bạn nhìn cuộc đời bằng đôi mắt phán xét, thế giới này sẽ chỉ toàn những người có khiếm khuyết.
– Nhìn bằng đôi mắt kiêu ngạo, thế giới này sẽ chỉ toàn những người thấp hèn và ngu ngốc.
– Nhìn bằng đôi mắt trí tuệ, bạn sẽ phát hiện ra rằng mỗi người bạn gặp phải, đều có những điểm đáng để bạn học hỏi và tôn trọng.
2. Thuốc tốt trên đời này, mỗi một loại thuốc chỉ có thể chữa một loại bệnh; còn thuốc tốt của tâm linh, trí tuệ và từ bi thì có thể chữa trị tất cả mọi khổ đau.
3. Con người vẫn hay than phiền không thể tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn, nhưng kỳ thực, trước giờ nó vẫn ở sâu trong lòng, bạn không cần phải tìm kiếm. Chỉ cần bạn có thể giữ tâm bất động, không “vì dục vọng mà cực khổ, bận rộn suốt cả ngày” thì tự nhiên sẽ cảm nhận được sự hiện hữu của nó.
4. Khi trong lòng bạn ngập tràn sự yên vui, thì đi đến đâu cũng đều là hoan hỷ tự tại; khi trong tâm tràn đầy trí huệ thì một cành hoa, cọng cỏ cũng khiến bạn nhìn ra được chân lý.
5. Thế giới mà bạn đang nhìn thấy, chỉ là phản ứng của nội tâm. Trong lúc tâm trạng cởi mở, nhìn thấy ai cũng là bạn bè thân thiết; còn khi đang buồn bực, đi đâu cũng chỉ thấy những khuôn mặt đáng ghét.
6. Tâm là nguồn gốc của sự an vui và cũng là nguồn gốc của sự đau khổ. Thân – khẩu – ý do một cái tâm chứa đầy hận thù và tham vọng gây ra thì chỉ mang đến đau khổ; ngược lại, những hành động, suy nghĩ, lời nói mà xuất phát từ một cái tâm thiện lành thì điều mang lại chính là phúc lạc.
Vô Vi
Con đường xưa Em đi
Trần Anh Kiệt

Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê…..
Con đường xưa em đi, thời gian có quên gì, đá mòn kia vẫn ghi….
(Nhạc Châu Kỳ-Lời Hồ Đình Phương)
“Con đường xưa em đi” gợi tôi nhớ đến con đường Duy Tân rộn rã tiếng cười của nữ sinh viên trường Luật, với mái tóc thề chấm ngang vai, với tà áo trắng tung bay. Con đường xưa tôi đi, trên miền đất lạnh, đem tôi về một dĩ vãng có ba giai đoạn của cuộc đời: thời sinh viên, những bước đầu tỵ nạn và lúc tuổi xế chiều. Ba tâm trạng khác nhau.
Ở tuổi mười chín, tôi bước chân trên con đường rợp bóng cây phong dưới chân đồi đại học Montréal với bầu nhiệt huyết của một du học sinh đến miền đất văn minh để xây dựng tương lai. Vào tuổi trung niên, từ trại tị nạn tôi trở lại đây, lạc lõng, bơ vơ, đến trường cũ xin bản sao văn bằng để đi tìm việc. Và ngày hôm nay, ở tuổi xế chiều, tôi trở lại con đường xưa, trên những bước đi chậm rãi, tôi suy gẫm về cuộc đời.
Con đường tôi đi mang tên Maplewood, có ý nghĩa là rừng phong nay đổi lại là Edouard Monpetit. Tôi đến đây lần đầu tiên vào mùa thu, lá đã thay màu, để tìm nhà trọ và viếng ngôi trường mới, Trường Bách Khoa, Đại học Montréal. Cuộc đời sinh viên của tôi thật êm ả, được hòa mình vào một môi trường sống thật hiền hòa, lương thiện. Khó có thể chối cãi ảnh hưởng tốt lành của việc sùng đạo công giáo của người Québecois lúc ấy. Con người đối xử với nhau rất chân thật, và đặt nặng chữ bác ái của Ki-tô giáo.
Có lẽ bản chất nông dân hiền hậu từ đất Bretagne, Normandie của nước Pháp được bảo tồn đến ngày nay qua cuộc di dân. Hầu như không có trôm cắp, báo La Presse, Le Devoir, giá 5 xu, 10 xu để bên lề đường tự người mua ý thức bỏ tiền vào hộp. Xe đạp, moto, không cần khóa. Giáo sư rất khiêm tốn, không giữ khoảng cách với sinh viên, sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi dù có khó khăn, đặc biệt là rất khoan dung với những anh chàng không cưỡng được cơn buồn ngủ, gục đầu trên bàn học. Sinh viên chỉ cần một cái búng tay kêu tiếng “tách” để gọi giáo sư hướng về mình để đặt câu hỏi. Giờ ra chơi, trò cùng thầy phì phà khói thuốc tiếp nối câu hỏi dở dang. Đó là những nhận xét về trường của tôi cách đây hơn nửa thế kỷ.
Mỗi ngày tôi phải leo hơn 100 bậc thang và một đoạn đường dốc để đến trường nằm trên đỉnh ngọn đồi. Không màng cái mệt thể xác, ngay cả lúc mùa đông giá rét, đường trơn trượt. Có lẽ nhờ tâm hồn vui vẻ, đầy phấn khởi và nhiều hy vọng ở tương lai. Bạn trong lớp thật là tốt bụng, thường đặt câu hỏi: đề thi có quá khó không? Họ không biết là những câu hỏi như thế chạm tự ái của những người đã đậu tú tài hạng Ưu hay Bình mới được học bổng du học. Lần đầu tiên họ tiếp xúc với thanh niên một nước chậm tiến nhưng bộ óc không chậm chút nào.
Lúc ấy Canada có mức sống cao hạng nhì trên thế giới, đứng sau Mỹ, nhờ nông nghiệp và khai thác khoáng sản, còn nước VN thật bé nhỏ, nghèo nàn. Nhưng tôi hãnh diện về lịch sử và văn hóa của nước tôi, nhất là nơi ấy tôi đã có một cuộc sống hạnh phúc, không có nhiều nhu cầu vật chất của một xã hội tiêu thụ.
Sự học không ngăn cản được cái khao khát tình yêu ở tuổi thanh niên nhất là trong khung cảnh tự do, xa gia đình, nơi xứ người. Nhưng sinh viên nữ VN quá ít nên chỉ có những anh chàng nhanh chân, khéo miệng mới được các nàng gật đầu chấp thuận một cuộc hẹn tay đôi, biến thành sự gắn bỏ cả cuộc đời. Cái cô đơn làm cho các chàng bớt khắt khe về dung nhan của người con gái. Có những cô nàng cẩn thận đi đâu cũng đòi có vài nhân chứng chaperons đi kèm cho đến khi chọn được một ứng cử viên vừa ý mới tách đi cặp.
Thời gian thử thách khá lâu. Có anh chán nản bỏ về VN lấy vợ đẹp. Tôi thấy rõ sự khao khát “cây nhà lá vườn” của đàn anh đến trước tôi ba năm nhưng lớn hơn tôi 5-7 tuổi. Nhân có một đoàn y tá và nữ hộ sinh VN được Gia Nã Đại cho qua tu nghiệp một năm tại các bệnh viện, các đàn anh của tôi đã tình nguyện dẫn các chị đi dạo chơi, xem thắng cảnh, đi mua sắm, ăn cơm tàu, để sau cùng quỳ gối trân trọng nói câu: “Anh muốn đem lại hạnh phúc cho em”! Cái bằng kỹ sư du học lúc ấy cũng có giá lắm, thêm vào đó, cái cung cách tôn trọng phụ nữ, học của tây phương, cùng với làn da hồng hào sau mấy năm thoát khỏi ánh nắng gay gắt của miền nhiệt đới. Làm sao em có thể từ chối tình yêu của anh được!
Thế rồi các chàng cùng các nàng về quê nhà thành thân bỏ lại sau lưng giấc mơ lấy bằng tiến sĩ. Chỉ có các anh cùng khóa với tôi xuống học ở ĐH Laval, vắng bóng hồng VN, chuyên tâm dồi mài kinh sử, hầu hết trở thành giáo sư đại học. Tại sao không có ai yêu mái tóc vàng, mắt xanh, da trắng? Có chớ sao không. Nhà văn KT, tốt nghiệp ĐH Laval, có nhiều mối tình nóng bỏng được anh kể lại rất hấp dẫn trong tiểu thuyết của anh, có nhiều đoạn rất là “kích dục”. Vậy thì còn “công lực” đâu để học lên tiến sĩ. Thôi, làm kỹ sư bachelor cũng được.
Ở phương trời Tây bây giờ, anh có còn nhớ thời oanh liệt hay không lúc tuổi đã về chiều? Tại Montréal có vài chàng thành thạo ăn chơi từ quê nhà, chê gái VN là “xấu, ngực lép, chân cong, hay õng ẹo”, họ đi săn tìm những cô gái tóc vàng bất chấp tuổi tác, trình độ văn hóa, giai tầng xã hội. Họ thành công trong việc thỏa mãn tình dục. Nhưng khó biết họ có được tình yêu hay không khi tìm sự kết hợp vội vàng trong quán bar, sàn nhảy, quán ăn, trên autobus… rồi không dứt ra được? Điều có thể thấy về sau là họ không có được những đứa con thông minh sáng láng như con của rất đông người tỵ nạn nghèo nhưng có văn hóa, có truyền thống giáo dục gia đình.
Tôi trở về quê hương lòng không vướng bận như các đàn anh dù đã có một lần mang một vết thương. Tôi trả được hiếu, đáp lại được ước mong của bà mẹ quê mòn mỏi trông con. Nhưng rồi mẹ tôi sớm qua đời và tôi cùng với hàng triệu đồng bào miền Nam đã trải qua bao khổ đau bên trong bức màn sắt của thiên đàng cộng sản. Đói khát, tù đày, tinh thần uất ức trước bao cái ngu, cái ác của bọn quỷ đỏ. Sau cùng, tôi cũng đã thành công đến được bến tự do.
Ở tuổi trung niên, với thân phận người ti nạn trắng tay, tôi trở lại con đường xưa, lên trường cũ xin bản sao văn bằng nộp đi tìm việc làm ở đầu thập niên 80. Tôi tìm thấy sự ấm áp, niềm nở nơi những người bạn làm việc ở VN thoát đi năm 1975. Chỉ trong 5 năm, họ đã thành công, có việc làm tốt, mua được nhà ở ngoại ô. Còn bạn du học thuở xưa thì sao? Có kẻ thủy chung cũng có người bội bạc. Tôi chỉ có một chút ngỡ ngàng vì ngạc nhiên trước cái bội bạc. Nhưng nó chỉ là một cơn gió thoảng so với những trận cuồng phong mà tôi đã trải qua trong lao tù cộng sản. Rồi tôi vững tin tiến bước trên con đường tạo dựng sự nghiệp trên quê hương mới.
Theo nhận định hạn hẹp của tôi, chân dung tổng quát của các du học sinh trước 1975 tại Montréal như sau. Những anh còn độc thân, dần dần bớt đi cái hợm hĩnh trí thức lúc ban đầu để đi tìm những bóng hồng trong đám người tỵ nạn giúp họ chấm dứt nỗi cô đơn. Những kẻ đã có gia đình kết hợp hai đầu lương đại học đều có cuộc sống thoải mái trong căn nhà ngoại ô, tập trung ở Brossard, Longueuil, Saint Lambert, Laval. Trong thập niên 80, họ bỏ ngoại ô chuyển về Ville Mont-Royal, khu nhà giàu, đồng thời với các nhà giàu mới trong ngành y, nha, dược, đã hội nhập thành công nơi quê hương mới. Một số ít muốn tìm sự khác biệt, đến sống ở Outremont trên núi cao, thủ phủ của nhà giàu và quyền thế nói tiếng Pháp, hoặc Wesmount có một thời được xếp là nơi cư dân có lợi tức trung bình cao nhất nước. Tôi có vài người bạn chọn Hampstead, khu nhà giàu Do Thái vì cho là nhà nơi đây mới hơn nhà Ville Mont Royal. Cô em vợ tôi, hai vợ chồng bác sĩ, tích lũy tiền bạc sau mấy năm làm việc ở vùng xa, trở về mua nhà ở Hampstead vì cơ duyên gặp một căn nhà đúng ý thích. Họ sống thoải mái cho đến một ngày cô nàng gặp một anh Do Thái đặt câu hỏi khi gặp nhau giữa đường: Cô làm bonne (người giúp việc nhà) cho nhà nào? Sao nó có thể nhìn người bác sĩ VN thành người bonne Philippines được!
Trách ai? Nhà Do Thái nào ở Hampstead lại không có bonne Philippines. Họ lấy tiền lương của bonne cho vào chi phí của xí nghiệp để trừ thuế. Thôi thì nhà anh anh ở, nhà tôi tôi ở, tránh tiếp xúc. Mấy anh Do Thái thật có tính tự tôn. Phải có chiếc Mercedes hay BMW bóng loáng chạy ngoài đường họ mới biết cái giàu của nghề bác sĩ. Khổ nỗi cô em vợ tôi tính cần kiệm, không thích khoe khoang, cảm thấy hạnh phúc với chiếc Corolla. Mặc cho mọi người đàm tiếu nói ta hà tiện. Đồng tiền mua nhà mới là đồng tiền khôn. Mua xe, tiền hao mất, mua nhà tiền nhân lên.
Tôi hòa mình với đồng bào tỵ nạn giống như tôi, có cùng một ý chí phấn đấu kiên cường, có tình thương sâu đậm hướng về thân nhân còn sót lại ở quê nhà. Tuy lợi tức còn ít oi, người tỵ nạn ào ạt cho tuôn về VN những món quà cứu đói cho cha mẹ, anh em, vợ hay chồng bị VC giam giữ, lưu đày. Các cháu của tôi, trong lúc anh tôi bị đày ra Bắc phải nuôi sống bằng bo bo và nước muối khi mẹ của chúng đắm chìm trong điên loạn. Ta hãy đọc lại lời ca thâm thúy, gây xúc động của Việt Dũng trong “Một chút quà cho quê hương”:
Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá. Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay. Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may. Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đầy… Con gởi về cho cha một manh áo trắng. Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây…
Các cửa hàng gởi thuốc về VN của bà B., ông T. làm ăn phát đạt cạnh tranh với Trạm Beaudry do một số du học sinh thân cộng quản lý. Những người nầy đã hoạt động tích cực trong phong trào phản chiến đả phá VNCH. Suy nghĩ kỹ, tôi thấy họ chỉ là nạn nhân lầm lạc của một chiến dịch truyền thông chống chiến tranh trên toàn thế giới. Họ không biết hay không thẩm lượng được cái ác, cái ngu của VC, tàn phá xứ sở, hủy diệt con người. Tôi đã chứng kiến sự thức tỉnh của nhiều người. Nếu họ là những người có tâm huyết chắc chắn họ phải đau lòng vì sự tụt hậu của VN sau 44 năm dưới quyền thống trị của một chế độ khát máu, phi nhân.
Tôi cảm thấy phải vinh danh người phụ nữ VN tỵ nạn trong đầu thập niên 80. Họ trở thành trụ cột gia đình, miệt mài lao lực ngày đêm trên chiếc máy may hay trong nhà bếp của các quán ăn. Họ giúp chồng yên tâm ăn học để sớm hội nhập vào xã hội mới. Nhiều người bác sĩ ở thế hệ đầu tiên phải mãi mãi mang món nợ ân tình nầy của người vợ đảm đang. Sau người mẹ là những đứa con ở thế hệ hai. Gương phấn đấu và sự cực khổ của cha mẹ đã rèn luyện cho đứa trẻ nhiều nghị lực và quyết tâm vươn lên trong xã hội. Chúng thành công rực rỡ làm thành thế hệ trẻ đông đảo trong ngành y, nha, dược. Truyền thống giáo dục gia đình nghiêm khắc của VN là nhân tố đem nhiều thành công cho con cái.
Tôi rất khâm phục đứa con gái lớn của một anh bạn thân vừa qua đời. Có chồng là trí thức nhưng cô ta lao lực cả đời với lương tối thiểu sống cần kiệm nuôi 4 người con tất cả thành bác sĩ. Tôi nhìn quanh tôi có những anh bạn có vợ Québecoise. Họ thường có một quan niệm giáo dục phóng khoáng, không ép buộc, để cho đứa trẻ phát triển theo sở thích của nó. Chơi hockey giỏi cũng kiếm được nhiều tiền cần gì phải làm anh mọt sách. Kết quả là tôi ít thấy có cô hay cậu “tây lai” nào làm nghề bác sĩ ở Montréal. Thông minh thì có nhưng “cote R” (điểm trung bình để xét vào các đại học ở Quebec) không cao vì thiếu cố gắng trên toàn bộ các môn học.
L’homme est un apprenti, la douleur est son maître (Alfred de Musset). (Con người là kẻ tập sự, đau khổ là thầy của họ). Có đau khổ người thi sĩ mới cho ra những vần thơ hay. Có thử thách con người mới rèn nên nghị lực. Thế hệ thứ hai của người tỵ nạn thành công nhờ thử thách của bản thân hay gương thử thách của gia đình trong những năm đầu sống khó khăn trên quê hương mới…
Nhưng trong gia đình nào cũng có câu hỏi khó giải đáp về hôn nhân của con mình: lấy Việt, lấy Tây, lấy Tàu, lấy Rệp, lấy da đen. Đây là câu tự hỏi về ước mơ của cha mẹ chớ có ai điều khiển được con mình. Nói đến làm mai là chúng giẫy nẩy lên cho là một hủ tục. Nhiều bà mẹ tuy ít biết ngoại ngữ nhưng thích con lấy Tây để lai giống đẹp. Dù dân tộc ta có anh hùng, có mỹ nhân, ta khó thể phủ nhận là dân da trắng được Thượng đế ban cho nhiều nét đẹp. Tôi thấy nhiều ông bà thật sự hạnh phúc khi nâng niu những đứa cháu lai đẹp như thiên thần.
Nhưng không phải lúc nào cũng có quyền gặp chúng nó, hôn chúng nó. Phải có hẹn trước như hẹn bác sĩ! Chưa kể phải tắm rửa sạch sẽ để khỏi nhiễm trùng cho trẻ con. Một bậc cha mẹ khác nói: “Tôi cũng thích có cháu lai nhưng chỉ sợ lấy Tây họ ăn ở không có cái “nghĩa”, dễ ly dị, gây khổ cho con và cho cháu. Do đó tôi thích con tôi lấy Việt Nam, bền vững hơn.” Nhưng cái nghĩa vợ chồng của xã hội VN, giới trẻ có hiểu nổi không? Có thực hành được không trong một xã hội đặt nặng chủ nghĩa cá nhân? Trong cái nghĩa phải có hy sinh và chịu đựng. Con cháu chúng ta có thấm nhuần ý nghĩa nầy không?
Cái duyên gặp gỡ VN để thành gia thất đôi khi rất hiếm mà người Tàu chung quanh thì lại khá đông. Đài Loan, Trung Cộng, Hong Kong, Tàu nào tốt hơn? Hy vọng Tàu nào cũng còn giữ được chút truyền thống Á Đông, cùng một nền văn hóa với VN nên vợ chồng dễ cảm thông nhất là trên vấn đề ẩm thực, vấn đề hiếu đạo và giáo dục con cái.
Vậy tâm lý vợ chồng Việt Hoa có bị chi phối bởi những sự kiện lịch sử không? Tôi nghĩ là không, đối với giới trẻ quen với giá trị bao dung. Nhưng biết đâu những cặp lớn tuổi khó tránh được cãi vã khi Tàu cộng xâm lăng VN. Gương nước Mỹ ngay trước mắt. Chồng bênh Trump, vợ chửi Trump. Kẻ bênh Clinton, người thóa mạ Clinton. Chồng vợ, con cái, cãi nhau vì Obamacare và Trumpcare… Đã có thăm dò ý kiến sâu rộng về sự xích mích nầy trong gia đình người Mỹ chớ không phải đoán mò.
Ở Montréal có rất nhiều người Á Rập Hồi Giáo vì chính quyền Québec thích nhận di dân nói tiếng Pháp nhưng lại ngứa mắt vì cái khăn đội đầu của phụ nữ. Họ ăn nói rất hay, có học thức cao, nước da từ café sữa đến trắng như Tây. Vợ tôi có thành kiến với người Á Rập vì lúc ở Phi Châu bà có một người bạn VN đau khổ vì người chồng Ai Cập. Lấy nó vì tưởng nó là Tây thiệt! Ngoài ra, bà lại thấy trước mắt con của một người bạn bị một anh sinh viên Á Rập bỏ rơi sau nhiều năm chung sống. Không có tình yêu, hắn chỉ lợi dụng để có quốc tịch rồi cao bay xa chạy.
Hơn nữa cái truyền thống đa thê của Hồi Giáo luôn luôn đe dọa người vợ dù ở Canada. Rất nhiều người mẹ đơn thân ăn trợ cấp xã hội của chính phủ là vợ hai, vợ ba, vợ bốn của những người Á rập. Đây là chuyện đau đầu tràn lan tại Pháp và đương nhiên đã hay sẽ xảy ra ở Montréal làm người đóng thuế không hài lòng.
Nói đến da đen là một vấn đề tế nhị. Thượng đế quá bất công đối với họ. Người Việt chúng ta rất kỳ thị màu da đen. Vì thẩm mỹ chớ không phải vì dòng máu hay địa vị xã hội. Khi tôi làm việc ở Phi Châu, một anh kỹ sư da đen nói với tôi: Tôi có một người bạn ở Abidjan yêu một cô gái VN nhưng không đi đến được hôn nhân vì cha mẹ của nàng đòi tự tử. Nó không hiểu tại sao!
Trên đây là lời luận bàn về những ước mơ của bậc cha mẹ. Trên thực tế sau cùng con muốn sao thì ta phải chịu vậy. Ta có thể rèn luyện nghị lực cho nó nhưng khó uốn nắn trái tim của nó. Thôi đành nhắm mắt xuôi tay, để xem con tạo xoay vần tới đâu.
Tôi nhịp bước trên con đường xưa lòng miên man suy nghĩ. Sau 5 tháng làm loài chim tuyết xuống phía Nam hưởng nắng ấm, tránh mùa đông phương Bắc, tôi lại quay về cố hương. Tận hưởng mùa hè, mùa thu ở Gia Nã Đạị rồi lại bay đi khi tuyết đến. Tôi hiểu bí quyết để sống vui sau khi về hưu là quẳng gánh lo đi. Có thì giờ chia sẻ công việc nhà với người vợ đảm đang, trong bao nhiêu năm làm người nội trợ thầm lặng rất mệt nhọc để tôi dành thời gian cho sự nghiệp.
Cái âu lo cho cá nhân không còn nhưng cái đau khổ cho đất nước vẫn luôn luôn làm ray rứt tâm hồn tôi. Thật đau lòng khi thấy phụ nữ VN phải đi làm nô lệ tại gia ở các nước Á Châu hay các nước Á Rập. Nam giới thì làm lao nô ở nước ngoài với đồng lương thấp kém làm giàu cho bọn tham ô Cộng Sản ngồi hưởng huê hồng. Nhiều người bạn của tôi đem sấm Trạng Trình ra bàn, đã quả quyết là cộng sản sắp chết khi có cách mạng hoa lài ở Tunisie. Nhưng họ đã ra đi trước khi nó chết. Những tưởng sự sụp đổ bức tường Bá Linh làm chúng thức tỉnh trả tự do cho dân tộc nhưng chúng lại van xin Tàu Cộng cứu chúng, được trao đổi bằng văn kiện bán nước: Hiệp Ứớc Thành Đô.
Bao giờ Cộng Sản mới chết để em về thăm VN? Nhà tôi đặt câu hỏi. Dieu seul le sait! Trời biết. Đã gần nửa thế kỷ chờ mong.
Trần Anh Kiệt
Chuyện một thuyền nhân
Sau nhiều năm “luyện chưởng” ở miền Bắc, tôi được phép “hạ san”. Cầm tờ “lệnh tạm tha” tôi trở về thành phố đã thay tên, từ cảnh vật đến tình người đều thay đổi, tôi ngơ ngác như Mán ra thành.
Tuy đã ra khỏi “lò hấp”, nhưng người ta vẫn “quan tâm?” về tôi, ngày ngày cho chú công an khu vực đến “vấn an sức khỏe” và mỗi tuần tôi phải lên trụ sở công an phường để họ ngắm dung nhan cùng đóng một con dấu đỏ vào tờ giấy ra trại.
Dù tỏ ra “ưu ái” nhưng khi tôi xin phép về quê để viếng mộ Cha-Mẹ, tôi phải đợi dài cả cổ. Hỏi thì được trả lời “đang kíu xét”. Tâm sự với thằng bạn thì nó hỏi:
– Mầy có gì cho nó chưa?
Tôi đáp:
– Tao vừa mới ra tù, không một đồng xu dính túi, lấy gì mà hối lộ?
Nó cười:
– Dễ lắm, chỉ cần vài điếu thuốc có cán thôi.
Tuy không tin lắm, nhưng tôi cũng thử cầu may. Tôi xin người thân tiền mua 3 điếu thuốc có đầu lọc, mượn cái hộp quẹt của ông anh vợ, rồi đến gặp tên cán bộ phụ trách, mồi điếu thuốc mời anh ta hút và tặng luôn 2 điếu bỏ túi, thế là tôi có ngay tờ giấy phép đi đường.
Hết xẩy! Từ đó về sau, mỗi khi cần gì tôi chỉ bổn cũ soạn lại hoặc đôi khi cho chắc ăn hơn, tôi mua vài tờ vé số cặp 2 hoặc 3 (1 đồng/tờ) trao cho tên cán bộ, rằng thì là cán bộ lương chẳng nhiều, giữ vài tấm vé số nầy biết đâu gặp may trúng độc đắc sẽ đổi đời; nghe bùi tai nên lúc nào họ cũng thỏa mãn ngay cho tôi khỏi cần “kíu xét”.
Về thăm lại nơi chôn nhao cắt rốn cách Sài Gòn hơn trăm cây số, quê tôi trước 1975 thật trù phú, nhưng nay cũng cùng số phận hẩm hiu của cả miền nam, trở nên tiêu điều, người dân vất vả hơn, câm nín hơn và nhất là vắng tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ….
Tôi vốn luôn nghĩ rằng Sinh-Lão-Bệnh-Tử là luật của vũ trụ, chẳng ai tránh khỏi, nên ngay trước sự ra đi của người thân tôi cũng xem đó là điều tự nhiên, chẳng có gì phải bi lụy; nhưng lần nầy, đứng trước mồ của mẹ, nước mắt tôi tự dưng tuôn thành giòng. Một mảng ký ức trở về trong tâm khảm tôi:
“Vào những ngày cuối của tháng 3/1975, di tản từ V1DH về trú ở V3DH, tôi gặp lại ông Xếp cũ năm 1972 cùng phục vụ ở CCHQ/MT mà hiện là HT của 1 chiến hạm. Tôi hỏi ông đi đâu? Ông bảo muốn kiếm vài bản đồ vùng Đông Nam Á. Tôi vào phòng thằng bạn lấy cho ông vài bản. Ông vỗ vai tôi thân mật bảo:
– Anh về nói với bà Cụ (Mẹ tôi) chuẩn bị sẵn, khi tôi đến đón gia đình bên vợ sẽ đón luôn gia đình anh.
Số là, ông rất mến tôi vì khi tôi phụ tá ông, mọi việc của căn cứ tôi đều cán đáng. Ngoài ra, ông lập gia đình với một người phụ nữ gần nhà tôi, tức ngoài tình chiến hữu còn có thêm tình chòm xóm. Tôi cám ơn ông, nhưng cho biết là sẽ không đi.
Rồi ngày 29/04/1975,ông Xếp của tôi là Đô Đốc TL/HQ/V1DH và ĐĐ.TL/HQ/V3DH, trước khi lên xe ra Vũng Tàu để xuống chiến hạm 2 ông cũng đã khuyên tôi nên cùng đi với 2 ông:
– Anh ở lại với tụi nó không được đâu.
Tôi cám ơn 2 ông nhưng khước từ ra đi và trở về Sài Gòn để sau đó đi tù. Tuy nhiên, cho đến nay, tôi không ân hận chút nào về quyết định nầy. Vì tôi không thể bỏ Mẹ tôi để ra đi. Mẹ tôi, người đã cho tôi cả một tình thương bao la, ngay từ khi ba tôi bỏ gia đình đi sống với một bóng sắc khác lúc tôi vừa tròn tuổi thôi nôi. Dù nhà thật nghèo, phải vô cùng vất vả, nhưng Mẹ tôi lúc nào cũng vì Nội và 2 chị em tôi. Mẹ tôi thủ tiết cho đến khi nhắm mắt lìa đời năm 1976, đúng vào lúc kẻ cướp đày tôi lên vùng thượng du Bắc Việt.
Tôi đã đi biết bao sông dài, biển rộng, nhưng không có đại dương nào bao la bằng tình thương của Mẹ tôi. Tôi cũng đã có dịp đi công tác ở nước ngoài, thấy được sự văn minh, giàu có của họ, nhưng không có vật chất nào đủ hấp dẫn để tôi phải xa Mẹ tôi. Tiếc thay việc ở lại của tôi chỉ là điều vô nghĩa vì ước nguyện được cận kề Mẹ tôi đã không thành. Mẹ tôi, một người phụ nữ hiền lành, chất phác, không biết chữ để đọc được sách thánh hiền, nhưng bản chất đôn hậu, luôn yêu thương, giúp đỡ mọi người, nên rất được hàng xóm mến, và cả gia tộc nhà chồng thương, tuy nhiên thật tội nghiệp, chỉ có thằng con trai là tôi nhưng từ khi tôi học trung học, đại học và làm lính với cuộc sống phiêu bồng thì chẳng mấy khi được gần con, thậm chí trước khi nhắm mắt lìa đời cũng không được thấy con lần cuối.
Trở lên Sài Gòn, lần nầy tôi quyết định phải ra đi. Nghe nói có thằng bạn cùng khóa HQ, thường tổ chức vượt biên. Tôi tìm đến, đề nghị lái ghe cho nó. Nó đồng ý nhưng chỉ cho thêm một chỗ. Tôi trình bày là tôi có một vợ và một con, chẳng lẽ phải để lại người nào? Nó dứt khoát một chỗ, nếu nhận thì đánh, không thì thôi. Tôi từ chối, lủi thủi ra về, lòng ít nhiều xót xa, nhớ lại kỷ niệm 2 năm chung quân trường và vào năm 72-73 khi tôi phục vụ ở CC/HQ/MT, lúc đó nó bị nạn dường như vụ còi hụ Long An, ghé tôi và tôi vẫn đối xử trong tình bạn. Rồi cơn buồn chỉ thoáng qua, vì vào thời điểm 1983 phong trào vượt biên còn khá rần rộ, tôi lại là lính biển thứ thiệt, chắc sẽ không đến nỗi nào và đúng như tôi nghĩ, không biết họ lấy tin từ đâu mà nhanh thật. Nhiều tổ chức đã đến đề nghị tôi cộng tác với họ, kể cả một tên Đại Úy bộ đội. Trước kia, tôi không rõ về VC lắm, nhưng giờ thì cho cả kho vàng Fort Knox tôi cũng không tin nổi họ, do đó tôi cho biết là 29/04/1975 đang ở Vũng Tàu, dù có phương tiện nhưng tôi đã không đi, vì không đâu đẹp bằng quê hương mình, vả lại sau nhiều năm cải tạo, tôi đã hiểu được lao động là vinh quang, nên từ nay sẽ hăng say lao động để góp phần làm cho đất nước ta giàu mạnh. Tên bộ đội, không biết là muốn bẫy tôi hay thực sự đã chán ghét chế độ, hắn tròn mắt nhìn tôi và nghĩ có lẽ tôi mới vừa ở Chợ Quán hay Biên Hòa ra, nên vội vã kiếu từ. Những tổ chức vượt biên, nếu để hốt vàng thì thường chỉ cho người Hoa Tiêu thêm 2 chỗ, còn nếu không vì thương mại thì họ chấp nhận cho cả gia đình người lái cùng đi. Lần đầu, tôi đến với một gia đình ở Sa Đéc, nhưng thấy không thuận lợi, nên không tiến hành. Lần thứ hai, gia đình của cựu Đại Tá Tỉnh Trưởng Gò Công đề nghị tôi hợp tác và đưa tôi về Bến Tre để cùng nhà văn Kim Nhật tìm phương cách ra đi. Ông nầy nguyên là Bác Sĩ y khoa, mê chủ thuyết cộng sản nên theo VC và giữ chức giảng nghiệm viên y khoa ở cục R, nhưng khi rõ bộ mặt thật đê hèn và man rợ của chúng, ông bỏ về thành viết cuốn Đường về R và bị VC tuyên án tử hình khiếm diện nên phải trốn về Bến Tre để sống. Nguyên là BS, nhưng ông ăn trầu bỏm bẻm, đi chân đất… Sống như một bần cố nông thứ thiệt, ông kịch giỏi đến nỗi sống chung với hàng xóm toàn là VC nơi quê hương đồng khởi của chị Ba Định mà không ai biết được hành tung. Từ nhà ông ra biển, với một chiếc ghe nhỏ gắn buồm con, hai cây dầm, một hai tấm lưới bén, một cái thạp nhỏ và ít muối hột, ông cùng cậu con khoảng 7, 8 tuổi và tôi dãi nắng, dầm mưa trong 2 ngày lần dò ra cửa biển. Trên đường đi, gặp bất cứ trạm kiểm soát nào ông cũng tự động ghé vào, trình thẻ đảng và hỏi các đồng chí nhờ chỉ giùm nơi nào có thể lưới kiếm chút cá về làm mắm trong khi chờ mạ lớn để cấy. Tôi vốn là dân thành phố da dẻ trắng trẻo lại vừa ở tù ra không có giấy tờ, nên những khi đó tim tôi đập liên hồi. Ông giải thích:
– Chú không biết, VC là chúa đa nghi, mình phải cao tay ấn nếu không chúng nghi sẽ hạch hỏi, còn tránh né hoặc không tuân thủ chúng sẽ dùng AK hoặc thượng liên để giải quyết. Tuy đôi khi cũng có vài tên VC xuống kiểm soát ghe, nhưng thấy không có vẻ gì khả nghi, nên chúng cũng cho đi. Thời gian ở bên nhà văn Kim Nhật không lâu, nhưng ông kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện của VC, thú vị nhất là việc anh Ba mặt nám tức Lê Duẩn khi làm bí thư xứ ủy Nam Bộ đã đê tiện hiếp chị X… Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Cần Thơ. Chị là con của một ông Hội Đồng giàu có, là hoa khôi của Tây Đô và có vị hôn phu là Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn nổi danh 307. Lê Duẩn đã điều vị Tiểu Đoàn Trưởng nầy đi xa để ly gián hai người, rồi ra lệnh cho chị Chủ Tịch Liên Hiệp Phụ Nữ Nam Bộ cùng chị X vào cục nhận công tác. Khi bị Lê Duẩn hiếp, chị X đã kêu la cầu cứu, nhưng chẳng ai dám can thiệp, kể cả nhà văn Kim Nhật. Bất mãn, buồn chán… Ông bỏ trốn về thành….
2 hôm sau, tôi trở lên Sài Gòn, trình bày mọi việc cho tổ chức. Nhận thấy là thái độ của nhà văn Kim Nhật chưa dứt khoát, vì Ba ông không muốn xa con cháu; riêng ông có vẻ mong 1 người đồng chí cũ hiện giữ chức vụ lớn trong Quốc Doanh đánh cá đang tìm cách cướp 1 chiếc ghe tốt, có trang bị vũ khí để vượt biển được an toàn hơn chiếc ghe sông nhỏ với thành ghe rất thấp không thích hợp để đi biển của gia đình ông cựu Đại Tá Tỉnh Trưởng Gò Công.
Rồi tôi nhận lái ghe cho 1 tổ chức người Hoa. Họ cho tôi 2 chỗ và thêm 1 người bạn của cậu em vợ được tháp tùng với giá đặc biệt 1 lượng vàng. Tôi bàn tính mọi việc với Bà chủ ghe, Bà nghe tôi nhưng cho rằng “tôi là người quan trọng nhất, không nên lộ diện sớm, chỉ nên đi như khách và chỉ nhận trách nhiệm khi ghe ở ngoài biển”. Tôi đồng ý.
Đúng ngày hẹn, ghe Taxi đón chúng tôi gần bến phà Thủ Thiêm. Đến Cần Giuộc, Cần Đước gì đó khoảng 2, 3 giờ đêm; người lái Taxi cho biết là “động rồi, cá lớn phải chạy về Vĩnh Bình ẩn và yêu cầu chúng tôi lên bờ tự túc về nhà”. Ghe Taxi chở khoảng 20 người, hầu hết là người Hoa, tôi khuyên họ là nên phân nhóm nhỏ 2, 3 người để di chuyển nhằm tránh sự nghi ngờ của dân địa phương và lực lượng dân phòng. Nhờ là lính biển, quen nhìn phương hướng, tôi dẫn cô em gái, cậu em vợ và bạn nó, tìm ra được bến xe đi Chợ Lớn. Len lén ngoái đầu lại, thì tất cả mọi người cùng đi trên chiếc ghe Taxi cũng đã có mặt. Xe chở khách bán buôn, đã đầy nghẹt, còn quang, gánh thì cũng đầy trên nóc và lủng lẳng khắp thành xe. Tới mỗi trạm gác thì người phụ xế đều chạy đi nạp hối lộ, do đó không hề có sự kiểm soát nào, nhờ đó chúng tôi may mắn về đến Sài Gòn được an toàn.
Bà chủ ghe đến gặp tôi và trấn an, tôi yên chí, không hề thắc mắc là thời đó chưa có điện thoại di động để liên lạc thì làm sao ghe Taxi biết được là đã bị động. Mải vài hôm sau, cháu của bà chủ đến gặp tôi. Chị là vợ của một Thiếu Tá Công Binh đã vượt biển thành công sang Úc và đã làm thủ tục bảo lãnh vợ – con, nhưng có lẽ vì nóng lòng hoặc không chịu nổi sự hoạnh họe của lũ VC ở địa phương Cây Gõ nên chị liều lĩnh vượt biên trước. Chị Y khóc lóc kể với tôi rằng chiếc ghe trị giá 12 lượng vàng mà phần chị và 3 người con đã góp vào 8 lượng, nhưng bà chủ ghe dì ruột của chị vì tham dùng người lái phụ chỉ tốn thêm 1 chỗ đã lái ghe đi, bỏ rơi cả gia đình chị. Tôi nghèn nghẹn, nhưng cũng chỉ biết an ủi chị rằng lòng người khó mà dò.
Ít lâu sau, có 2 người đến gặp tôi nhờ lái ghe. Người đàn ông xưng là dân Quốc Gia Hành Chánh Cựu Phó Quận Trưởng Quận Cần Đước. Bà vợ thì đeo cẩm thạch, vàng đầy tay và chiếc đồng hồ hiệu Citizen (thời đó Citizen là đồng hồ thuộc loại xịn) để khoe của và sự thành công. Trong khi bàn bạc và bày vẽ phương cách ra đi cùng họ, tôi đã thật thà khai báo là “vừa bị 1 tổ chức lừa, nhưng tôi nghĩ là họ sẽ không tệ như tổ chức kia”. Họ cười cười và hẹn 2 ngày sau sẽ đến đón tôi, nhưng hơn tuần lễ vẫn không thấy, tôi bèn tìm đến nhà họ ở đường Tôn Thất Thiệp khu Chợ Trời để hỏi, thì người nhà của cặp nầy cho biết là chưa thuận lợi để đi và sẽ báo ngay cho tôi khi họ quyết định. Tôi ra về, nhưng sau đó được biết là họ đã bỏ rơi tôi, dùng người lái phụ lái ra cửa Tiểu thì bị Công An Tỉnh Tiền Giang xét bắt, cả 150 người khách và Ông-Bà chủ ghe phải đi gỡ lịch. Thật may! Số tôi đã hết dịp đi tù.
Tôi vốn gốc dân quê không lanh lợi, lớn lên đi học, đi lính, rồi đi tù nên thật ngờ nghệch trước những đổi thay của xã hội thời VC. Sau 2 lần bị gạt, tôi thật hoang mang, cộng với chuyện gia đình không vui, nên tuy bề ngoài luôn cười cợt, nhưng bên trong lại thường khóc thầm. Biết điều phiền muộn của tôi, người anh vợ từ sau khi ra tù, ngày ngày phải đạp xích lô để kiếm sống, nhưng thỉnh thoảng cũng đi vác củi thuê cho Ty Chất Đốt của thành phố, để khỏi phải đi vùng kinh tế mới và anh đã đề nghị tôi cùng làm việc nầy. Tôi lên phường xin cấp cho 1 giấy tờ hợp pháp để tôi làm việc cho Ty Chất Đốt Thành Phố. Những chức sắc của VC hầu hết đều không có trình độ văn hóa, thường chỉ do có công với “cách mạng” mà được chỉ định phụ trách điều hành công việc hành chánh. Tên Cán Bộ Phường Trưởng vui vẻ bắt tay tôi và gọi tôi là đồng chí, làm tôi nổi da gà.
Ty Chất Đốt tọa lạc trên đường Trần Quý Cáp thuộc Quận 3. Hàng ngày họ cắt 5-6 xe vận tải lên rừng chở củi về thành phố. Mỗi chiếc xe, ngoài tài xế là nhân viên cơ hữu của Ty, còn chúng tôi 5, 6 đứa chỉ là phu công nhật. Tài xế vận tải thời nầy có thớ lắm, thật khá giả và rất hách dịch. Số xe lên rừng mỗi ngày chỉ cần vài chục người phu, nhưng số người chầu chực buổi sáng mong được cắt đi lúc nào cũng khoảng vài trăm và người phụ trách chấm công lại là 1 cựu Trung Úy VNCH. Không rõ người anh vợ tôi đã nói gì mà mỗi khi thấy tôi thì ông cựu Trung Úy nầy đều chỉ định tôi đi làm và có lần còn kề tai nói nhỏ:
– Khi nào dzọt, đàn anh nhớ thằng em nầy với nhé.
Từ nhà tôi ở Phú Nhuận ra đến Ty Chất Đốt, tốn 5 đồng xe lam, 2 ngày ở trong rừng ăn 4 dĩa cơm với vài miếng ba rọi kho và chút rau muống tốn 40 đồng cộng thêm 4 đồng trà đá vì trời nóng như thiêu, vị chi là 49 đồng, nhưng khi được trả công chỉ nhận có 50, hoặc 55 đồng. Đường lên rừng Xuân Lộc, Hớn Quản, Lộc Ninh, Trảng Bàng… thật khủng khiếp, không chỉ ổ gà mà toàn lỗ chân Khủng Long, ngồi trong lòng xe mà bị dằn xốc đến nỗi có lần tôi treo một cái võng nylon để nằm và chiếc võng đã bị đứt làm đôi.
Sáng thì bụng trống trơn, lên đến rừng thì tên tài xế ra lệnh phải lăn xả vào công việc, trời thì nắng như thiêu, nhiều lần tôi bị choáng váng. Nếu 1975, khi tôi tù ở Long Giao, VC đã đốn vô tội vạ cao su ở Long Khánh để làm củi thì nay chúng cũng tàn phá những rừng của Miền Nam để lấy củi. Những khúc củi dài 2 mét, đường kính từ hai đến 4 tấc có khi nặng cả trăm kí lô gram. Chúng tôi phải khiêng đến xe với khoảng cách vài chục đến trăm mét, rồi chất lên xe tải có mui, lèn kín củi như chất que diêm trong một cái hộp quẹt. Tội nghiệp, mấy cậu trai trẻ thấy tôi quá đuối nhiều lần đề nghị:
– Ông thầy mới ra tù, khiêng hổng nổi đâu, để tụi em làm.
Tôi thật cảm động, cám ơn các em, nhưng cũng phải ráng hết sức mình. Chất kín củi lên xe đã khó, mà chừa hộc để tên tài xế giấu nhựa cao su hay cà phê hoặc đậu xanh lại càng khó. Chắc chắn là hắn đã ăn chịu, nên chẳng ai dám tố cáo, còn nếu rủi bị thuế vụ xét gặp thì hắn sẽ đổ đẩy cho lũ phu chịu tội. May là chuyện bị xét đã không xảy ra lần nào. Chỗ xuống củi để trữ cho thành phố là khu đất gần Trung Tâm Tiếp Huyết và Tổng Y Viện Cộng Hòa. Việc xuống củi thì tương đối dễ dàng hơn. Trên đường Võ Di Nguy đoạn gần khu chứa củi thì con buôn đã đứng sẵn rất nhiều và các cậu phu lợi dụng đẩy xuống đường vài khúc củi để kiếm thêm vài trăm đồng. Phần tôi, đang đóng kịch đã giác ngộ lao động là vinh quang, nên dù một đêm trên rừng làm mồi cho muỗi đốt, khổ sở, vất vả, bầm dập tay chân.. để hầu như làm việc không công, nhưng tôi vẫn làm ra vẻ vui vẻ, còn các cậu trai trẻ thì đâu thể ngu như tôi rồi lấy gì sống. Chính VC đã đẩy các em phải mánh mung để sinh tồn.
Rồi một ông Trung Tá Công Binh mời tôi tham gia tổ chức của ông. Ông dẫn tôi đến xem chiếc ghe đang tân trang. Ghe dài khoảng 17 mét, 4 máy. Ông cho biết đã có 2 khẩu đại liên M60, 2 cây phóng lựu M79, 1 khẩu M16, vài thùng đạn và tuyên bố là nếu bị VC xét thì ăn thua đủ để thoát hoặc chết, quyết không để chúng bắt. Dù không thấy súng ống, nhưng tôi thích phương cách của ông Trung Tá Công Binh nầy. Tiếc là để kiếm cho đủ 250 người khách vượt biên như ông muốn không phải dễ và chẳng biết đến bao giờ.
Sau đó, một ông Trung Tá Dù đề nghị tôi lái cho 1 tổ chức đã có liên tục 10 chuyến thành công. Ông ta chỉ cho tôi thêm một chỗ và dù chưa thấy qua chiếc ghe, nhưng tôi vẫn nhận vì bằng mọi giá tôi đã nhất quyết phải ra đi. Ông giao cho tôi một số tiền để mua sắm hải đồ và tôi may mắn được em của một người bạn cùng khóa HQ bán rẻ nửa giá.
Trước khi ra đi, tôi đã dùng số tiền thừa phân nửa đó để đãi cho 4 đứa con của người dì vợ, mỗi đứa 1 tô bò viên ở chợ Phú Nhuận.Nhìn những đứa bé sung sướng xì xụp với tô bò viên, tôi thật xúc động. Trước 1975, nhà chúng cũng không tệ, nhưng khi VC thống trị thì trở nên nheo nhóc, cha là ngụy nên phải đi tù, mẹ thì muôn ngàn khó khăn để nuôi đàn con đông nheo nhóc, do đó trong nhiều năm chúng chỉ biết cơm độn với rau muống chấm nước mắm kho quẹt. Riêng cô chị cả của chúng, 16 tuổi đã đỗ tú tài 2, hạng tối ưu và nhờ học ở hội Việt-Mỹ nên khá thạo tiếng Anh, nhưng vì lý lịch con ngụy nên không được tiếp tục học, cũng không xin được việc làm. Cô tâm sự:
– Người xứng với em thì hoặc đang ở nước ngoài hoặc còn trong tù, còn lũ người rừng nầy (VC), thì dù chết em cũng không ưng.
Do đó cô đã lén lút buôn chuyến, xuống miền Tây mua ít thịt thà, cá mắm đem về Sài Gòn bán kiếm chút lời, nhưng thời đó những món nầy đều bị cấm, bị chận xét, tịch thu và phạt; nên 10 chuyến chỉ họa hoằn 1, 2 chuyến là thoát. Kiếm được chút đỉnh, vay mượn thêm, cô vượt biển nhiều lần, nhưng đều thất bại và sau cùng bị chết đuối. Tội nghiệp, cô rất ngoan đạo, nhưng phận bạc phải lìa đời lúc tuổi còn thanh xuân.
Người trong tổ chức của ông Trung Tá Dù, chở tôi từ Sài Gòn xuống Vĩnh Bình bằng xe gắn máy. Ông nầy là cựu Đại Úy Biệt Động Quân, người to lớn, mập mạp, đội nón cối, đi dép râu, giống hệt 1 cán bộ VC, còn tôi với giấy tờ giả, ôm sacoche theo ông như là tà lọt. Nghe nói ông gốc dân Văn Khoa, không biết làm cách nào mà có dạo phụ trách thảo diễn văn cho tên Tư Lệnh Quân Khu 7 của VC.
Đón chúng tôi ở 1 quán cà phê ở Vĩnh Bình là 1 bí thư Xã Ủy VC. Ông nầy mê cộng sản, đã hiến 15 mẫu đất cho VC làm công binh xưởng, cả gia đình đều theo VC, có vài đứa con đã lên bàn thờ, riêng bà vợ bị bom gảy cột xương sống. Có điều là dưới thời VNCH thì ai cũng được bệnh viện chăm sóc, chữa trị, nhưng khi VC cướp miền Nam thì tất cả thuốc men đều vét sạch chở ra bắc, từ đó người dân Miền Nam dù bệnh gì thường chỉ có xuyên tâm liên hoặc thuốc dỏm, Bác sĩ dỏm thôi. Đến 1976, thì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị giải tán và hầu hết cán bộ VC Miền Nam cũng bị cho ra rìa. Bất mản vì 2 thập niên theo VC, chỉ được dăm bằng liệt sĩ, vài tấm huân chương treo vách để nhát con nít khi chúng khóc, vợ đau xin cấp thuốc cũng không có… ông bí thư Xã Ủy nầy quay sang bắt tay với “ngụy” và sau mỗi chuyến thành công được tổ chức thưởng cho 2 lượng vàng.
Cạnh nhà ông Bí Thư là nhà của tên Trung Đội Trưởng du kích xã, hôm đó có giỗ. Khoảng hơn 20 tên du kích với AK47, CKC nhậu nhẹt rần rần; thỉnh thoảng có tên kêu vói mời Bác Năm (ông Bí Thư) sang nhậu với chúng, ông ta thối thoát:
– Tao không khỏe, tụi bây cứ tự nhiên.
Đến đêm, ông và cậu con, chống ghe nhỏ đưa tôi và ông Đại Úy Biệt Động Quân ra chiếc ghe lớn đậu gần 1 trại cùi. Mọi người đã lên ghe đầy đủ và chúng tôi là 2 kẻ sau cùng. Ghe bắt đầu hướng ra biển. Theo giao hẹn, tôi chỉ trách nhiệm khi ghe ra biển, nhưng khi đi được một đoạn còn khá xa biển, người lái ghe nhảy xuống ghe con trở về. Phóng lao phải theo lao, tôi tiếp tục lái ghe ra cửa Ba Động.
Hồi năm 1971, khi phụ trách chiếc kiểm báo Hạm Ba Động HQ 460, tàu tôi neo ngoài khơi cách cửa Ba Động 20 cây số, các Sĩ Quan thay nhau vào Vĩnh Bình mua thực phẩm cho tàu, còn tôi chưa lần nào vào đó. Vì không biết gì về cửa Ba Động nên khi ghe ra gần đến cửa biển, dù sông thật rộng, ghe tôi bị vướng phải một cồn ngầm. May nhờ thủy triều lên, tôi rút ghe ra được và thẳng ra biển. Lúc đó biển thật động, mà ghe là ghe nhỏ đi sông, thành ghe rất thấp, không có volant nên phải lái với cái cần lái ở đuôi ghe. Do không thể đâm thẳng ra biển, tôi phải lái chếch sóng, nhưng ngày càng gần hải đăng Vũng Tàu. Cuối cùng tôi phải liều lĩnh chấp nhận rủi- may đâm ra khơi. Hôm đó vì biển quá động, những ghe quốc doanh đánh cá từ Côn Sơn phải chạy cả về SGN và khi ghe tôi ra khơi khoảng hơn nửa giờ thì bị một ghe Quốc Doanh đuổi theo. Ghe chúng lớn loại đi biển được trang bị máy mạnh, còn ghe tôi nhỏ, máy chỉ 2 Bloc; nếu chúng tiếp tục đuổi chắc chắn sẽ bắt được chúng tôi, nhưng không hiểu vì sao chúng bỏ cuộc và ghe tôi thoát nạn. Trưa hôm sau, chúng tôi lọt vào một cơn giông. Thường thì sóng biển từng đợt đánh theo chu kỳ, nhưng trong cơn giông thì sóng loạn, tôi vừa lái vừa cố gắng tránh sóng, tuy nhiên vì thành ghe thấp và đôi khi tránh không kịp nên thỉnh thoảng ghe cũng bị sóng tràn vào. Tôi yêu cầu cánh đàn ông, chia từng cặp thay nhau múc nước đổ ra biển. Còn phụ nữ và trẻ con thì thật tội nghiệp, họ vô cùng sợ hãi, nhưng chỉ biết xì xụp lạy hay cầu nguyện. Trên ghe tôi có 1 ông Tiến Sĩ, nhưng lúc đó ông không phụ tát nước mà chỉ cầu nguyện như những người phụ nữ, tuy có trình độ văn hóa cao nhưng khi hữu sự giá trị của ông lại không bằng các cậu trai trẻ. Phần tôi, đã từng 2 lần thoát chết trong trại tù CS, nên lúc đó tôi không hề sợ, ngoài ra nhìn hàng chục đứa bé thật tội nghiệp, tôi càng vững tay lái hơn, vừa niệm Phật vừa lái đến khi trời sụp tối. Tôi đang lo là sẽ không thấy đường để tránh sóng thì may thay sóng dịu dần như có một phép mầu. Sau 1 ngày vật vã với sóng gió, tôi mệt đừ, nên giao tay lái cho cậu em vợ và ngả lưng bên cạnh những buồng dừa ngổn ngang. Số là tổ chức cho biết là tôi có 1 người phụ lái và 1 người thợ máy nhưng trên thực tế thì người phụ lái là 1 cựu Đại Úy Địa Phương Quân đã có lái qua tàu sông, nhưng suốt trong chuyến vượt biên ông không lái thay cho tôi lần nào. Còn người thợ máy thì dỏm, thực ra chỉ là 1 thợ tiện, anh ta ở trong cabine trông nom máy và phụ trách giữ mấy bao bột đậu xanh và bột Bích Chi. Anh lại rất say sóng, nên giữ gìn thế nào mà mấy bao thức ăn nầy bị lọt xuống hầm máy và ngấm dầu gas-oil nên không còn dùng được.
Trong đêm, khi cậu em ôm tay lái, tôi chập chờn bên cạnh thì nghe tiếng nước chảy róc rách. Kiểm lại thì chiếc thùng phuy chứa nước uống vì quá cũ lại bị sóng nhồi nên bị thủng và nước thoát ra, khi tôi phát giác và bít được lỗ thủng thì nước chỉ còn lại rất ít. Rồi một cơn mưa to chợt ập đến, do không được dự trù trước nên một số người vội đem cái mền căng ra hứng được đầy phuy nước. Điều thật buồn cười là cái mền cũ có lẽ từ nhiều năm không được giặt nên ngày mai khi nắng lên, nước hứng được có màu xám đen và trên mặt là một lớp váng. Dĩ nhiên là chẳng ai dám động đến, do đó suốt chuyến vượt biên, ngày 2 lần, khoảng 10 giờ sáng và 17 giờ chiều, cậu em vợ tôi và vài cậu nữa phải chặt dừa, đem phát cho trẻ con, phụ nữ và đàn ông mỗi đầu người khoảng 10cc nước dừa tươi, phần tôi cũng ngần đó. Sang ngày thứ tư, chúng tôi gặp 2 tàu đánh cá Hồng Kông đang neo và chúng tôi đến để xin tiếp tế. Mấy cục piles phải ưu tiên dùng cho hải bàn và thỉnh thoảng cho radio để nghe tin tức khí tượng, nên mỗi khi gặp tàu, vì không có đèn làm hiệu, mấy cậu trai thường lột áo nhúng dầu buộc vào cây sào rồi đốt lửa làm hiệu cầu cứu, do đó thường các cậu chỉ còn có cái quần sọt, mình trần, còn đầu thì quấn chiếc khăn trông giống như hải tặc.
2 chiếc tàu cá Hồng Kông ít người, có lẽ sợ bị cướp nên lúc đầu ra dấu không cho chúng tôi đến gần. May thay trên ghe có 1 phụ nữ gốc Hoa, trao đổi tiếng Hoa với họ. Khi hiểu rõ, họ cho phép ghe tôi cặp vào để cho nước, nhớt, bánh ngọt, tạp chí. Riêng tôi còn được vào phòng lái để xem vị trí nơi tàu đang neo và có lẽ nhờ ơn trên, dù chỉ lái bằng sự phỏng định, nhưng vị trí ghe tôi cũng không sai lắm so với ước tính. Với vị trí nầy, nếu không có gì bất thường thì khoảng 24 giờ sau chúng tôi có thể đến được Mã Lai hoặc Nam Dương.
Chúng tôi từ giã thủy thủ đoàn của 2 chiếc tàu Hồng Kông với niềm biết ơn sâu xa. Mọi người trên ghe tôi chia nhau bánh, tạp chí, uống nước thỏa thích và vì sắp được đến đích nên ai cũng đều lên tinh thần. Riêng tôi, miên man nghĩ về việc trong khi hàng chục chiếc tàu đủ quốc tịch đã làm ngơ trước sự kêu cứu của chúng tôi, thì tại sao 2 chiếc tàu Hồng Kông nầy lại thật tốt giúp đỡ chúng tôi. Nhớ hồi năm 1974, có 2 chiếc tàu đánh cá Hồng Kông vi phạm lãnh hải VN, bị chiến Hạm HQ/VNCH bắt giải giao về BTL/HQ/V1/DH. Lúc đó tôi phụ trách về việc nầy trước khi giao lại cho Quan Thuế Đà Nẵng lo về thủ tục pháp lý và liên lạc với chính phủ Hồng Kông. Thủy thủ đoàn của 2 tàu đánh cá nầy rất lo sợ, họ đã tìm cách hối lộ tôi, nhưng chẳng những tôi không động đến tôm cá hay tiền bạc của họ, mà còn giúp cho họ trong khả năng. Không biết có phải là luật nhân quả đã ứng hiện cho trường hợp nầy chăng? Nhưng rồi niềm vui của mọi người sớm vụt tan, anh thợ máy dỏm không rõ vụng về thế nào, làm rơi chiếc áo tee-shirt quấn vào trục láp làm chết cả 2 máy tàu và không sao khởi động lại được. Ông phụ lái của tôi lúc nầy xuất hiện, đề nghị cắt miếng bạt mui ghe làm buồm và nhiều phụ nữ tiếp tay thực hiện được chiếc buồm con, nhưng không may hôm đó gió rất yếu lại thổi ngược hướng chúng tôi muốn đi, nên buồm cũng không có công dụng lắm, ghe chúng tôi trôi lênh đênh như con tàu ma. Không rõ ông phụ lái thuyết phục thế nào mà hầu hết mọi người nhất là mấy bà yêu cầu tôi quay mũi ghe đi Phi Luật Tân. Tôi giải thích rằng mình đang gần Nam Dương, Mã Lai, Singapore, ghe hiện trên hải đạo quốc tế có nhiều tàu bè qua lại, hy vọng chúng ta sẽ được cứu vớt, còn đi Phi Luật Tân thì rất xa mà ghe mình chỉ có chiếc buồm con lại thiếu lương thực và nước uống. Tôi đề nghị là nếu qua 2 ngày mà không có tàu cứu sẽ quyết định sau. Mọi người đồng ý, nhưng chỉ sau 24 tiếng đồng hồ họ lại nghe ông phụ lái yêu cầu tôi phải đi Phi Luật Tân lập tức. Tôi thật nản, định buông xuôi, nhưng trên bầu trời bỗng xuất hiện 1 chiếc máy bay cánh quạt của US NAVY bay thật thấp gần ghe chúng tôi. Mọi người la hét kêu cứu, nhưng máy bay tiếp tục bay thẳng vào Mã Lai. Thật ra thì người trên máy bay đã thấy chúng tôi và họ cũng đã liên lạc với tàu trong khu vực đến cứu chúng tôi. Lúc đó thì không xa chúng tôi có 2 chiếc tàu; chiếc thương thuyền chạy thật nhanh thì xa hơn, còn chiếc tàu gần thì chạy thật chậm. Trời lúc đó mưa lất phất, trần mây thì thấp và u ám. Lợi dụng lúc mặt trời vừa thoát ra khỏi cụm mây, tôi dùng đáy của hộp bánh sơn màu trắng inox lắc lắc như đánh đèn hiệu về hướng chiếc tàu chạy gần và liền đó chiếc nầy chuyển hướng đi về phía chúng tôi. Khoảng nửa tiếng sau thì chiếc CHINON tàu dầu của hãng BP ( British Pétroleum ) chỉ còn cách ghe tôi vài chục mét. Họ ném dây xuống cho chúng tôi. Vài cậu trai trẻ nhảy ùm xuống biển để vớt dây. Tôi lo lắng vì sợ họ bị cá mập tấn công, nhưng may thay có một đàn cá heo vài chục con nổi lên nhào lộn gần mấy cậu đã cất đi niềm lo của tôi, vì thường đâu có cá heo là không có cá mập.
Khi ghe tôi đã áp vào tàu lớn thì họ thả thang dây xuống để chúng tôi leo lên tàu. Tôi là người sau cùng đặt chân lên tàu và được yêu cầu lên gặp ngay vị Thuyền Trưởng. Ông cho biết là chính phủ ông không thuận để cứu ghe vượt biển, nhưng vì lý do nhân đạo mà ông đã linh động, do đó yêu cầu tôi phải đánh đắm chiếc ghe, ông cũng ngỏ ý xin cái hải bàn và tấm hải đồ để làm kỷ niệm. Tôi cho thi hành mọi việc, đồng thời dặn dò mọi người nên giữ tư cách, kỹ luật và tuyệt đối tôn trọng về an ninh phòng hỏa hoạn cho chiếc tàu dầu. Có lẽ do vui mừng vì sắp được bến bờ nên mọi người đã răm rắp nghe tôi và lấy được cảm tình của thủy thủ đoàn của chiếc tàu dầu. Lúc đầu họ nấu thức ăn rồi đem ra boong tàu phát cho chúng tôi. Sau thấy chúng tôi không tệ nên đến giờ ăn thì chúng tôi cũng được vào phòng ăn chung với họ. Vì quá mừng, khi leo thang lên tàu, một số người tỵ nạn đã vứt cả giày, dép nên ông Thuyền Trưởng đã ra lệnh cho thợ mộc trên tàu cưa ván ép, đóng cho những người nầy những đôi guốc đi lốc cốc trên tàu trông thật ngộ nghĩnh; ngoài ra ông còn cho tổ chức văn nghệ, ca múa để mọi người giải trí. Tối hôm đó tôi được viên Sĩ Quan đi phiên mời lên phòng lái. Tàu dầu dài hơn 300 mét, trọng tải vài trăm ngàn tấn, nhưng thủy thủ đoàn chỉ 32 người và ngoài giờ hành chánh, để đi quart trên đài chỉ huy chỉ có 2 người và dưới phòng máy 1 người. Ông SQ trưởng phiên cho người phụ tá đi lấy 1 chai rượu chát và rót mời tôi một ly. Khi nghe tôi trình bày, ông rất chú ý lắng nghe và cho biết là nếu ghe tôi phải quay về Phi Luật Tân thì có thể sẽ gặp 2 cơn bão nhiệt đới. Ông còn cho biết là khoảng thời gian nầy năm trước, tàu ông có cứu 1 ghe vượt biển gần 30 người, nhưng khi lên tàu họ phá phách quá và còn cắp vặt. Rút kinh nghiệm lần trước, ngoài ra vì chính phủ Pháp không cho phép nên ông Thuyền Trưởng đã nói với thủy thủ đoàn là ghe tôi chắc đã chết hết rồi. Mãi đến khi thấy vài ánh chớp, tức còn người sống, thủy thủ đoàn nài nỉ quá nên ông phải chiều theo và cứu chúng tôi. Đang nói chuyện với nhau, thì có âm thanh và đèn hiệu báo động, ông SQ.TP giải thích là có chướng ngại vật trên hướng đi của tàu, tuy nhiên tàu sẽ tự động giải quyết mà không cần đến sự can thiệp của ông. Làm việc trên con tàu tối tân sướng thiệt.
Sau hơn một ngày thì chiếc CHINON đến Singapore. Cơ quan tỵ nạn LHQ ở nước nầy cho 1 chiếc tàu nhỏ ra đón chúng tôi, thủy thủ đoàn của chiếc tàu dầu thật tử tế, họ quyên tiền tặng chúng tôi, nhưng tôi đại diện cám ơn rằng các ông đã cứu mạng chúng tôi, điều đó thật cao quý và xin khước từ số tiền, ngoài ra khi tiễn chúng tôi, thủy thủ đoàn chiếc tàu CHINON có nhiều người đã rơm rớm nước mắt.
Bà Mười – Vợ của DS La Thành Nghệ, đại diện HCR thật ân cần thăm hỏi chúng tôi và đưa thẳng chúng tôi vào trại tỵ nạn Sembawang – Singapore. Trại trước kia là khu gia binh của các Sĩ Quan người Anh, thật khang trang, sạch sẽ. Trại không có các vòng rào kẽm gai, không có gác sách. Những người làm việc cho HCR thì thật lịch sự và tử tế. Tuy chúng tôi chỉ ở trại 3 tháng, nhưng họ cũng tổ chức dạy cơ bản về tiếng Anh, tiếng Pháp cho người tỵ nạn, chăm sóc tốt sức khỏe và mỗi tuần phát cho chúng tôi mỗi người 10 đô la Singapore tức 5 dollars Mỹ để sống và cuối tuần chúng tôi còn được phép đi phố chơi. Những người vượt biển hầu hết đều có mang theo tiền bạc và nữ trang, giá sinh hoạt ở Singapore cũng không đắt đỏ lắm, nên tha hồ mua sắm. Phần tôi không có xu teng nào nhưng nhờ được cấp 10 đô la mỗi tuần nên cũng thong dong. Còn cậu em vợ theo mấy cậu trai khác lén ra phố khuân vác lặt vặt cũng kiếm được chút đỉnh để mua sắm. Người Singapore thật văn minh, lịch sự và tử tế… hàng tuần họ còn chở thịt cá, rau cải vào giúp cho chúng tôi. Công tâm mà nói thì Singapore quả là thiên đường của người tỵ nạn. Những người cùng trên chiếc ghe tôi tỵ nạn ở Singapore, trừ những ai được thân nhân ở Mỹ, Canada, Úc bảo lãnh, số còn lại vài người vì do tàu Pháp vớt, nên được đi định cư ở Pháp. Phần tôi, do trước kia đã cứu mạng 3 quân nhân Mỹ và được thưởng huy chương Hải Quân Mỹ, nên tôi được xếp loại ưu tiên đi Hoa Kỳ, nhưng cay cú về việc người Mỹ đã vô nhân đạo trước nỗi hiểm nguy của thủy thủ đoàn chiếc HQ10 đào thoát trong trận hải chiến Hoàng Sa chống Trung Cộng xâm lược năm 1974, trong đó có bạn tôi là HP chiếc HQ10, ngoài ra “nực” về việc Mỹ đã phản bội VNCH, nên tôi đã khước từ đi Mỹ. Tháng 11/1983, tôi sang Pháp định cư đúng vào thời mà Đảng Cộng Sản Pháp cực thịnh, nên không được thuận lợi và tôi đã phải vô cùng khó khăn, vất vả để thích nghi với cuộc sống mới.
Tôi sinh ra đã sớm nếm mùi tân khổ, cuộc đời lại trải qua không ít nghịch cảnh, ngoài ra còn biết thế nào là địa ngục trần gian ở các trại tù VC; chính những kinh nghiệm quý báu đó đã giúp tôi vượt qua tất cả mọi khó khăn. Rồi nhờ ơn trên, sớm ngộ được thiền mà tôi có được cuộc sống thong dong, thanh thản. Hiện tôi có sức khỏe tốt, vật chất đủ, nhiều tự do, so với hàng triệu người trên thế giới, tôi thật may mắn. Ơn đời thật chứa chan, xin cám ơn Cha-Mẹ và những người đã giúp tôi có cuộc sống hôm nay./.
Nhân mùa lễ tạ ơn
Trần Kim Diệp K17HQ
Con Trăn Rừng Kè
Mùa Xuân năm đó, tôi ăn Tết trên đồn điền với Hùng. Anh lập đồn điền trà ở đây đã 8 năm nay; cơ sở làm ăn rõ ra vẻ phát đạt. Mấy dãy nhà dài, kiến trúc đơn giản nhưng gọn, chắc; vài nếp nhà sàn vươn cao đỏm dáng như những bông hoa rừng với hàng cột, kèo và sàn cây bóng lộn, trông thực đẹp mắt. Tất cả đều cất bằng gỗ kè, thứ lâm sản đặc biệt của vùng này.
Ðó là một loại cọ, thân tròn, nhẵn như đá mài, thẳng vút lên cao tới 10, 15 thước mới xòe tán lá xanh mềm mại như nhành liễu, đu đưa trước gió… Chỉ việc hạ xuống, bổ đôi là có hai tấm ván hẹp, thật là dài, không cứng lắm nhưng bền vô cùng. Hàm răng tàn phá của đàn mối trước lớp gỗ rắn như sắt này, cũng phải chịu hàng!
Hùng gõ tay vào thân cột, bảo tôi:
– Sức chịu đựng mưa nắng của gỗ kè thực kỳ dị: Hình như trời sinh ra giống kè để thi gan với thời tiết hay sao đó, có cây gỗ tôi vứt ngoài sương nắng cả năm không hề hấn gì!… Ðinh, lim, sến, táu của mình thua xa!
Tôi nhìn quanh rồi hỏi anh:
– Phải hàng ngàn cây gỗ mới đủ cất trại… Anh kiếm đâu ra sẵn vậy?
Hùng cười vui vẻ:
– Ðó là cả 1 công trình của tôi.. Không, của thổ dân mới đúng.. Nhưng cũng nhờ tôi một phần…
Tôi đoán chừng có gì lạ đây: anh vốn ít lời nhưng khi nhắc tới những kỷ niệm thú vị, anh trở nên rất vui chuyện.
Tôi nghĩ bụng chẳng cần gặng hỏi làm gì, nếu là chuyện đặc biệt, tự nhiên anh sẽ nói. Ðiều này tôi không lầm, vì ngay chiều hôm đó, Hùng thuật chuyện “con trăn rừng kè” cho tôi nghe.
Sau đây là lời Hùng.
–oOo–
“..Thoạt đầu tôi giận lão tù trưởng lắm: ai đời cần có hơn trăm cây kè mà lão cũng chối đây đẩy. Lão nhìn đống quà tặng bày trước mặt: nào búa sắt, nào đinh, nào dao săn, không kể vòng đồng và cả chục thước vải đủ màu… tỏ ý thèm thuồng lắm, nhưng vẫn không nhận lời kiếm gỗ cho tôi làm nhà. Thế mới kỳ!… Chẳng riêng gì lão, nhóm thổ dân đứng tuổi có mặt tại đó cũng nín thinh… Phải một lúc lâu, mới có một người gãi đầu gãi tai chán chê rồi nói:
– Thầy kiếm gỗ khác đi… Vùng này không có kè!
Tôi đã quen với dân Thượng nên không lạ lối nói của họ: không phải họ nói dối, họ chỉ không nói ra sự thực thôi! Kể cũng khá tế nhị! Nhưng dù sao tôi cũng nóng mắt: cả một rừng kè ngay trên đồi, cách bản khoảng hơn cây số mà chối là không có, thì bậy thực!
Tôi nắm tay gã lôi ra ngoài, trỏ về phía đó:
– Không có kè!… Vậy dễ rừng cau đó chắc!
Tất cả đều phì cười… Ðến lúc ấy lão tù trưởng mới thú thực:
– Thầy Hai à! Kè thì có, nhưng cũng như không. Vì ai dám vào rừng mà chặt. Cha của cha tôi có dặn lại rồi: Thần Kè thiêng lắm… Ðặt chân vào rừng là chết ngay. Rừng kè là nhà của thần mà… Tôi không nói sai đâu.
Nhìn mặt những người ngồi đó, tôi biết lão không nói dối. Gã thầy mo cũng lắc lư cái đầu đội chiếc mũ da rắn, phụ họa với lão:
– Không sai đâu… Cha tôi đã trông thấy thần mà…
Tôi phát cáu:
– Vậy hình thù thần thế nào, nói coi!
Gã dang hai tay ra:
– Cha tôi nói đầu thần to như trái đồi, còn mình dài bằng con sông, kia!…
Tôi đứng lên:
– Ðược, không ai dám vào rừng, để tôi vào xem sao!
Lão tù trưởng nắm lấy áo tôi:
– Ðừng đi, thầy Hai… Thần vật chết thầy mất!
Lão chẳng tử tế gì với tôi, nhưng tôi có hứa chữa bệnh sốt rét cho lão… Vừa uống mấy viên ký ninh, lão đã bớt sốt, lão lo tôi chết vì thần kè, thì lão cũng chẳng sống được với thần sốt rét!… Có vậy thôi! Tôi bảo mọi người:
– Bây giờ thế này: để tôi đi một mình trước đã… Tôi hạ thủ 1 cây kè. Nếu thần vật chết tôi, dân làng cứ việc thờ thần như cũ. Nhưng nếu tôi không hề hấn gì, dân làng sẽ đốn kè bán cho tôi. Ðược không?
Tôi nhặt 2 chiếc búa thép tốt nhất, giơ lên:
– Ai đi theo, tôi tặng chiếc búa sắt này. Không phải vào rừng đâu! Ðứng ngoài, xem tôi chặt cây thôi!
Chẳng ai nhúc nhích. Lão thầy mo lắc đầu:
– Thầy là người Kinh… May ra thần tha cho, nhưng người Thượng chúng tôi thì khác… Chắc chết quá!
Tôi nhìn đám trai tráng đứng đó:
– Tôi tưởng bộ lạc cũng có vài người gan dạ chớ! Ai ngờ nhát như đàn bà cả. Chỉ đứng tận đàng xa, mà cũng sợ. Thôi, để tôi kiếm bộ lạc khác bạo dạn hơn, nhờ họ vậy!
Lần này tôi thành công; 2 gã Thượng, trần trùng trục, vạm vỡ như 2 tượng đồng hun, đứng phắt dậy:
– Tôi bằng lòng theo thầy. Tôi đứng ngoài cửa rừng thôi!
Lão tù trưởng cũng đứng lên theo:
– Thầy là khách của tôi mà. Tôi đâu bỏ được. Tôi với thằng con lớn theo thầy; chừng nào thầy đẵn xong kè mà không việc gì thì con tôi bắt chước… Hễ thần không vật chết nó, lúc ấy tới lượt tôi.
Thế là tôi thắng keo đầu tiên: tôi vui vẻ tặng 4 người 4 cây búa thực sắc. Chúng tôi quyết định sáng hôm sau lên rừng.
–oOo–
Dân trong bản yên trí chúng tôi đi vào chỗ chết: họ kéo nhau ra tiễn đông lắm. Bọn đàn bà khóc thút thít, thảm não như đưa đám. Lòng hăng hái của bọn người theo tôi cũng giảm dần. Tới gần cánh rừng, chỉ còn tôi với cha con lão tù trưởng. 2 gã Thượng lẩn đâu mất.
Trước mặt tôi là giang sơn của loài kè; cây lớn cây con mọc từng bụi chi chít. Những thân dài óng ả như đèn cầy màu xanh vươn thực là cao. Tít trên ngọn, chòm lá mềm như vải lụa, tươi mát lạ lùng. Trông thì vậy, nhưng men được tới gốc cây là cả một gian nan: dưới gốc kè dày đặc cây rừng, cỏ dại, với những bụi gai cao khoảng đôi ba thước. Tôi vừa đi vừa dùng dao quắm mở đường… định bụng hạ 1 cây thực lớn cho họ biết tay! Chợt tôi tìm ra một lối mòn khá rộng rãi, sâu hút như con đường hầm giữa đám gai. Có lẽ được sử dụng thường xuyên, nên lớp cây dưới đất chết dí, khô queo, cành lá hai bên cũng úa vàng, như bị cọ xát nhiều… Tôi hơi băn khoăn:
– Nếu vậy chắc có con gì trong này không chừng!
Tôi khom mình, bước vào, trên đầu tôi cành cây đan nhau, che ánh mặt trời, thành thử con đường tối mò. Ðôi chỗ tôi phải bò, lưỡi dao quắm với chiếc búa sau lưng chốc chốc lại vướng vào gai, không sao đi nhanh được. Tiến thêm khoảng non trăm thước, tôi vội khựng lại, bủn rủn cả chân tay… Chắc lúc đó mặt tôi tái ngắt… Tôi thấy lạnh phía sống lưng, mồ hôi nhớp nháp trong đám tóc gáy dựng đứng… Trước mặt tôi chừng 6 thước trên thân gỗ mục, một chiếc đầu to ghê gớm tròn như vành trăng, nằm đó từ bao giờ. Dưới ánh sáng xanh mờ ảo chiếc đầu khủng khiếp làm thành một vệt vàng với hai chấm mắt long lanh chiếu thẳng vào tôi. Tôi có cảm tưởng như tia chớp nháng ra từ đôi mắt ghê rợn ấy… Tôi xoay mình, nhào vội về phía sau, cắm đầu bò thực nhanh, hai gối và bàn tay xây xát, quần áo rách bươm… Ra khỏi đường hầm, tôi mới bình tĩnh được: thì ra thần rừng kè của thổ dân là con vật tôi vừa gặp đó! Kể ra họ sợ cũng phải; tôi đã đi nhiều nơi, băng qua cả trăm cánh rừng nhiệt đới mà chưa gặp con trăn nào to kinh khủng như vậy! Tôi phân vân chưa biết tính sao: quay vào đó chắc không được rồi. Trở về tay không cũng hỏng. Tôi đành làm như không có chuyện gì xảy ra, lẳng lặng xắn tay áo, giơ búa hạ cây kè gần nhất. Phía xa xa, 4 người Thượng chăm chú theo dõi từng cử chỉ của tôi. Họ đứng sát vào nhau, lấm lét, sợ sệt, như chờ đợi một phép lạ xảy ra.
Thân kè rung lên, nghiêng đi rồi đổ ngang, bụi cát bay mù… Tôi vẫy họ lại gần, tươi cười chỉ vào gốc kè vừa chặt:
– Có việc gì đâu nào! Mỗi người hạ một cây coi!
Con trai lão tù trưởng bắt tay vào việc trước tiên: Xưa nay gã vẫn nổi tiếng là liều lĩnh mà!
Cây kè thứ hai ngã xuống. Thấy gã vẫn sống nhăn, họ mới thực yên tâm. Thế là tiếng búa chặt vào thân cây vang lên; khoảng tiếng đồng hồ sau, tôi đã có được vài chục cây gỗ nằm ngổn ngang. Tôi không dám ép họ làm nhiều, sợ bất thần con trăn bò ra thì nguy… Tôi đoán chừng con vật vừa ăn no nên chưa buồn nhúc nhích; đó là điều may mắn cho tôi.
–oOo–
Ðêm ấy tôi nói thẳng với lão tù trưởng và thầy mo Kham về chuyện gặp con trăn. Tôi bàn:
– Phải giết con trăn mới được! Thế nào cũng có lúc đói mồi, nó mò tới bản bắt trâu bò, cả người nữa không chừng!
Tôi đã sợ 2 lão ngần ngại, nhưng không, họ hăng hái mới lạ! Thì ra tính ham mê săn bắn ăn sâu trong cơ thể họ, gần như một thứ bản năng. Vả lại chẳng thú rừng nào nhiều thịt bằng con trăn, điều này họ biết lắm. Hạ được trăn, cả bản no say. Tiếp theo là hội hè, nhảy múa.. Tóm lại, viễn ảnh tươi vui đó là động lực thúc đẩy họ.
Tôi vừa chợp mắt đã nghe tiếng trống bập bùng báo hiệu cho dân bản biết tin chuyến săn đặc biệt này. Tôi mặc họ tổ chức, chỉ nhận đem súng theo, đề phòng bất trắc thôi.
Mới tảng sáng cả bản nhộn lên như ngày hội. Lần này cả trăm người theo tôi lên rừng kè, trong đám có cả đàn bà trẻ con. Cách phân công của họ thực thần tình: chẳng ai hò hét hay to tiếng: họ sợ con vật thấy động, lẩn mất!
Trước hết, lão Kham tìm một cây kè mọc gần lối trăn đi, cắt người buộc dây gò xuống, làm thành thứ bẫy cần, phía trên có nút thòng lọng tết bằng cả chục dây leo, dây nào cũng chắc như thừng gai. Một toán khác mở lối cho trăn tới gần bẫy; họ đốn kè, xếp hai bên chừa một đường duy nhất để con vật hễ ra khỏi rừng là đâm thẳng vào nút thòng lọng. Ngay phía ngoài là chỗ cột con heo sữa làm mồi.
Khoảng quá trưa, mọi việc xong xuôi. Viên tù trưởng giải tán dân chúng, chỉ để lại 3 người coi bẫy. Lão bảo tôi:
– Phải vài bữa nữa cái trăn mới đi kiếm mồi. Nếu đúng nó nằm đó, thế nào cũng sa bẫy. Thầy khỏi lo!
Lão nói có lý, vì con trăn chẳng còn lối nào khác để bắt heo; mà hễ động vào mồi là cây kè bật lên, kéo nút thòng lọng chẹn lấy cổ nó. Chết là cái chắc! Nhưng một, rồi hai ngày trôi qua… Chẳng có tin tức gì về… Tôi đã lo trăn thấy động rời đi nơi khác, hay bẫy không bật đúng lúc.
Mãi sáng ngày thứ ba mới nghe tiếng hò reo: trăn sa bẫy! Trong chớp mắt cả bản vắng teo: họ ùa lên rừng như trẩy hội. Tôi tất tả chạy theo, khẩu súng săn khoác trên vai, tay lăm lăm con dao săn.
Con trăn to thực! Nút thòng lọng chẹn khoảng sau gáy nó chừng hơn thước. Con vật chưa kịp táp mồi, con heo thoát miệng trăn, nhưng lại sa vào dạ dày nhóm người canh bẫy: họ được thưởng miếng mồi ngon lành đó! Tôi ước chừng cây kè cao khoảng 15 thước, vậy mà đuôi trăn vùng vẫy đôi khi còn chấm đất: như vậy thân nó phải suýt soát dài bằng thân kè!…
Ðối với giống trăn, như vậy là dài ghê gớm. Sa bẫy hàng 4, 5 giờ đồng hồ rồi mà con vật còn khỏe ghê gớm: đôi lúc nó cuộn vào thân cây, toan bẻ gãy cây; đôi lúc nó táp sợi dây thòng lọng đang siết nghẹt cổ nó. Cây cối xung quanh gãy nát, từng khóm gai bị đuôi trăn quật tung. Thân kè bị vật lung lay tới tận gốc. Nhưng tôi biết giống kè rễ ăn sâu, dù 2 con trăn cũng chẳng nhổ lên được. Nhưng con vật càng giãy giụa, sợi thòng lọng càng thắt chặt thêm. Nó nằm đờ ra, thở dốc… Chờ cho sợi dây nới lỏng đôi chút lại vùng vẫy. Cứ thế hàng giờ. Mỗi lần chiếc đuôi lớn như cây cột lim văng ra tứ phía, mọi người chạy dạt như đàn chim. Nhưng khi con vật nằm im, họ bu lại lấy cây chọc hay liệng đất cho bõ ghét!
Tôi hỏi lão Kham:
– Thần rừng kè lớn quá, há?
Lão bĩu môi:
– Lớn xác thôi. Không thiêng đâu! Thần thiêng chẳng bao giờ mắc bẫy mà!
– Chừng nào trăn mới chết đây?
– Một hai ngày không chừng… Ðợi nó yếu đi, trai làng xúm lại lôi về bản. Bây giờ còn khỏe quá, nó quật ngã ngay!
–oOo–
Ðúng như lão tính, 2 ngày sau trăn mới hấp hối. Trai tráng hạ cây kè, trói con vật vào đó, rồi làm thêm vài chục đòn ngang, khiêng về. Tôi đã thấy con trăn nước non 8 thước mà nặng trên nửa tấn; con trăn đất này dài gần gấp đôi, phải suýt soát ngàn cân thịt!
Con vật hấp hối được đặt nằm dài dưới đất. Ðôi lúc nó còn rùng mình, uốn lượn lớp da màu vàng, sáng như đồng, có điểm hình quả tràm, vằn hoa, chỗ đen, chỗ xanh, trông thực đẹp mắt. Tôi nhìn cái đầu nó mà phát khiếp: đầu hình tam giác dài, rộng, đặc biệt đôi cánh mũi phập phồng, kéo dài ra phía trước, trông như mõm chó săn. Thỉnh thoảng nó há miệng, phơi hàm răng nhọn, trắng bóng, mọc quặp vào trong như hàng móc. Tôi tò mò cúi xuống xem cho rõ… và chính lúc đó tôi mới chú ý tới đôi mắt. Ðôi mắt trừng trừng như mắt người chết, vàng khè nhưng sáng quắc. Chính giữa, đồng tử tròn, xanh sẫm màu mực, ánh lên một cách ghê rợn… Tôi nhận ra trong đó có cái gì độc ác, tàn nhẫn, lẫn với niềm thù hận dữ dằn không thể tả được. Tôi nghĩ chừng cặp mắt của quỷ sứ dưới địa ngục cũng khủng khiếp đến vậy là cùng!
Chợt tôi thấy mình cứng đơ người, chân tay gần như tê liệt. Tôi muốn nhích một ngón tay cũng không được. Thực lạ lùng! Tôi không mê chút nào, đầu óc vẫn tỉnh táo, nhưng không điều khiển nổi cơ thể. Tôi bị cặp mắt trăn thôi miên!
Trước đây có người nói loài rắn có cái nhìn sắc bén làm tê dại con mồi, tôi không tin. Nhưng bây giờ, tôi cảm thấy thấm thía là họ nói đúng. Không phải cái sợ làm tôi cứng người ra: con vật gần chết có gì đáng sợ!… Tôi chỉ bị ánh mắt nó huyền hoặc. Tôi tự mắng mình:
– Ðồ ngu! Có gì đâu nào… Thử cử động coi… Quay đầu lại xem… Hèn quá!
Con trăn không chớp mắt, nó làm gì có mí mắt để chớp, tôi biết vậy. Nhưng tôi cũng trơ ra đó, trao tráo nhìn nó, đôi mi căng thẳng như có người giữ lại, không cho hạ xuống. Tất cả ý chí của tôi tập trung vào công việc nhỏ nhoi ấy: làm sao chớp mắt được!
Phải mất nhiều phút, hay nhiều giây, không rõ nữa… tôi mới đem hết sức bình sinh hạ nhanh được mi mắt xuống!… Thực là một cơn ác mộng! Tôi quay vội đầu đi, và tỉnh hẳn, nghĩa là cử động được như thường… Không may cho con trăn, vật đầu tiên tôi thấy trước mắt là lưỡi búa thép: tôi nhặt vội lấy, tay chém liền mấy nhát; chặt phăng chiếc đầu trăn quái ác đứt rời ra!
Hành động của tôi gần như một hiệu lệnh: dân bản ào ra, xả thịt trăn… Chỉ một lát sau, mùi xào nấu thơm phức tỏa theo gió. Lần ấy tôi mới nếm món chả trăn bọc kín bằng lá xương sông, nướng giữa hai viên đá nóng bỏng. Hương vị đậm đà đó, tôi còn nhớ tới bây giờ…
… Và sau đó chừng mươi bữa, tôi có cả ngàn cây kè để làm nhà như anh thấy đó!…”
Nguyễn Mạnh Tuân phóng tác
(Theo A. Michel)
Niềm Vui Bình Dị sau ngày Tết Giáp Thìn 2024
Đây là bài số bảy trăm lẻ một (701) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.
Thế là những ngày Tết Giáp Thìn 2024 đã qua mau và bây giờ chúng ta lại trở về với các sinh hoạt thường nhật trước đây. Quý ông bà nội ngoại vẫn tiếp tục chăm sóc, thương yêu các cháu nhỏ, giúp ba mẹ của chúng an tâm đi làm kiếm tiền về nuôi con. Tuổi trẻ học trò vẫn tiếp tục đi học ở nhà trường. Người lớn trẻ nhỏ có những sinh hoạt khác nhau trong đời sống hiện tại, miễn là có sức khỏe và bình an là được, là tốt lắm rồi.
Người viết cũng thường đi tìm những tài liệu, những bài viết vui vui, nhưng ta cũng có thể học được những điều hay lạ, hữu ích từ những câu chuyện này để mà thay đổi cách suy tư, quan niệm sống, giúp cho đời sống của mình thoải mái, nhẹ nhàng, vui vẻ hơn lên.
Xin mời Bạn cùng đọc với tôi những ý tưởng hay hay vui vui qua bài thơ ‘Được và Tốt’ dưới đây. Bài thơ hay này do Sư Cô Huệ Hương chuyển tiếp đến chia sẻ với người viết lâu rồi, người viết thấy hay và hợp với đời sống hiện tại nên xin được tiếp tục chuyển chia sẻ tiếp với bạn hữu đọc cho vui. Kính tri ân Sư Cô Huệ Hương.
Được và Tốt
Sống 1 kiếp người, bình an là được .
2 bánh 4 bánh, đi được là được.
Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được
Người xấu người đẹp, dễ coi là được
Người già người trẻ, miễn khỏe là được
Nhà giàu nhà nghèo, hòa thuận là được
Ông xã về trễ, miễn về là được.
Bà xã cằn nhằn, chăm lo là được.
Khi con còn nhỏ, dạy dỗ thật nghiêm
Tiến sĩ cũng được, bán rau cũng xong.
Sau khi trưởng thành, ngoan ngoãn là được.
Nhà to nhà bé, có chỗ ở là được.
Hàng hiệu hay không, mặc được là được.
Tất cả phiền não, biết xả là được.
Kiên trì cố chấp, biết bỏ xuống là được.
Không phải có tiền, muốn gì cũng được.
Tâm tốt việc tốt, có thể thay đổi số mệnh。
Ai đúng ai sai. Trời biết là được.
Tu phúc tu thân, kiếp sau càng tốt.
Thiên địa vạn vật, tùy duyên là tốt
Có rất nhiều việc, nhìn xa trông rộng
Mọi người đều tốt, ngày ngày đều tốt
Anh tốt tôi tốt, thế giới sẽ tốt
Nói tóm lại, tri thức là quan trọng nhất.
Nói nhiều như vậy, hiểu được là tốt,
Vẫn còn chưa hiểu, xem lại 2 lần
(Nguồn: bài thơ không thấy đề tên tác giả – email của Sư Cô Huệ Hương chuyển đến)
Người viết cũng thường nói với phu quân của người viết rằng: “Xin hãy sống lạc quan yêu đời một tí, bớt nghe những bản nhạc buồn rên rỉ, bớt đọc những bài thơ, bài viết thở than sướt mướt, trách mắng lẫn nhau, bớt xem những phim, hình ảnh hành động tàn bạo.
Cuộc đời đã là bể khổ rồi, chúng ta cần phải vui lên mà sống, chứ thở than than thở hoài càng mang thêm bịnh nữa, chứ chẳng có lợi ích gì cả.
Người viết cũng từng đã “ba chìm, bảy nổi, chín cái lênh đênh” nhưng rồi cũng phải chấp nhận những gì đã làm cho mình không vui, đứng dậy và tiếp tục đi tiếp vì không ai giúp mình bằng mình tự lo, tự giúp mình trước nhất”. Không xem phim, xem hình ảnh tàn bạo để các chủng tử tàn ác đó không lưu trữ trong tiềm thức của mình chờ giờ xuất hiện.
Người viết thích uống trà vì khi uống trà ta thấy tâm hồn ta lắng đọng lại qua hương vị thơm ngon nhẹ nhàng của trà chứ không phải cái ngọt ào ào đến như khi tôi uống một ly coca.
Cô cháu nội Mya cũng biết ý bà nội nên đã tặng bà nội chiếc ấm trà rất đẹp với một hộp trà xanh để bà nội thưởng thức khi ăn bánh trung thu hay trong những lúc mưa rơi tuyết lạnh ngồi bên song cửa uống trà cho ấm lòng một chút.
Người viết thích uống trà nên đã thực hiện youtube Trà Thiền và thực hiện các Board về Trà trên website Pinterest của người viết để quý bạn đồng tâm cảm cùng thưởng thứ với người viết
Mời bạn cùng xem với tôi nhé.
1-Youtube Trà Thiền Sương Lam thực hiện
Hãy tận hưởng hương trà đầy thiền vị trong một ít phút giây tĩnh lặng hiện tại.
https://www.youtube.com/watch?v=IActYyB5xlc
7,857 views Dec 5, 2012
2-Board Tea 71 Pins
Tea
3-Board Uống Trà – Drink Tea 168 Pins
Trong khi đi tìm tài liệu để viết bài hôm nay, tôi tìm được bài thơ hay
Bên Tách Trà Cuối Năm – Như Nhiên – Thích Tánh Tuệ
của Thầy Thích Tánh Tuệ đăng trong Blog BanMaiHong’s Blog nên xin phép ban biên tập trang nhà BanMaiHong cho phép tôi được mang về đây chia sẻ với bạn hữu vì Thầy Thích Tánh Tuệ cũng đồng một ý nghĩ như tôi khi viết về Trà.
Xin mời qúy bạn cùng thưởng thức và xin cảm ơn BBT BanMaiHong’s Blog.
Kính tri ân Thầy Thích Tánh Tuệ
Bên Tách Trà Cuối Năm – Như Nhiên – Thích Tánh Tuệ
Thân ái mời nhau một tách trà
Mình ngồi quán niệm một năm qua
Một năm bước tới hay lùi lại
Đường Đạo đã gần hay vẫn xa
Ngày vẫn trôi ngày, năm hết năm
Ngọn đèn Tỉnh thức sáng trong tâm ?
Mình đang thực Sống hay tồn tại,
Đã quyết lòng buông những lạc lầm ?
– Mời bạn ngồi yên với Đạo tình
Cho hồn lắng đọng giữa lời Kinh
Xuân lai, xuân khứ… lòng thanh thản
Bên tách trà Xuân thấy lại mình…
Như Nhiên – Thích Tánh Tuệ
Ngày Mùng Một Tết, các thành viên gia đình Nguyễn Hữu đã cùng nhau đi lễ Chùa đầu năm mới như truyền thông Ba Má chúng tôi đã làm trước đây.
Xin được chia sẻ với qúy bạn thân yêu của tôi niềm vui ngày Mùng Một Tết Giáp Thìn 2024 qua youtube dưới đây:
1-Gia Đình Nguyễn Hữu đi lễ chùa Mùng Một Tết Giáp
Một niềm vui khác là cậu công tử nhà tôi từ Las Vegas về ở với ba mẹ trong những ngày Đông lạnh lẽo nên ngôi nhà nhỏ của chúng tôi thấy ấm lên đôi chút dù bên ngoài thời tiết giá lạnh vô cùng.
Ngoài những buổi cơm ăn ở nhà do mẹ nấu, cậu công tử đã chở ba mẹ đi ăn nhà hàng bên ngoài để thay đổi khẩu vị vì cả hai “lão trượng” và “lão bà bà” không dám lái xe ban đêm rất nguy hiểm đối với người già.
Mời bạn cùng vui với gia đình nhỏ bé chúng tôi nhé.
2-Youtube Gia đình Minh Sương Vương ăn cơm gia đình ở nhà
3- Youtube MSV đi ăn tối ở nhà hàng 2-25-24
Xin hãy vui mà sống với cái Tâm an lạc, nếu có thể được, phút giây nào mừng phút giây đó. Hạnh Phúc đến từ những điều bình dị đó, Bạn ạ. Bạn đồng ý với tôi chăng?
Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.
Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
Sương Lam
NATO CÓ BAO NHIÊU NƯỚC? SỨC MẠNH QUÂN SỰ RA SAO?
NATO CÓ BAO NHIÊU NƯỚC? SỨC MẠNH QUÂN SỰ RA SAO?
Chuyện Vợ “Ông Nhà Thơ”
Ở hải ngoại, 10 ông Việt Nam sồn sồn, cỡ trên dưới 60 tuổi thì có đến 9 ông là nhà thơ. (Xin bạn đồng ý với tôi, vì chính bạn cũng từng làm thơ, từ thời còn đi học ở quê nhà, nhưng không gửi đăng báo vì khiêm tốn đấy thôi). Ở hải ngoại, cuộc mưu sinh tuy bận rộn nhưng một lúc nào đó, những “rung động bất chợt của những nỗi nhớ, những kỷ niệm…”, khiến tâm hồn lãng mạn cảm hứng thành những vần thơ, phải ghi xuống để khi rãnh rỗi, đem ra ngâm nga, tự thưởng thức. Và “chủ đề” của các ông bà hiện nay là “quê cũ và người xưa”.
Sự thực, với các ông, trong 9 nhà thơ đó, hết 8 ông, thời còn đi học không hề có người yêu, yêu thầm thì họa may. Lý do đơn giản là thuở học trò, cứ vác quả tim cô đơn đi cà lơ thất thểu ngoài đường chứ chẳng cậu nào dám tán tỉnh hay tỏ tình với người đẹp. Nhưng trong “thơ văn hoài niệm” ông nào cũng sắm cho mình một lô các cô nữ sinh, xinh đẹp, ngây thơ… và nhất là cũng yêu “chàng” (nhà thơ) say đắm. Nhưng đau khổ thay! Người yêu lên xe hoa với người khác khiến chàng thành “thi sĩ”.
Người làm thơ, trước hết là để cho mình ngâm nga, sau đó (tự thấy hay) mới quyết định mời thiên hạ cùng thưởng thức. Thời đại khoa học tân tiến, chỉ cần mở computer tung thơ mình lên “net” là có hàng trăm, hàng nghìn người đọc. Rồi thì những hồn thơ đồng cảm tìm đến nhau. Trước còn sơ giao, sau thành thân thiết. Khoảng năm 1994, ở hải ngoại, có Hội Thơ Tài Tử, qui tụ hàng nghìn nhà thơ trên khắp thế giới. Họ góp thơ để phát hành những tập thơ “Cụm Hoa Tình Yêu” dày 5,7 trăm trang của mấy trăm nhà thơ, lại còn hẹn nhau cứ mỗi 2 năm, cùng họp mặt để đem thơ mình ra ngâm nga, cùng thưởng thức, sau đó rủ nhau đi thăm thắng cảnh, đi ăn uống, vui chơi… Nơi họp mặt thường là các thành phố đẹp ở Mỹ, Châu Âu… Mới đây nhất là cuộc họp mặt của Hội Thơ Tài Tử ngày 14 tháng 9 năm 2012 tại Dalas, Texas kỷ niệm 18 năm thành lập, qui tụ nhiều nhà thơ khắp thế giới, có cả những nhà thơ từ Việt Nam sang. Trên thế giới, xưa nay, chưa có hội thơ nào qui tụ nhiều nhà thơ đến như vậy. Tuy vậy còn có hàng trăm thi sĩ người Việt hải ngoại không vô hội, họ làm thơ chỉ phổ biến trong bạn bè, thậm chí để riêng mình ngâm nga.
Tôi biết có một ông nhà thơ thuộc loại đó. Nhà thơ Xuân Tình với tập “Thơ Xuân Tình”. Tình yêu trong thơ ông ta mênh mông, lai láng như muốn tràn ra ngoài những giòng chữ.
Chuyện đó có gì lạ đâu?
Điều lạ mà tôi sắp kể ra đây lại là bà vợ ông nhà thơ đó.
Bà vợ ông nhà thơ làm chủ 2 tiệm nail (làm móng tay), khá lắm, nên ông chồng ở nhà, đi vô đi ra và làm thơ chơi để giết thì giờ. Vợ ông ta rất yêu chồng, yêu luôn thơ của chồng. Làm chủ tiệm nail lại phải lo chuyện gia đình, chợ búa, nấu nướng, giặt giũ áo quần, rửa chén bát… bận túi bụi, vậy mà về đến nhà là ôm chồng hôn và âu yếm hỏi: –
Bữa nay ông xã em làm được mấy bài thơ? Đọc cho em nghe với!
Trong khi ông chồng đi lấy mấy bài thơ vừa sáng tác thì bà vợ nấu nước pha trà. Hai người ngồi ở phòng khách, vợ tựa đầu trên vai chồng, lắng nghe chồng ngâm thơ. Và dù là những câu thơ bí hiểm cách mấy, bà vợ cũng suýt soa khen hay. Chuyện ngắn là chuyện dài “cô đọng”, bài thơ là chuyện ngắn “cô đọng”. Bà ta không cần biết điều đó. Bà chỉ cảm nhận được chồng mình có gì đó cao quí hơn người khác. Chồng bà là “nhà thơ”. Bà yêu chồng, yêu hồn thơ của chồng. Sau khi cùng chồng uống chén trà thơm, bà ta hôn chồng lần nữa rồi mới đứng lên lo chuyện cơm nước. Bà ta nấu vài món thôi, nhưng nấu nhiều. Lũ con, nhà gần đấy, đã nên vợ nên chồng, nhưng vẫn giữ thói ăn bám mẹ. Buổi chiều chúng chỉ chờ mẹ gọi là cả gia đình kéo đến ăn, đã khỏi nấu nướng mà được mẹ cho ăn ngon còn bới đem về để sáng mai đem đi làm.
Chuyện hai ông bà yêu thơ hơi quá đáng, có thể làm bạn nghi ngờ tôi “sáng tác”. Làm gì có bà vợ yêu chồng kiểu đóng kịch như vậy? Xin bạn kiên nhẫn đọc những chuyện vô lý tiếp theo. Vợ chồng tôi có quen với vợ chồng nhà thơ nên mới biết mà kể cho bạn nghe.
Ông nhà thơ nầy là một ông cù lần. Suốt ngày ở trong nhà, cứ lừ nhừ, khật khừ như con gà rù, chẳng bạn bè, chẳng hội đoàn, ngay cả hội “Thơ Tài Tử” ông ta cũng không tham gia. Một lần gặp vợ tôi, bà chủ tiệm nail khoe thơ chồng mình hay lắm, tôi hỏi sao không gửi đăng báo để thiên hạ cùng thưởng thức? Bà ta nói rằng, có gửi nhưng không thấy báo nào đăng! Tôi mới tiết lộ cho bà ta cái “mánh” giống như của tôi (mỗi khi gửi truyện đến các báo):
– Chị gửi khoảng chục bài thơ của ông xã chị, kèm theo một chi phiếu mua 1 năm báo, họ sẽ coi như “bài cậy đăng”. Nhất định thơ của ông xã chị sẽ xuất hiện trên báo đó.
Bà ta bảo rằng không biết làm cách nào. Tôi bảo cứ ký cho tôi năm, ba cái chi phiếu, tôi sẽ lo giùm cho.
Vậy là cả 5 tờ báo, thuộc loại “văn học nghệ thuật” ở Cali, Texas đều đăng thơ của ông chồng bà chủ tiệm nail. Bà ta đem mấy tờ báo ra tiệm khoe với khách hàng người Việt rồi cám ơn tôi rối rít:
– Ông xã em vui lắm. Không ngờ thơ mình được các báo giá trị đăng. Cám ơn anh nhiều lắm.
Như vậy là bà ta không cho chồng biết đó là “những bài thơ cậy đăng”. Tôi bảo:
– Có một cách làm cho ông xã chị khoái hơn nữa là ra mắt thơ.
Chuyện móng tay, móng chân thì bà ta rành, nhưng về văn học nghệ thuật thì bà ta lại phải nhờ tôi: – Em có nghe chuyện ra mắt thơ, nhưng không biết làm cách nào? Anh có thể giúp em được không? Miễn ông xã em vui thì tốn kém bao nhiêu em cũng không ngại.
– Ra mắt thơ nhiêu khê hơn đăng thơ trên báo, nhất là ông xã chị không quen biết nhiều với báo chí, ít giao thiệp với đồng hương địa phương ở đây. Tôi lên chương trình như thế nầy để chị về bàn với ông xã chị trước khi quyết định vì tốn tiền lắm. Trước hết là in những bài thơ của ông xã chị thành tập, gọi là “thi phẩm”. Muốn chơi sang thì nhờ một ông nhạc sĩ phổ nhạc khoảng mươi bài thơ, thuê ca sĩ hát và thu vào CD, sau đó tổ chức một buổi ra mắt thơ, có ca sĩ hát “thơ phổ nhạc”. Hôm ra mắt thơ, ông xã chị ngồi sẵn chỗ ra vào, ký tặng thơ và CD. Nhớ đừng ép mua, kiểu bắt chẹt đó khiến người ta bực mình. Người ta đến là may lắm rồi. Muốn buổi ra mắt thơ được đông vui, chị phải quảng cáo trên đài phát thanh, trên TV, trên báo chí thật rầm rộ. Nhưng tôi báo trước là chục nghìn không đủ đâu.
Bà ta sáng mắt lên:
– Bao nhiêu cũng được miễn sao chồng em được mọi người biết tên, báo chí, truyền hình, phát thanh đưa tin, gọi chồng em là “thi sĩ” là chồng em vui rồi. Anh cố giúp giùm em. Anh đừng ngại chuyện tiền bạc.
– Tôi chỉ giới thiệu những người lo chuyện ra mắt thơ với chị, họ sẽ sắp xếp mọi việc. Chị yên tâm.
Vài tháng sau, việc in ấn, phổ nhạc, thu CD đã xong, tôi gọi cho một ông trưởng ban nhạc kiêm MC (người điều khiển chương trình), chuyên phục vụ đám ma, đám cưới, hội xuân, ra mắt sách… nhờ ông ta lo giùm, rồi gọi một ông bạn, nhà “phê bình văn học nghệ thuật” ở Cali, nhờ giới thiệu tập thơ. Ông ta bảo, đây là dịp qua Virginia thăm bạn bè mà không tốn tiền nhưng phải gửi cho ông ta tập thơ rồi lo cho ông ta vé máy bay, khách sạn và vài chai rượu là đủ, và muốn ông ta nói trong bao lâu (nửa giờ, 1 giờ ?), ông ta cam đoan sẽ làm phổng mũi tác giả và khán giả sẽ vỗ tay liên tục. Ông bạn “nhà phê bình” nầy tính hơi khùng khùng, nhưng cũng rất khôn. Ông ta góp nhặt những đoạn văn từ những bài phê bình, nhận định văn học trên các báo, xào nấu lại thành những bài thuyết trình hoa mỹ, thánh thót của riêng mình. Ông ta có khoảng 5, 7 bài thuyết trình tiền chế như thế, thủ sẵn, khi có người nhờ, giới thiệu một tác phẩm, thì chỉ việc lựa bài nào thích hợp với tác phẩm, nhét vào đó tên tác giả là thành 1 bài giới thiệu nghe rất mê ly. Một tập thơ, tập truyện, dở cách mấy mà qua tay ông ta với bài thuyết trình cũng trở thành “kiệt tác”. Đương nhiên, tác giả sướng mê, khán giả cũng khoái lỗ tai.
Thật ra, tôi vốn tính lười. Vợ sai còn không chịu làm, hơi sức đâu làm chuyện tào lao! Nhưng vì tôi không ưa ông nhà thơ nầy nên muốn phá chơi, vì trước đây vài năm, ông ta gặp ai cũng chào hỏi vui vẻ, còn rủ đi uống cà phê để tán phét, về sau, bỗng nhiên, ông ta rút vô nhà, gặp bạn bè, chào hỏi, ông ta chỉ gật đầu mà không thèm mở miệng, có lẽ ông ta thành nhà thơ, thuộc “cõi trên”, không thèm giao tiếp với bọn tầm thường. Bây giờ, tôi xúi ra mắt thơ mà không ai đến để ông ta “quê”, cho bỏ ghét. Hơn nữa, tôi tò mò muốn biết về bà chủ tiệm nail nầy. Yêu thương chồng, chiều chồng theo kiểu kỳ quái đó thì xưa nay hiếm thấy. Bà nào nghe chồng in thơ, ra mắt thơ là nhăn mặt rồi. Đã tốn kém còn phải mang về cả nghìn tập thơ, để chật nhà. Muốn gửi tặng bạn bè, phải moi óc, có được vài chục địa chỉ là quá nhiều, lại phải ký tên, ra bưu điện gửi, tốn kém, phiền phức vô cùng! Nhiều ông còn đi các tiểu bang khác, ra mắt thơ, các bà vợ rầu lắm mà không dám nói. Riêng bà vợ ông nhà thơ nầy thì lại hối hả, chạy ngược, chạy xuôi, gọi người nầy, người kia nhờ vả, năn nỉ, đốc thúc… Tôi được bà ta coi như quân sư, gì cũng hỏi ý kiến, tôi thấy tội nghiệp nên cố giúp. Vì biết kết quả sẽ không ra gì nên tôi giao hẹn trước:
– Tôi giúp ông bà hết mình rồi nhưng người ta có đến hay không, tôi không chịu trách nhiệm.
Hôm ra mắt thơ, vợ chồng tôi có đến phụ giúp việc chào đón quan khách, sắp xếp chỗ ngồi. Thật không ngờ, khách đến chật nhà hàng! Không biết ai xúi mà bà ta mời một cô ca sĩ nổi tiếng từ Cali qua. Thế là cứ nghe báo chí, đài phát thanh quảng cáo có cô ca sĩ Ngọc Hạ hát là người ta ùn ùn kéo đến. Hơn nữa đã nghe hát “chùa” (miễn phí) lại được tác giả tặng không tập thơ với CD ca nhạc, lại có nước ngọt, bánh kẹo để nhâm nhi, được gặp bạn bè trò chuyện rôm rả (chả cần biết diễn giả đang nói gì)! Vợ chồng nhà thơ mặt mũi sáng rỡ, nhất là ông chồng, không còn là con gà rù nữa, lúc nào cũng tươi cười, ký tên tặng thơ không ngơi tay. Có điều lạ là, không biết từ đâu kéo đến một lô người đẹp. Tôi thật sự kinh ngạc, không ngờ thơ ông ta làm rung động quả tim của những cô trẻ đẹp đến như vậy! Các cô rất hấp dẫn, thơm tho, ngon lành. “Nói chung” là cô nào cũng nõn nà. Cô có cánh tay trắng nuốt thì mặc áo hở cả nách, cô có đùi thon dài thì mặc quần trên đầu gối hai gang tay, cô có ngực tròn, trắng, mịn như trứng gà bóc thì chỉ che ngực một phần tư thôi. Có cô, diện giống như nữ tài tử xi nê đến dự đại hội điện ảnh Oscar, phía sau, từ ót đến dưới eo (lưng) để trống trải, thoáng mát, nên cô đi đâu thì đầu các ông quẹo theo hướng đó. Đã vậy các cô lại đi lung tung, gặp ông nào cũng chào, chào theo kiểu Nhật, nghĩa là cúi gập người xuống. Các ông thấy hết, mặt thộn ra, như bị bắt mất vía. Có lẽ xong buổi ra mắt thơ mà các cô chưa về, các ông cũng không chịu về. Tôi đâm ra ước được như ông nhà thơ, để trong mấy chục cô “hâm mộ thơ” đó làm gì cũng có vài cô sa vào vòng tay của tôi.Có điều lạ là bà vợ ông ta không tỏ ý khó chịu trước những lời ca tụng, tán tỉnh gần như tỏ tình của các cô (nõn nà) nầy với ông chồng (nhà thơ), mà còn về hùa theo rồi cười đùa vui vẻ nữa. Vì sao bà ta lại quá tử tế với chồng đến như vậy?
Buổi ra mắt thơ thành công ngoài mơ ước. Người điều khiển chương trình quả là chuyên nghiệp. Anh ta mở miệng là khán giả cười vui như xem hài kịch. Nhà phê bình văn học nghệ thuật thì đúng là danh bất hư truyền. Vì tôi mãi chiêm ngưỡng vẻ đẹp giai nhân nên đôi mắt và hồn vía tôi cứ bám sát theo các cô đang ỏng ẹo đi lòng vòng khắp nơi, nên không biết ông ta nói gì nhưng thỉnh thoảng nghe tiếng vỗ tay rào rào.
Sau hôm ra mắt thơ đó, tò mò, tôi đem thi phẩm “Thơ Xuân Tình” ra đọc. Không hiểu ông bà nào đánh máy, trình bày tập thơ cho ông ta, đã ghi một câu đáng kinh ngạc, ngay bìa trước tập thơ, dưới tấm hình tác giả rằng “Thi sĩ lãng mạn được mến mộ nhất hiện nay tại hải ngoại, người đã hy sinh cả đời mình để viết nên những trang sử thi đau thương…”
Tôi cũng mượn bài diễn văn của nhà phê bình văn học để nghiên cứu, hy vọng sẽ biết được giá trị của thi phẩm. Đọc suốt tập thơ và bài “phê bình văn học” tôi chỉ rút ra được một kết luận là nhà phê bình quả là đại tài. Tôi xin trích vài đoạn văn tiêu biểu sau đây: “Lãng mạn và đầy cá tính là yếu tố hấp dẫn trong thơ Xuân Tình. Đó là một thông điệp, chuyên chở bằng chữ nghĩa, gần như lạnh lùng, không cảm xúc về những vấn nạn của hiện thực đầy cảm tính, nhưng lóng lánh trong đó là những mảnh suy tưởng sắc sảo, những rung động ẩn mật của tình yêu. Tuyệt vời hơn nữa là với sự thông minh, dí dỏm, nhà thơ Xuân Tình đã lôi cuốn người thưởng ngoạn vào những tình huống bất ngờ, đầy hình ảnh và âm thanh của đam mê, buông thả và cộng hưởng” (?!) Trong một đoạn khác, ông ta viết “Từ vị trí một người thưởng ngoạn bình thường, tôi nghĩ, nhà thơ Xuân Tình có trong tay một cách thế thi ca để thể hiện sự hiện hữu của mình. Một nhà thơ phá cách, nhiều tìm tòi thử nghiệm, cách tân ở kỹ thuật, đậm tính thời cuộc ở nội dung. Thơ ông được giải thoát, được tự do, vượt trên mọi câu thúc xã hội, vượt qua cả hàng rào tín ngưỡng, đạo lý, vượt khỏi tâm lý rụt rè, khép kín để bay bổng về một thế giới mới, một linh hồn mới, một hơi thở mới. Từ đó, người ta thấy được cái phong phú của cuộc sống, cái sâu thẵm của tâm hồn và cái trớ trêu của định mệnh”.
Tôi chịu thua, không hiểu gì về bài nhận định thơ theo lối tiền chế đó! Chỉ duy nhất 1 câu (không biết ông ta thuổng của ai) lộ rõ ý mỉa mai mà ít người để ý “Thơ rất lạ, một ưu điểm nhưng cũng là nhược điểm vì sẽ kén người thưởng thức”. Tôi hỏi “nhà phê bình văn học” nghĩ thế nào mà viết toàn những câu ca tụng nghe rổn rảng như chuông mà chẳng thực tế, rõ ràng gì cả? Ông ta hỏi tôi: – Ông có đi dự đám ma lần nào chưa? Có nghe người ta đọc điếu văn chưa? Tôi nhận định văn học trong những buổi ra mắt sách, ra mắt thơ cũng giống như người ta đọc điếu văn trong các đám ma vậy thôi. Chỉ ca tụng, suy tôn tác giả, tác phẩm chứ không phê bình, góp ý. Tác giả khoái chí, người nghe vui tai. Có hại cho ai đâu? Anh chê văn thơ người ta vì văn thơ của anh dở hơn của người ta. Nhà văn, nhà thơ thất bại thành nhà phê bình là vậy.”
Còn về thi sĩ Xuân Tình, cá nhân tôi nhận xét thì, quả thực ông nhà thơ của chúng ta đã “bước lùi về quá khứ 1 bước và tiến tới hậu hiện đại 3 bước”. Nhiều bài thơ, tôi đoán, ông ta nhắm mắt viết bừa những câu bí hiểm điên khùng rồi ngắt ra từng đoạn, xuống giòng, thế là thành một bài thơ tự do, trừu tượng, siêu hình gì đó! Có những câu rất công thức như “Từ em về với người ta. Anh rời phố thị khóc tà huy xưa…” hoặc rất khó hiểu như “Em cổ tích ta vong thân mục tử, ôm mặt trời độc tấu khúc cuồng phong”…
Tôi biết, bạn nghĩ rằng tôi (nhà văn thất bại thành nhà phê bình) đang phịa ra một chuyện vừa dở vừa vô lý. Tôi còn điên đầu hơn nữa. Thế nên, nhân một hôm bà ta đến nhà để cám ơn sự giúp đỡ của vợ chồng tôi về buổi ra mắt thơ, tôi hỏi bà ta:
– Tôi có vài thắc mắc, nếu không tiện thì chị đừng trả lời. Như thế nầy. Tôi chưa thấy bà vợ nào hăng hái ủng hộ chồng in thơ, ra mắt thơ một cách tốn kém như chị. Ông xã chị ham vui thì chấp nhận được, nhưng chị lại sốt sắng hơn chồng nữa. Vậy là sao?
Bà ta ngồi yên một lúc rồi bỗng khóc òa. Vợ tôi hoảng kinh, ôm lấy bà ta, vỗ về:
– Có chuyện gì vậy? Chị không muốn nói thì thôi, đừng kể ra đây.
Rồi làm bộ trách tôi:
– Anh sao tò mò chuyện người ta. Xin lỗi chị. Ông xã em vô ý quá!
Bà ta vừa khóc vừa lắc đầu, một lúc sau mới mếu máo nói:
– Chồng em bị ung thư sắp chết. Mổ rồi, chữa đủ cách rồi, nhưng bác sĩ bảo riêng với em là ảnh chịu đựng giỏi lắm là 2 năm. Bởi vậy em phải làm sao cho ảnh vui trong những ngày cuối cùng khi vợ chồng còn bên nhau. Bán nhà em cũng làm. Cứ nghĩ đến mỗi ngày vợ chồng mỗi cách biệt, đêm nào em cũng khóc.
Vợ chồng tôi vội xin lỗi:
– Ảnh bị bịnh mà tụi tôi không hề biết. Thật có lỗi quá!
Bà ta lại lắc đầu:
– Chồng em dặn trong nhà là không được nói cho người ngoài biết chuyện bịnh hoạn của ảnh. Ảnh không muốn ai hỏi han, thăm viếng, an ủi, thương hại.
Trước đó, tôi nghĩ rằng bà ta là người điên, giờ đây, tôi lại thấy thật đáng kính phục, thương chồng quá sức! Bà ta nói tiếp:
– Em phải làm gấp, trước ngày đưa chồng em tái khám, vì sợ, bác sĩ mà tìm thấy di căn thì chẳng khác gì bị kêu án tử hình. Lúc đó vui thú gì mà ra mắt, ra mũi. Em sợ mất ăn mất ngủ mà ảnh thì vẫn bình thản làm thơ còn đồng ý cho em tổ chức ra mắt thơ nữa.
Vừa thán phục bà vợ, bây giờ tôi lại kính nể ông chồng. Hiếm người thấy thần chết vác lưỡi hái đứng trước cửa mà vẫn làm thơ tỉnh bơ.
Sau ngày ông thi sĩ Xuân Tình tái khám, vợ chồng tôi không dám hỏi thăm sợ ông chồng giận vợ, đã dặn là không cho ai biết, sao có người gọi hỏi! Vậy mà một hôm, bà vợ điện thoại, mời chúng tôi đi nhà hàng, ăn mừng buổi ra mắt thơ thành công mỹ mãn.
Chiều thứ bảy, những người đã góp công, phụ giúp trong buổi ra mắt thơ, có cả mấy cô hấp dẫn đi nhởn nhơ bữa trước nữa, tổng cộng trên vài chục người, đến nhà hàng đông đủ. Bà vợ ông nhà thơ đứng lên nói mấy lời cám ơn, chờ mọi người vỗ tay xong, bà ta mới long trọng báo một tin vui:
– Hôm thứ hai, ông xã tôi đi tái khám, mấy ngày sau có kết quả từ bịnh viện cho biết, tình trạng rất khả quan, nghĩa là không thấy di căn hay bịnh lan qua các bộ phận khác.
Mọi người nâng ly chúc mừng nhà thơ khỏi bịnh. Ông ta đứng lên tươi cười nói:
– Tôi bị ung thư bao tử đã lâu nhưng không cho ai biết. Bữa nay thì coi như khá hơn trước. Bác sĩ nói vậy thì biết vậy, dù sao đi nữa, tôi vui sống được đến ngày nay là nhờ vợ tôi.
Đang ăn uống chuyện trò thì bà vợ ông nhà thơ có điện thoại. Bà ta nói lớn như muốn mọi người chú ý:
– Alô! Dạ đúng rồi ạ! Dạ, em có biết nhà sách Văn Chương của anh. Anh cần mang đến ngay 20 tập Thơ Xuân Tình? Thế hả? Một bà bên Pháp qua Mỹ thăm bà con, người ta nhờ mua đem về Pháp? Ôi! Thật hân hạnh cho vợ chồng em quá! Cám ơn anh nhiều lắm. Dạ, chủ nhật nầy em đem thơ đến, được không ạ? Dạ, cám ơn anh.
Bà ta bỏ điện thoại vào xách tay, giọng bình thản:
– Sáng hôm qua, nhà sách Bình Minh cũng gọi bảo đem đến 20 tập Thơ Xuân Tình. Một bà từ bên Úc qua Mỹ chơi mua một mớ. Thằng con chúng tôi đưa tập Thơ Xuân Tình của ba nó lên “nét” (internet), báo chí đem xuống in ra nên người ta biết và hỏi mua.
Mọi người ngớ ra rồi lại vỗ tay chúc mừng. Ông chồng ngồi cười cười, nói mấy lời khiêm tốn, nhưng mặt cứ vếch lên trời, coi bộ thú vị lắm. Thật đáng kinh ngạc. Một nhà thơ vô danh, chỉ sau mấy bài thơ đưa lên “net”, đăng báo và một buổi ra mắt thơ bỗng trở thành nhà thơ “kiệt xuất”! Hay là bà ta làm bộ như có người mua thơ để chúng tôi lác mắt chơi, và cũng để cho chồng vui chứ chẳng ai khùng điên đi mua loại thơ đó về Úc, về Pháp tặng bạn bè!
Mấy hôm sau, tôi đến nhà sách Văn Chương. Ông bà chủ nhà sách là chỗ quen biết. Tôi mua vài cuốn sách rồi làm như vô tình, hỏi chuyện về thơ, về phát hành, mua bán thơ. Ông chủ nhà sách dẫn tôi đến một góc kẹt, chỉ một dãy các tập thơ:
– Những nhà thơ nổi tiếng thì bán chạy lắm, còn những người khác gửi bán, tôi nể tình nhận, nhưng chẳng bao giờ bán được thơ. Thế nên, tôi dồn hết những “thi phẩm” của họ vào góc đó, gọi là “Nghĩa Địa Thơ”.
Rồi ông ta tiếp :
– Có một chuyện lạ. Anh có biết nhà thơ Xuân Tình là ai không?
Tôi lắc đầu, vờ không biết:
– Tôi chỉ đọc báo và biết ông ta vừa ra mắt thơ tuần trước ở thành phố mình.
– Tôi có đọc thử, thơ ông ta cũng nhì nhằng, tàm tạm, vậy mà có người mua cả chục tập, đem về Pháp, Úc tặng bạn bè. Sáng nay tôi vừa giao 20 tập thơ cho một bà, bà ta còn đòi mua thêm mấy chục tập nữa.
– Có thể mình không đủ trình độ thưởng thức thơ ông ta. Kiểu nầy ông ta dám lãnh 1 giải thưởng thơ quốc tế nào đó thì cũng không nên ngạc nhiên.
– Đúng vậy. Ở đời có những bất ngờ mà chẳng ai lường trước được!
Đọc đến đây, quí vị sẽ nghĩ “Đúng là một chuyện phịa có hậu nhưng vụng về và vô lý. Nhà thơ ra mắt thơ thành công, bịnh ung thư lành hẳn, vợ chồng hạnh phúc!”
Nhưng xin thưa quí vị, chuyện đời đâu có đơn giản quá như vậy? Phần sau đây mới làm người đọc bàng hoàng.
Nguyên nhân thế nầy. Bà vợ ông nhà thơ đang khỏe mạnh bỗng thấy đau đầu khủng khiếp. Đi bác sĩ rồi khẩn cấp đưa vô bịnh viện mổ ngay. Bà ta có khối u trong đầu. Bịnh viện thử máu, chụp hình rồi chụp thuốc mê để mổ. Mổ xong, bà ta đi luôn, không tỉnh dậy nữa. Mới tuần trước còn thấy bà ta chào hỏi, cười nói với mọi người, tuần sau, bà ta biến mất trên thế gian!
Sau khi chôn cất vợ, ông nhà thơ đem những tấm hình vợ rọi lớn lên, treo kín các vách tường trong nhà. Trong phòng ngủ thì một bức chân dung vợ lớn hơn nữa, che lấp cái màn hình TV, để khi vào giường, thay vì xem TV, ông ta nằm ngắm vợ. Suốt ngày ông nhà thơ chỉ quanh quẩn giữa bốn bức tường, để nhìn đâu cũng thấy vợ.Có thể nói ông ta điên vì thương nhớ vợ chứ không phải thất tình.
Một năm sau, nhân giỗ đầu của bà chủ tiệm nails, chúng tôi được mời đến dự. Ông chồng có vẻ tỉnh táo, bớt nhớ vợ. Khi về, tôi nói với vợ tôi những thắc mắc về buổi ra mắt thơ, về những tập thơ bán qua Châu Âu, châu Úc. Vợ tôi giải thích:
– Chị ấy bắt mấy cô thợ nail (thợ móng tay) trong tiệm diện vô, sao cho sexy, đi nhởn nhơ cho mấy ông vui, để khỏi chán, bỏ về sớm.
Tôi kinh ngạc:
– Không ngờ bà ta khôn lanh quá cỡ. Bả làm cách nào mà bên Pháp, Úc cũng nghe danh ông ta mà tìm mua thơ?
Vợ tôi lại cười, chấp hai tay vái vái vào khoảng không như vái vong linh bà vợ ông nhà thơ rồi thì thầm, như sợ bà ta nghe được:
– Chị ấy dặn tụi em phải giữ thật bí mật. Chỉ nhờ tụi em, giả bộ như người từ Pháp, Úc, qua Mỹ tìm mua Thơ Xuân Tình. Cứ hỏi mua tối đa, mấy chục tập cũng được, chỉ trả lại tiền.
Bạn thấy, chuyện tôi kể chẳng hay ho gì, phải không? Không hay nhưng rất đẹp. Đó là tình yêu thương chồng của bà chủ tiệm Nails. Hiếm ông nào có được người vợ như thế!
Phạm Thành Châu
KHI ĐÃ YÊU
Phượng Linh Nguyễn Văn Đông
NHẠC SĨ PHƯỢNG LINH NGUYỄN VĂN ĐÔNG : Tuyển Tập Những Ca Khúc “Nhạc Mùi [HD Videos]
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không những là một nhạc sĩ nổi tiếng, một nhà sản xuất âm nhạc và quản lý văn hoá văn nghệ, ông còn có công phát hiện và đào tạo ra 2 nữ danh ca nhạc vàng nổi tiếng: Giao Linh và Thanh Tuyền. Những câu chuyện dưới đây được tổng hợp từ chính lời kể của người trong cuộc.
GIAO LINH
Vào một buổi sáng chủ nhật của năm 1965, tròn 55 năm trước, tại nhà của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ở trên đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trong Tuyển), nhạc sĩ Thu Hồ đã dẫn đến một cô bé gầy gò ốm yếu vừa mới tròn 16 tuổi, tên là Đỗ Thị Sinh. Nhạc sĩ Thu Hồ nhờ Nguyễn Văn Đông xem xét giọng hát của cô xem có thể thu nhận được vào hãng dĩa hay không. Khi cả 3 vào trong nhà, nhạc sĩ Thu Hồ mở lời: “Đây là cô bé mà em có thưa với anh hôm trước. Em thấy cô ấy có giọng ca rất truyền cảm đầy triển vọng. Em nghĩ nếu được anh thu nhận vào hãng dĩa Continental của anh, thì sự thành danh của cô ấy sẽ không là vấn đề nữa. Nên hôm nay em đưa cô ấy đến gặp anh”. Ấn tượng ban đầu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đối với Đỗ Thị Sinh (sau này là ca sĩ Giao Linh) không được tốt. Cô gái 16 tuổi cứ ngồi im lặng, không nói năng gì dù được ông Nguyễn Văn Đông gợi chuyện nói để dò xét năng khiếu âm nhạc. Sau này, Giao Linh thổ lộ rằng lúc đó cô ngồi im không cười không nói vì run quá. Lúc đó nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã là một nhạc sĩ lớn, và một sĩ quan cấp tá, có nét mặt nghiêm nghị, vì vậy có thể đã làm “át vía” một cô gái nhà quê thấp bé. Tuy không ấn tượng gì lắm, nhưng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vẫn trao cho Giao Linh một cơ hội thử giọng tại phòng thu Continental do ông làm giám đốc. Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nói rằng ông sửng sốt vì được chứng kiến một giọng hát khoẻ khoắn, vượt qua quãng 8 một cách dễ dàng. Nguyễn Văn Đông và hãng dĩa Continental quyết định ký hợp đồng với Giao Linh, lên chưa trình để đào tạo thành ca sĩ, nhưng ông không quên nhắc cô gái rằng: Dù được ký hợp đồng nhưng có nổi tiếng hay không là còn do tài năng riêng. Ông chỉ hướng dẫn về kỹ thuật, còn chất giọng là do thiên phú… Sau khi ký hợp đồng, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông giao cho nhạc sĩ Ngọc Sơn kèm cặp thêm cho Giao Linh, và chỉ chưa đầy 1 năm sau, giọng hát Giao Linh được rất nhiều người biết đến qua các bản thu âm trong dĩa nhựa Continental, sánh vai với các đàn chị đã nổi tiếng trước đó nhiều năm. Tròn 55 năm qua, tiếng hát Giao Linh vẫn đứng vững trong lòng người hâm mộ như là một huyền thoại của nhạc vàng.
Thanh Tuyền
Ngoài Giao Linh thì ca sĩ Thanh Tuyền cũng đã thành danh nhờ sự phát hiện, đào tạo của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Vào năm 1964, khi ông đi nghỉ dưỡng ở Đà Lạt thì được bạn bè ở đài phát thanh tại đây đến thăm, rồi giới thiệu một giọng ca đầy triển vọng, tên là Như Mai, được sinh ra và lớn lên ở vùng đất cao nguyên này. Cô là nữ sinh trường Bùi Thị Xuân, hàng tuần có tham gia hát ở đài phát thanh. Dịp nghỉ hè năm đó, trường Bùi Thị Xuân tổ chức bế giảng năm học và có mời nhạc sĩ Nguyễn Văn Động đến tham dự. Đến phần văn nghệ, người dẫn chương trình giới thiệu: “Nữ sinh Như Mai xin hát tặng cho khách quý đến từ Sài Gòn”. Cô học sinh trường nữ cất tiếng hát lảnh lót, khoẻ khoắn đầy sức sống của tuổi thanh xuân, âm thanh vang lộng cả sân trường. Khi dứt bài, Như Mai ngước nhìn nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đầy ẩn ý. Ông đã mời Như Mai đến gặp và nói: Cháu có muốn trở thành ca sĩ không? Cô nữ sinh 16 tuổi vui mừng gật đầu. Sau đó, Nguyễn Văn Đông đã gặp cha mẹ cô bé để bàn chuyện đưa cô về Sài Gòn sinh sống để đào tạo thành ca sĩ, khởi đầu cho một giọng ca huyền thoại hơn 50 năm qua: Thanh Tuyền. Khi Thanh Tuyền về đến Sài Gòn, thuở ấy vẫn còn là một cô bé tuổi trăng tròn. Còn nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vẫn còn độc thân, ăn cơm chợ, ngủ đơn vị, nên không tiện đưa cô về nhà chăm sóc. Vì vậy ông đã gửi gắm Thanh Tuyền cho gia đình nhạc sĩ Mạnh Phát (cùng vợ là danh ca Minh Diệu) nuôi nấng và dạy nhạc. Chi phí đều do hãng dĩa Continental đài thọ. Cái tên Thanh Tuyền cũng được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đặt cho cô, với ý nghĩa là dòng suối (Tuyền) xanh mát (Thanh) của xứ sở Đà Lạt. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và Continental cũng lên chương trình đào tạo cho Thanh Tuyền, còn đôi nghệ sĩ Mạnh Phát – Minh Diệu luôn kề cận ở bên, có trách nhiệm kèm cặp cho Thanh Tuyền, giống như nhạc sĩ Ngọc Sơn kèm cho Giao Linh. Chỉ trong vòng 8 tháng sau khi có mặt ở Sài Gòn, giọng hát Thanh Tuyền được thu âm trong dĩa hát và được công chúng đón nhận, lúc đó Thanh Tuyền vừa đúng 17 tuổi. Cô cũng xuất hiện trên sân khấu đại nhạc hội, phòng trà, đài phát thah và được báo chí tán dương. Có thể nói Thanh Tuyền thành danh, được nuôi nấng và dạy dỗ đều do công sức của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, kể từ khi ông phát hiện, đưa cô về Sài Gòn, lo cho cô mọi mặt về cuộc sống để cô toàn tâm toàn ý luyện tập trở thành một ca sĩ nổi danh. Tuy nhiên, có một việc ít người biết là có một thời gian Thanh Tuyền phạm một sai lầm làm cho Nguyễn Văn Đông không nhìn mặt cô trong 2 năm trời. Việc này được chính Thanh Tuyền kể lại tại buổi livestream ở trung tâm Thuý Nga hồi năm 2018. Trung tâm Thuý Nga được thành lập tại Sài Gòn từ khoảng đầu thập niên 1970, sau đó mới phát triển tiếp nối tại hải ngoại. Sản phẩm đầu tiên mà trung tâm Thuý Nga thực hiện tại Sài Gòn chính là băng nhạc Tiếng Hát Thanh Tuyền 1 mà bạn có thể nghe ở bên dưới. Cuốn băng này thành công rực rỡ và đến nay vẫn được người yêu nhạc tìm nghe lại sau 50 năm. Băng nhạc Thanh Tuyền 1 Lúc đó, Thanh Tuyền là bạn của bà Thuý (vợ của ông Tô Văn Lai, chủ trung tâm Thuý Nga). Khi được bà Thuý ngỏ lời thu một cuốn băng, Thanh Tuyền đã vô tư nhận lời thực hiện cuốn băng Tiếng Hát Thanh Tuyền 1 với Thuý Nga. Điều đáng nói là Thanh Tuyền được đào tạo tại trung tâm Continental từ khi chưa nổi tiếng, và trung tâm này hoàn toàn đủ điều kiện để thực hiện các cuốn băng cho Thanh Tuyền, nhưng đến năm 1971-1972, cô không thu băng với Continental mà làm với trung tâm Thuý Nga. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã trách rằng cô không hỏi ý kiến mà tự mình quyết định việc này. Nghe lại lời kể của Thanh Tuyền trong buổi trò chuyện Xin nói thêm về những ngày đầu đi hát của Thanh Tuyền dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Trong hồi ký của mình, ông đã kể lại một câu chuyện rất hy hữu và cảm động như sau: “Riêng đối ᴠới tôi, ᴠẫn ᴄòn nhớ mãi một kỷ niệm ᴠề ngày khởi đầu đi hát ᴄủa Thanh Tuyền tại Sài Gòn. Theo ᴄhương trình, Thanh Tuyền hát ra mắt lần đầu tiên ở phòng trà Bồng Lai ᴠà ᴠũ trường Quốᴄ Tế đường Lê Lợi Saigon. Tôi đíᴄh thân đi mua son phấn để ᴄho Thanh Tuyền trang điểm khi đi hát. Tôi thật bất ngờ khi biết Thanh Tuyền ᴄhưa từng sử dụng hộp phấn ᴄây son trướᴄ đó. Khi đến giờ trình diễn, tôi đưa Thanh Tuyền đến ᴠiện Thẩm Mỹ, Salon Make Up, nhưng ᴄáᴄ ᴄửa tiệm đều đóng ᴄửa ᴠì trời đã khuya. Quá lo lắng, tôi kéo Thanh Tuyền ᴄhạy men theo đường Lê Lợi mong tìm người quen giúp đỡ. Nhưng không gập đượᴄ ai mà thời gian lại gấp rút nên thầy ᴠà trò đành ngồi bệt ngay trên ᴠỉa hè Lê Lợi. Nhờ ánh sáng đèn đường, tôi đánh phấn tô son ᴄho Thanh Tuyền mà trướᴄ đó, tôi ᴄũng ᴄhưa từng biết gì ᴠề ᴄây son hộp phấn ᴄhanel. Rồi Thanh Tuyền ᴄhạy bay lên lầu phòng trà Bồng Lai để kịp giờ trình diễn, ᴄòn tôi nện gót trên lề đường Lê Lợi, lòng ngập tràn ᴄảm xúᴄ khi tiếng hát Thanh Tuyền ᴄất lên, đánh dấu ngày khởi nghiệp ᴄủa ᴄa sĩ Thanh Tuyền giữa thủ đô Sàigòn hoa lệ. Đến bây giờ, sau 40 năm ngồi nhớ lại, tôi dám đoan ᴄhắᴄ rằng, đây là người thiếu nữ duy nhất trong đời mà tôi đã kẻ lông mày, “tô son trét phấn” rồi tung ᴄon ᴄhim Sơn ᴄa ᴠào bầu trời bao la, bởi ᴠì ᴄô là… ᴄủa muôn người”. Tổng hợp
Thịt cầy
F. CHOPIN (arr. F. Tarrega): Nocturne no. 2, op. 9
Nocturne Chopin guitare

Trại nuôi chó Nam HànThịt cầy và thịt cấyCell Culture War, London Times Feb16, 2024Regina Rini
Ngày 9 tháng Giêng 2024, Quốc Hội Nam Hàn thông qua đạo luật cấm nuôi chó làm thịt, gây nhiều xáo trộn. Vào thời điểm 2015, các cuộc thăm dò cho biết 1/4 dân số Nam Hàn vừa nhấm nháp thịt chó. Trước cuộc bỏ phiếu nầy, Hội Thịt Cầy Nam Hàn tuyên bố: Không ai được phép tước đoạt quyền ăn thịt của 10 triệu người xơi thịt (cầy). Nhưng người Triều Tiên thế hệ trẻ cùng quan điểm với dân chúng các nước giàu trên thế giới cho rằng chó là loài thú gần gũi với trẻ em và không đáng làm thịt mà ăn.
Trong cùng thời gian nầy, lập pháp của tiểu bang Florida đang xúc tiến việc cấm một món nấu khác gọi là thịt cấy (cultured meat), thịt làm từ các tế bào trong phòng thí nghiệm. Loại thịt nầy hiện rất mắc. Một cái burger thịt cấy giá gấp 10 lần burger thịt bò sống. Nhưng cultured meat sẽ vinh dự phục vụ một thế giới mới có thể thỏa mãn khẩu vị thịt mà không cần đến thịt từ lò sát sanh. Sau khi Cơ Quan Quản Lý Dược Phẩm và Thực Phẩm (USFDA) vào năm 2023 chứng nhận thịt cấy an toàn, các nhà hàng tiên phong ở Thủ Đô và San Francisco gấp rút đem vào thực đơn. Trong lúc ấy, các tiểu bang do Đảng Cộng Hòa lãnh đạo giành nhau danh hiệu tiểu bang đầu tiên cấm thịt cấy.
Cười khinh việc ăn thịt chó là một trong những thái độ bất thân thiện người Tây Phương dành cho Đông Á. 20 năm trước, trong cuộc giành nhau tổ chức Thế Vận Hội 2008 giữa Paris và Bắc Kinh, phe Tàu nói rằng trong cái kinh đô ngăn nắp của Trung Hoa, không như hố xí bên bờ sông Seine, không có ai lo ngại sẽ đạp lên cứt chó. Phe Pháp trả lời: ai chả biết vì Pháp không ăn thịt chó. (Kết quả, thịt chó cấm bán những nơi tranh tài Thế Vận Hội Bắc Kinh).
50 năm trước, Cora Diamond đã chỉ trích các triết gia khác bênh vực đường lối ăn chay dựa trên những nguyên tắc trừu tượng. Bà nói họ không biết con người sẵn sàng ăn mọi thứ thịt; chỉ không ăn thịt người, dù người chết một cách tinh tấn như bị sét đánh.
Nhưng với thịt cấy thì sao? Thịt cấy không lấy từ các con vật sống. Bênh vực việc cấm thịt cấy, thống đốc DeSantis nói: Quý vị muốn thịt hả? hãy đến Florida, chúng có thịt; chúng tôi không tạo ra thịt giả”. Nguyên động lực của ông có lẽ là để tránh cạnh tranh bất lợi cho ngành nuôi bò hơn là vì lý do luân lý. Ý Đại Lợi cũng làm như vậy vào tháng 11 năm qua.Texas và Florida đều đưa chuyện thịt cấy vào cuộc tranh luận môi sinh giữa hai đảng, nào là canh nông làm cho nhiệt độ trái đất tăng, nóng hơn v.v…đúng hay không?Kỹ nghệ chiến tranh văn hóa đã làm lu mờ mối bức thiết luân lý là giảm thiểu sự khổ đau của thú vật. Đừng dùng thịt cầy thịt bò thay cho thịt cấy, thịt cấy không dựa vào thịt từ lò sát sanh.-
Bình loạn xạ:Cách đấy 10 năm, các khoa học gia Thụy Điển tiên đoán 50 năm nữa thì thế giới muốn hay không muốn đều phải ăn chay vì lúc ấy trái đất không đủ nước trồng thực phẩm cho thú vật như cỏ, bắp và nước uống cho chúng. Rứa là còn 40 năm nữa thế giới có cơ duyên theo nhà chùa thứ thiệt, chứ không phải thứ giả bán tự vi sư.Trước đó nữa cách nay cả 70 năm, người Nhật tuyên bố biển sẽ là nguồn sống khi mặt đất không đủ sức cung cấp thực phẩm vì thiếu nước, đất khô vì môi sinh bị phá hoại, núi trọc, lụt kéo đất màu xuống biển. Người Nhật nâm bờ oan rong biển (sea weed) nên họ đoan chắc như vậy. 70 năm trước chưa có những vụ dầu ngập đại dương (oil spill), lâu lâu có chiếc tàu dầu vĩ dại đụng đá ngầm vì thuyền trưởng say thuốc lào. Cũng như khoan dầu ngoài khơi tránh sao cho dầu không rơi rớt. Những nước phát triển vội như VN và Tàu thải ra biển vô số thứ chất tốc xít; như quanh Saigon cá không sống được thì nước đó sẽ chảy ra biển.Nhưng hiện nay, sản xuất thịt rất tốn kém; nguyên do chính là trồng thực phẩm cho thú vật, nông cơ nông cụ đều dùng xăng, chuyên chở súc vật tốn xăng nữa. Ngoài ra phân bón làm ô nhiểm như cái hồ nhà cũ của Đốc Lộc xem như hồ chết. Triệu tấn phân hóa học ở MidWest hằng năm trút xuống sông Mississippi, ô nhiễm vịnh Mexico.Do đó, cứ rất thực tiển như ăn con gà chay, hay phát triển thịt cấy. Thế giới không âu lo chuyện sinh tưởng của PG từ gà chay gà mặn. Họ gọi là “canivore taste”. Vã lại chữ “meat” dùng cho thực vật: thịt quả xoái, meat of mangove, of banana.Thần học Tây phương đã bỏ luận thuyết rằng God sinh ra thú vật cho con người ăn ngõ hầu có sức phụng thờ God; có người nói đó là egocentric; God chỉ làm chính mình để dược phụng thờ. Quan niệm nầy được các giáo sĩ bảy tám trăm năm trước đưa vào Tàu mới có lý thuyết “vật dưỡng nhân”. Ngày nay các Bible nói bữa ăn đầu tiên Adam nấu cho Eva là bữa ăn chay, Adame vào vườn God tạo dựng hái lá và trái cây làm bữa cho Eva.Các thay đối lớn về sản xuất đều gây xáo trộn nhưng rổi cũng qua. Ví dụ mới nhất là trồng thuốc lá ở Mỹ. Thuốc lá là nguồn sống, đến độ tên tiểu bang Virginia là thuốc thơm thuốc màu vàng ghi trên các bao thuốc. Ngành trồng cây thuốc xem như tê liệt mà các tiểu bang như Virginia không chết. Trong kinh tế, nhiều nghịch cảnh mà lợi hơn. Chuyển từ nuôi bò qua một ngành khác có thể nhiều sinh lợi hơn tùy sáng kiến.Chừng thập niên 1930, một nữ Phật Tử trẻ ở Bến Tre đã viết cuốn Phật Giáo Dưỡng Sinh gồm nhiều vần đề kể cả masturbation. Bà phân tích khá chi tiết việc ăn chay, bà trích dẫn một luận thuyết dài của một bác sĩ nói rằng cơ cấu thân thể con người là một giống ăn rau quả như không có răng nanh xé thịt, có những điểm giống như bỏ ăn cỏ.Tuy vậy, con người đã ăn cùi giống con gazelle, thủy tổ con nai vàng ngơ ngác ngày nay.Về cultured meat, Singapore đã khai thác khá nhiều.Người Việt ở quận Gwinette Georgia thường mất chó và mèo; họ đổ thừa cho người Đại Hàn nhưng người Việt mình không ăn thịt chó hay sao. Sống trên đời phải ăn cái dồi chó, xuống âm phủ có có mà ăn không?————————
Anh yêu ai?
Không biết tình cờ hay cố ý anh Phượng gặp tôi ngay đầu hẻm khi tôi đi học về, anh chặn xe đạp tôi lại, hỏi:
– Em Bông, chiều nay đi ăn chè với anh không?
Bất ngờ quá tôi bối rối và ăn nói…vô duyên như thường lệ:
– Chè… gì anh?
Nghĩ tôi là con nhỏ ham ăn chắc, anh liệt kê một mớ chè hấp dẫn:
-Chè đậu xanh bột khoai nước dừa đường cát trắng, chè sương sa hột lựu, chè trôi nước, chè…
Tôi cản lại:
– Anh khỏi kể, em ăn hàng bấy lâu nay có bao nhiêu loại chè em biết hết rồi, nhưng…
– Anh năn nỉ mà, lâu lâu anh mới về phép thăm …
Tôi hồi hộp, vô duyên lần nữa, cướp lời anh:
– Thăm gì hả anh?
– Thăm nhà và thăm xóm mình chứ còn gì nữa. Anh nhớ mấy gánh chè trên chợ Hạnh Thông Tây
May quá tôi cũng nói được một câu…bình thường:
– Ðể em suy nghĩ, trả lời anh sau.
Anh tự tin dễ sợ:
– Anh cứ đợi em ở mấy gánh chè trên chợ lúc 7 giờ chiều nha
Tôi đạp xe về nhà với cõi lòng lâng lâng.
Chẳng biết từ lúc nào tôi đã thương mến thầm anh Phượng hàng xóm, anh hơn tôi 5 tuổi, hát hay đàn giỏi, thỉnh thoảng buổi tối anh ngồi trước cửa nhà đàn hát, tiếng hát ngọt ngào của anh đã rót vào trái tim 16 tuổi trăng tròn của tôi những tình cảm bâng khuâng.
Anh đi lính, xóm vắng anh, vắng cả những đêm khuya tiếng hát tiếng đàn.
Hôm nay anh về phép gặp tôi và rủ đi ăn chè có…tình ý gì đây?
Trước giờ anh có để ý gì đến tôi đâu, hay là bây giờ anh đã…chuyển hướng yêu tôi?
Tôi muốn đi ăn chè với anh lắm, tôi tưởng tượng anh Phượng và tôi hẹn hò cùng sánh vai từ nhà đi bộ lên chợ Hạnh Thông Tây, anh sẽ nói gì với tôi nhỉ?
Và cuộc ăn chè để chúng tôi được dịp tâm tình.?
Nhưng tôi chưa biết sẽ đi bằng cách nào, ở nhà tôi vẫn phải kè kè trông em, bế em, lấy lý do gì nói với mẹ để rời khỏi nhà cả tiếng đồng hồ.
Tôi muốn hỏi ý kiến nhỏ bạn thân cùng xóm Bích Hợp, điều gì nó cũng giúp tôi tìm ra đáp số nhưng điều này thì không thể vì Bích Hợp hình như cũng có cảm tình với anh Phượng.
Có những khi Bích Hợp sang nhà tôi chơi nói chuyện đến khuya, hai đứa đang ríu rít cùng…im bặt khi vẳng nghe tiếng hát anh Phượng hàng xóm vọng sang.
Bích Hợp đã mơ màng:
– Anh ấy hát hay quá..
Nếu anh Phượng yêu tôi Bích Hợp sẽ buồn biết bao!
Tôi ăn cơm xong định sang nhà Bích Hợp thì nó đã sang nhà tôi, nét mặt nó có vẻ bồn chồn lạ lắm. Tôi chẳng dám mở lời nói chuyện của mình thì Bích Hợp nói trước:
– Bông nè…anh Phượng rủ tao chiều mai đi ăn chè trên chợ Hạnh Thông Tây, tao chưa biết trả lời sao nên hỏi ý kiến mày.
Tôi giật mình, khai luôn:
– Anh Phượng cũng rủ tao chiều nay đi ăn chè, tao cũng chẳng biết trả lời sao. Thì ra anh rủ cả hai đứa nhưng mỗi đứa một buổi chiều khác nhau.
Nghe xong Bích Hợp thoáng thất vọng và phân vân:
– Vậy thì giữa hai đứa mình, anh ấy…yêu ai? mình phải ba mặt một lời hỏi cho ra lẽ không để anh bắt cá hai tay.
Thì ra Bích Hợp cũng yêu thầm anh Phượng nhiều chẳng kém gì tôi. Tôi đồng tình:
– Anh Phượng phải chọn một trong hai và tình bạn chúng mình vẫn không thay đổi nha.
– Ừ, sòng phẳng và rõ ràng. Tao thề thà hy sinh tình yêu chứ không hy sinh tình bạn.
Tôi cảm động:
– Tao cũng thề tình bạn là trên hết.
Hai đứa bàn nhau không đi ăn chè với anh, cho anh chờ mỏi mòn và ăn chè một mình, đáng đời về cái tội dám yêu hai đứa tôi cùng lúc dù anh biết chúng tôi chơi thân nhau như thế nào rồi.
Chiều hôm sau tôi và Bích Hợp lượn qua lượn lại trước cửa nhà anh, mong gặp anh để hỏi vụ anh mời đi ăn chè, để bắt anh xác nhận anh yêu ai nhưng chẳng thấy bóng dáng anh đâu.
Thế rồi anh Phượng trở về đơn vị hồi nào chúng tôi không hay.
Chắc anh ra đi với cõi lòng tan nát vì cùng một lúc bị hai đứa chúng tôi đối xử phũ phàng?
…
Cuối năm vào dịp Giáng Sinh anh Phượng lại về phép thăm nhà, chàng lính chiến dáng to cao uy nghi trong quân phục thoáng qua nhà làm tôi lại bâng khuâng xao xuyến.
Bích Hợp sang nhà tôi rộn rã báo tin:
– Anh ấy đã về.
Nghe giọng nói reo vui và đôi mắt Bích Hợp long lanh tôi bỗng chạnh buồn. Bích Hợp đã chờ mong anh như tôi đã chờ mong.
– Không biết anh Phượng có rủ mình ăn chè nữa không nhỉ?
Bích Hợp cương quyết:
– Dù thế nào chúng mình cũng phải gặp anh ấy, bắt anh phải trả lời câu hỏi mà anh còn nợ mình: Anh yêu ai?
Tin anh Phượng đưa người yêu về ra mắt mẹ anh đã lan truyền trong xóm, cô này theo đạo Thiên Chúa trong khi gia đình anh đạo Phật, mẹ anh không hài lòng.
Tôi và Bích Hợp nghe tin này cả hai đứa đều ngạc nhiên và buồn ủ ê. Buồn là buồn cho anh, chắc anh thất tình hai đứa tôi nên đành lòng tìm người yêu khác dù bất đồng tôn giáo, dù làm mẹ anh buồn phiền.
Hai đứa quyết chí gặp anh, không để anh âm thầm ôm khổ đau trở về đơn vị như lần trước nữa Tôi và Bích Hợp loanh quanh ở đầu ngõ nhà anh, canh chừng nếu anh bước ra khỏi nhà sẽ không thoát khỏi chúng tôi.
Dĩ nhiên là chúng tôi toại nguyện, vừa thấy anh Phượng đi tới chúng tôi đã nhào theo rối rít gọi:
– Anh Phượng ơi..Anh Phượng….
Anh dừng chân ỡm ờ:
– Hai đứa muốn rủ anh đi ăn chè hả?
Bích Hợp lanh chanh vào đề ngay:
– Tụi em phục kích anh ở đây để hỏi tội anh mời riêng rẽ từng đứa em đi ăn chè mấy tháng trước đó.
Tôi vô duyên tiếp lời bạn:
– Anh mời em đi ăn chè là anh yêu em sao còn mời Bích Hợp đi ăn chè?
Anh kêu lên:
– Ủa…ủa…
Bích Hợp sốt ruột cướp lời anh:
– Ủa..ủa cái gì. Vậy thì anh yêu ai? Ðừng có nói là anh yêu cả hai đứa em nha.
– Ủa…ủa..
Ðến lượt tôi cắt ngang không cho anh nói hết câu:
– Thôi anh đừng có “ủa..ủa” nữa, bọn em hiểu rõ lòng dạ anh rồi.
Anh mở to mắt nhìn hai đứa tôi và không nhịn được cười:
– Ủa, ủa bộ cứ rủ đi ăn chè là yêu hả? Nghe nè hai đứa, anh đi lính xa nhà, xa bao kỷ niệm, anh nhớ những gánh chè trên chợ Hạnh Thông Tây xóm mình và muốn rủ người đi ăn cùng cho vui, anh mời riêng em Bông, rồi mời riêng em Bích Hợp là anh muốn…thử lòng hai cô bé chơi thân với nhau, gắn bó nhau không rời sẽ phản ứng thế nào. Kết quả anh đã biết rồi, hai cô bé cho anh “leo cây” và tình bạn vẫn bền vững. Chúc mừng hai em…Thôi anh có chuyện bận, anh đi đây.
Hai đứa tôi ngẩn ngơ nhìn nhau không nói nên lời.
Chập tối, mẹ sai tôi đi tìm đứa em 5 tuổi đang chơi nhà hàng xóm.
Thấy em đứng trước cửa nhà anh Phượng tôi liền đến gọi nó về.
Nhưng vừa đến sát cửa thì tôi nghe có tiếng cãi cọ, là tiếng mẹ anh Phượng chì chiết:
– Con về phép chọn dịp lễ Giáng Sinh để đi lễ nhà thờ với người yêu. Con mê nó đến thế cơ à..!!!!
– Chúng con yêu nhau cả năm nay rồi mẹ, cô ấy ngoan hiền lắm..
Mẹ anh vẫn to tiếng:
– Nhưng mẹ không thích người khác tôn giáo. Xóm mình thiếu gì con gái cũng ngoan cũng hiền. Thí dụ như con Bông, con Bích Hợp đấy…Mẹ thấy con hay chuyện trò vui vẻ với chúng nó lắm mà sao con không chọn?
Tiếng anh Phượng dứt khoát:
– Hai con nhỏ này con coi như em út trong nhà mẹ ơi, một đứa thì xớn xác vô duyên một đứa thì lanh chanh hóng hớt, yêu sao được. Con nói chuyện với hai đứa là thường tình hàng xóm láng giềng thôi.
Nghe tới đây tôi tự ái chịu hết nổi vội bế thốc đứa em về cho nhanh, không thèm nghe lén nữa.
Vụ anh Phượng rủ tôi và Bích Hợp đi ăn chè, anh chỉ đùa cợt cho vui vậy mà suốt mấy tháng trời hai đứa tôi cùng ôm mộng, hí hởn…tưởng bở anh ấy yêu mình.
Nhưng tôi và Bích Hợp bỗng… vui mừng sung sướng khi anh chẳng yêu ai Bông và Bích Hợp, vì nếu anh yêu một trong hai đứa biết đâu tình bạn chúng tôi sẽ vơi đi…?
NTTD (June. 22, 2022) – Tác giả .
Mời đọc những bài viết
1. https://damtrungphan.wordpress.com/2024/02/27/cho-toi-lai-ngay-nao/
2. https://damtrungphan.wordpress.com/2024/02/16/sai-gon-ngay-ay-chung-toi-di/
3. https://damtrungphan.wordpress.com/2023/08/28/lua-va-con-nguoi/
Hải Ngoại Năm Châu Rợp Bóng Cờ
Trong cuốn Chính Đề Việt Nam, ông Ngô Đình Nhu nhấn mạnh đến 2 sự kiện lịch sử:
Thứ nhất: trong quá khứ, Việt Nam đã từng bị quân Tầu (giặc phương Bắc) đô hộ hơn một ngàn (1000) năm (từ 111 tr TC – 939 sau TC). Suốt thời gian bị giặc Tầu đô hộ, cha ông, tổ tiên chúng ta đã không ngừng đấu tranh giành lại độc lập và quyền tự chủ cho Dân Tộc. Các vị anh hùng đã xuất hiện được lịch sử ghi lại như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Mai Thúc Loan cũng gọi là Mai Hắc Đế, vân vân. Nhưng phải đến năm 939 sau TCGS, đại anh hùng Ngô Quyền lãnh đạo dân chúng đánh bại quân Nam Hán giành lại độc lập, tự chủ mở ra một kỷ nguyên mới cho Dân Tộc Việt Nam. Tuy bị đánh bật ra khỏi lãnh thổ VN, nhưng giặc phương Bắc vẫn không từ bỏ tham vọng bành trướng lãnh thổ. Chúng vẫn coi VN là một phần lãnh thổ của Tầu và vẫn luôn rình rập nhòm ngó, xem có cơ hội thuận tiện, lại mang quân sang tấn chiếm.
Trong 900 năm, từ năm 939 đến năm 1840, khi Tây phương tấn công vào xã hội Đông Á làm cho những mâu thuẫn, nội bộ của xã hội này, tạm ngưng hoạt động, Trung Hoa đã bảy lần toan chiếm lại nước Việt Nam. Hai lần do nhà Tống chủ trương, ba lần nhà Nguyên, một lần nhà Minh và một lần nhà Thanh. Một hành động liên tục như vậy, nhất định có nghĩa là tất cả các triều đại Trung Hoa đều theo đuổi một chính sách, đặt lại nền thống trị trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ hai: “Sự xâm lăng của Trung Quốc đối với Việt Nam có tính cách trường kỳ, nhưng những nhà lãnh đạo Hà Nội vì thiển cận và vì quyền lợi hẹp hòi của Đảng Cộng Sản và cũng có thể vì quyền lợi cá nhân ích kỷ của những vị lãnh đạo, đã không ý thức hiểm họa xâm lăng khiếp hãi đó của Trung Quốc, họ đã xem nhẹ quyền lợi của quốc gia, dân tộc, đã liên kết với Trung Cộng và Liên Sô, đánh mất đi cơ hội ngàn năm một thuở, là khai thác những mâu thuẫn giữa hai khối Tây Phương và Liên Sô sau Thế Chiến Thứ Hai, để khôi phục độc lập và nhận viện trợ của cả hai khối để phát triển dân tộc…như Ấn Độ. Trái lại, việc cam tâm làm chư hầu cho Trung Cộng và Liên Sô đã đưa Việt Nam vào cuộc chiến tranh với Tây Phương một cách vô nghĩa và phi lý, và đã đem lại một hậu quả vô cùng khủng khiếp cho cả dân tộc, đó là sự hủy diệt toàn bộ sinh lực của quốc gia, cả về phương diện tinh thần lẫn vật chất và sinh mạng của người Việt, trong suốt hơn 30 năm… Nhưng còn tệ hại hơn nữa, là sự nhận viện trợ đó từ Trung Cộng đã là tiền đề để rước họa xâm lăng từ phương Bắc vào Việt Nam ngày nay.” Xem thế đủ biết rằng, đối với dân tộc chúng ta họa xâm lăng là một mối đe dọa thường xuyên. (CĐVN tr. 166) Do đó, Trung Hoa của Mao Trạch Đông, cũng như Trung Hoa của các triều đại Nguyên, Tống, Minh, Thanh là một đe dọa truyền kiếp. Sự sùng bái chủ nghĩa Cộng Sản là một sai lầm nghiêm trọng.Chúng ta thừa hiểu rằng sự phát triển của Tàu, là mục đích trước và trên hết trong mọi cuộc Đồng Minh hiện nay của các nhà lãnh đạo Trung Cộng, cũng như sự phát triển của Nga là mục đích trước và trên hết trong mọi cuộc Đồng Minh trước đây của các nhà lãnh đạo Nga. (CĐVN tr. 202 -204).
Nhưng Hà Nội còn phạm những lỗi lầm nghiêm trọng hơn nữa, khi quyết định dụng võ lực để thôn tính miền Nam, đã dẫn tới việc trực tiếp đụng độ quân sự với Hoa Kỳ, khiến miền Bắc đã khánh tận và kiệt quệ trong cuộc chiến tranh chống Pháp càng lún sâu trong cảnh tượng hoàn toàn đổ nát và hoang tàn trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, mà ngày nay, qua hành động gần như van nài của Hà Nội để xin lập lại bang giao với Hoa Kỳ vào năm 1996, ai còn chút lương tri bình thường cũng thấy rằng cuộc chiến đó là hoàn toàn vô lý và xuẫn động, mà nguy hiểm hơn nữa là trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Cộng tự do xâm lăng Việt Nam, vì Mỹ đã không còn hiện diện ở miền Nam, để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Cộng (TS Phạm Văn Lưu).
Các nhà lãnh đạo miến Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc. Sở dĩ, tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian. Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách thống trị một lần nữa. (CĐVN tr.212)
Những nhận định sâu sắc trên đây của ông Ngô Đình Nhu được viết ra từ những năm đầu của thập niên 1960, lúc đó ông chưa hề nghĩ đến biến cố 30-04-1975. Thảm hại thay, biến cố 1-11-1963 đã xẩy ra do quyết định sai lầm và tệ hại của chính quyền thực dân Kennedy mà hậu quả ngay tức khắc là sau khi sát hại TT Ngô Đình Diệm và ông CV Ngô Đình Nhu, Miền Nam đi vào vũng lầy đầy xáo trộn, chiến tranh gia tăng, lãnh đạo bất lực, tạo cơ hội cho CSBV với sự hỗ trợ của Nga Sô và Trung Cộng xua quân tấn chiếm hoàn toàn Miền Nam ngày 30-04-1975.
Nhưng biến cố bi thảm này, không ngờ lại tạo ra một cuộc trốn thoát Cộng Sản của hàng triệu người dân Việt ra nước ngoài tạo nên một Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại với dân số trên 4 triệu người, quy tụ dưới là cờ Vàng ba sọc Đỏ truyền thống. Như vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ Chính Nghĩa Quốc Gia về quyền tự do dân chủ chống lại CS của nhân dân Việt Nam hiển nhiên đã tiếp tục 49 năm nay. Và nó sẽ còn tiếp tục cho đến khi nước VN thoát khỏi ách thống trị độc tài của Cộng Sản. Lá Cờ Vàng ba sọc Đỏ vẫn hiên ngang tung bay khắp năm Châu bốn biển trong các Cộng đồng Người Việt Quốc Gia.
Được Nga Sô – Trung Cộng hậu thuẫn, và được Mỹ thả cho ăn, CSVN tưởng bở liền tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa bằng việc đánh tư sản ở Miền Nam, bắt Dân Quân Cán Chính VNCH vô các trại tù khổ sai, thực hiện chế độ bao cấp (1976-1986), đòi Mỹ bồi thường chiến tranh 5 tỷ để tái thiết, chưởi bới khối Người Việt Hải Ngoại là bọn người vong bản theo chân đế quốc để được ăn cơm thừa canh cặn. Nào ngờ bị Mỹ đáp lại: “Chiếm Miền Nam bất hợp pháp, vi phạm HĐ Paris, vơ vét tài sản của dân chúng Miền Nam, bán võ khí của VNCH được trên 5 tỷ rồi thì tụi bay còn đòi gì nữa?” Mỹ còn dùng quyền phủ quyết không cho CSVN vào Liên Hiệp Quốc. Đã vậy, CSVN còn ngang ngược chống lại quan thầy Trung Cộng, liền bị Đặng Tiểu Bình dạy cho một bài học 17-02-1979 đánh chiếm 6 tỉnh biên giới. Phía Bắc bị Trung Cộng uy hiếp, phía Tây Nam bị sa lầy vì xua quân qua đánh Kampuchea.
Dân đói nghèo ta thán, CSVN giở giọng “lạy Mỹ cứu Đảng” thay vì “đánh Mỹ cứu Nước” như trước và gọi khối NVQG hải ngoại là “khúc ruột ngàn dặm” bằng cách tung ra Nghị quyết 36 để mong bòn rút của cải (Dollars) của Khôi Người Việt Hải Ngoại. Trong khí đó 49 năm qua, khối NVHN vẫn vững mạnh. Năm 2023, chúng lại tung ra Quyết định 1334 nhằm len lỏi xâm nhập như quan thầy Trung Cộng của chúng đang nhòm ngó đánh chiếm Đài Loan.
Xét như thế, cuộc chiến chống Cộng Sản vẫn tiếp tục từ sau ngày 30-04-1975 đến nay. Nhớ lại lời ông CV Ngô Đình Nhu “Phải giữ Miền Nam để cứu Miền Bắc” thì nay khối NVQG quyết tâm “Giữ Khối Người Việt Hải Ngoại để cứu Việt Nam”. Cộng Sản VN đã thoái trào, biến thành Cộng hưởng, chúng chỉ lo vơ vét, bóc lột đồng bào để làm giầu cho bản thân cá nhân. Những con người lớn tiếng tung hô tự hào là anh hùng nay đã biến thành những tên Tư Bản Đỏ. Trước nguy cơ chủ nghĩa CS đã thi nhau sụp đổ suốt từ Đông Âu đến Liên Sô, CSVN sợ xanh mặt liền quay trở lại quỵ lụy xin núp bóng Tầu Cộng nên bị giặc phương Bắc bao vây bằng những mánh khóe và thủ đoạn mới nghe êm ả, mềm dẻo, nhẹ nhàng như “tằm ăn dâu” để sớm muộn gì cũng sẽ nuốt chửng.
Chủ nghĩa Cộng Sản hôm nay chỉ còn là cái chiêu bài nhằm duy trì quyền bính. Nhưng cái nọc độc của nó đã ăn vào xương tủy bọn Việt Cộng gian manh. Âm mưu xâm nhập phá hoại Cộng đồng VNHN đã manh nha khi chúng gọi Người Việt Hải Ngoại “khúc ruột ngàn dặm” và đã thay đổi qua nhiều đòn phép, tử Nghị Quyết 36 đến Quyết Định 1334 nhằm bọn rút tài sản và khống chế Khối NVHN. Vậy chúng đã và sẽ làm gì để thực hiện chủ trương này?
Thứ nhất là dùng tiền bạc để mua chuộc những phần tư ngây thơ, dễ tin và ham lợi. Bốn mục tiêu chúng vẫn là bọn “Tứ Quý”: (01) Báo chí truyền thông, (2) Bọn thầy tu cấp tiến, (03) Trí thức ngây thơ nửa mùa, và (04) các vị Dân cử.
Thứ hai: tìm cách đưa người của chúng ra hải ngoại để làm công tác tình báo, len lỏi vào các Hội đoàn. Sự xuất hiện của những ngôi chùa mới xây với những sư tăng ni giả là một dấu hiệu đáng nghi ngờ, để chúng cái cắm và rửa tiền.
Thư ba: tìm cách gây chia rẽ đối phương. Chúng giả danh là người Việt Quốc Gia len lỏi vào các hội đoàn, đoàn thể, nhất là các cơ quan truyền thông, văn nghệ, lập các Hội Sinh Viên thân Cộng tại các Trường Đại Học, vân vân.
Thứ bốn: tung ra hàng ngàn hàng vạn “Công an mạng” gây rồi bằng tung tin giả, đánh phá bới móc các hội đoàn và những nhân vật Người Việt Quốc Gia.
Thứ năm: Dụ dỗ những phần từ ngây thơ (bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân …) về nước kinh doanh, mở các hãng xưởng, trường học với những điều kiện dễ dàng (làm cái bẫy) và sau đó gài bẫy, bắt làm tay sai cho chúng, nếu cưỡng lại sẽ bị thanh toán.
Trên đây chỉ là những thủ đoạn thông thường của Việt Cộng. Thật ra còn nhiều, nhiều lắm. Bởi Cộng sản là băng đảng âm mưu, luôn dung mánh khóe, thủ đoạn để rủ rê, mua chuộc, lũng đoạn, đánh phá, vân vân và vân vân.
Khối Người Việt Quốc Gia ở Hải Ngoại phải làm gì?
Thứ nhất: phảigìn giữ và bảo vệlá Cờ Vàng ba Sọc Đỏ làđiểm hội tụ duy nhất của Khối Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại. Mọi sinh hoạt của Cộng Đồng trong những dịp Lễ và các sinh hoạt văn hóa, văn học, ái hữu của các Hội đoàn, Đoàn thể Dân Quân Cán Chính nên tìm cách biểu dương lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cho long trọng.
Thứ hai: phải cảnh giác, phải sáng suốtđể mau phát hiện ra âm mưu của bọn Việt Cộng gian manh và có biện pháp đối phó thích ứng theo luật pháp của quốc gia sở tại cho phép.
Thứ ba: Các hội đoàn, các tổ chức Cựu Quân nhân QLVNCH cần sinh hoạt đều đặn, đặc biệt về sinh hoạt đấu tranh chính trị tích cực hơn ngoài các hoạt động ái hữu của mình.
Thứ bốn: Các hội đoàn, đoàn thể sinh hoạt chặt chẽ, khoa học, nhằm để phòng và ngăn chặn kịp thời mọi xâm nhập phá hoại của Việt Cộng và bọn Việt gian vào đoàn thể tổ chức của mình.
Thư năm: Bầu chọn những người đứng đắn có lập trường Quốc gia vững chắc vào các chức vụ Dân cử của Chính quyền địa phương.
Thứ sáu: Đề nghị các Chính Đảng của Người Việt Quốc Gia xây dựng lại các cơ sở, tổ chức, ở hải ngoại và quốc nội bằng những sinh hoạt khoa học, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng, đảng viên nhằm đáp ứng tình hình.
Sương Lam
Website: www.suonglamportland.wordpress.com