Hôm nay Thứ Hai 10 Tháng 10 năm 2022 là ngày Canada mừng Lễ Thanksgiving,
Sương Lam là bà bạn hàng xóm của qúy vị xin gửi lời chúc mừng đến qúy vị đã an cư lạc nghiệp nơi xứ rừng phong đẹp tuyệt vời khi mùa Thu đến. Smile
Sương Lam cũng đã sưu tầm nhiều bài viết của các tác giả Canada cám ơn xứ sở Canada đã là nơi quê hương thứ hai của qúy bạn,
được cất kỹ trong “tàng kinh các” của SL. Mới qúy bạn cùng đọc cho vui và cùng vui với qúy bạn của người canada gốc Việt của SL qua link dưới đây nhe. Smile!
Mờì Bạn đọc 3 bài viết của tác giả Kinm Loan và Hoàng Thanh cảm ơn xứ Canada nhân ngày Canadaian Thanksgiving – Monday October 10-10-2022.
Cảm ơn tác giả Kim Loan và Hoàng Thanh nhé.
Thank you, Canada!
Tôi đến thủ đô Ottawa của Canada vào một tối mùa đông lạnh lẽo sau gần hai mươi tiếng dài ngồi trên máy bay từ Bangkok (Thailand), có dừng nghỉ tại Frankfurt (Đức Quốc).Nhóm chúng tôi 6 người được nhân viên chính phủ đón tại sân bay rồi đưa về Reception House trên đường King Edward gần Byward Market. Đây là một chung cư nhỏ, gồm một tầng trệt và một tầng lầu, tổng cộng khoảng hơn chục phòng, mỗi phòng chứa được 3, 4 người. Tôi là phụ nữ duy nhất trong nhóm nên được đưa vào chung phòng có hai cô người Miến Điện cũng mới đến trước đó vài ngày. Mệt mỏi rã rời, tâm trí còn vương vấn trại tỵ nạn Panatnikhom, giờ này chắc mọi người đang đi dạo chơi trong trại, có ai… nhớ tôi không?Sau khi nhận phòng trời cũng tối thui, họ dẫn chúng tôi xuống nhà bếp ăn tối với một món macaroni&cheese. Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy món nui với pho–mai tan chảy, tôi chỉ thấy một mùi khó chịu vì đã quen ăn món này từ Việt Nam phải là nui xào thịt ăn với nước tương dằm ớt mới đúng điệu! Tôi lắc đầu, chả thiết ăn uống, chỉ muốn đi tắm rồi ngủ, giấc ngủ đầu tiên trên xứ Canada khi bên ngoài tuyết đang rơi để xem cảm giác ra sao. Cô gái người Miến dẫn tôi vào phòng tắm, chỉ dẫn cho tôi hai vòi nước nóng, nước lạnh trong bathtub, rồi đi ra ngoài. Tôi lớ ngớ, không hề biết rằng có thể vặn cả hai vòi cùng lúc rồi điều chỉnh cho vừa độ ấm rồi ấn nút shower. Tôi mở nước nóng thì nóng quá, mở nước lạnh thì lạnh như nước đá, chả biết phải làm sao! (Lỡ… cởi đồ rồi, sao dám chạy ra hỏi!) May quá, có cái thau nhỏ trong bồn tắm, tôi mở nước nóng nửa thau, rồi mở nước lạnh nửa thau hoà chung cho đủ ấm, và ngồi xối nước tắm như khi ở trại.Trên bathtub có để chai shampoo hiệu “head&shoulders”, tôi biết đó nghĩa là “đầu và vai”. Tôi nhìn quanh tìm thêm soap nhưng không có, rồi tự hỏi: “Chai shampoo ghi head&shoulders, là dành cho đầu và vai, vậy còn các… bộ phận khác thì sao?” Hỏi thì hỏi chớ đâu có câu trả lời, thế là tôi dùng nó để gội đầu (vì là shampoo), xong tôi còn lấy thêm chút shampoo để chà trên hai vai của tôi (vì chữ head&shoulders rành rành đó!), và chỉ dùng đúng cho đầu và…vai thôi nhé, dứt khoát không xài cho… khúc dưới!!!Sáng hôm sau ngủ dậy tại Reception House, bụng đói meo vì tối qua bỏ bữa, tôi xuống phòng ăn thì lại càng không ăn được món oatmeal chan sữa tươi. Cái xứ gì mà ăn uống kỳ cục! Tôi bỗng thèm dĩa bánh cuốn, ổ bánh mì thịt, hoặc chí ít cũng là gói xôi bắp để trong lá chuối thơm mùi hành phi và đậu xanh hấp. Cũng may là còn có bình cà phê ngay góc phòng, (dù café ở đây lạt như nước ốc), tôi làm liền một ly, cho thật nhiều đường và cream để… cứu đói!Lát sau có một người từ Nhà Thờ Công Giáo Việt Nam tại Ottawa đến thăm chúng tôi. Anh tên Thành, đại diện giáo xứ đến tặng phong bì, tem thư, giấy viết, và hỏi chúng tôi dù có đạo hay không, nếu muốn đi lễ thì thứ bảy anh sẽ đến đón. Nghe xong, chú lớn tuổi nhất trong nhóm lên tiếng, chả liên quan gì đến việc… đi lễ:– Nói cậu đừng cười, giờ chúng tôi đói lắm vì chưa quen ăn đồ Tây, nếu nhà thờ cho chúng tôi ít mì gói thì tốt quá!Anh Thành mỉm cười sốt sắng:– Dạ, cháu cũng đang tính hỏi chuyện đó, cháu sẽ phone cho người bạn mang đến.Thấy anh Thành dễ dãi, chú ấy… làm tới, được voi đòi tiên:– Mà cậu ráng hỏi họ tìm đúng mì Mama của Thailand nha, vì mấy năm qua chúng tôi chỉ quen ăn loại đó ở trại thôi à.(Tôi cản chú ấy không kịp, trời ơi, chú tưởng mình là ai chớ!!)Nhưng anh Thành lại tiếp tục mỉm cười thân thiện, và quả thật, nửa tiếng sau có người mang đến, không phải vài gói, mà là một thùng mì gói Mama. Cả ngày hôm đó tôi túc trực dưới văn phòng của Reception House vì đợi phone của bố, các anh chị em, họ hàng chú bác bên Mỹ gọi qua để chúc mừng và nói chuyện cho tôi đỡ tủi thân. Vừa ngắm tuyết rơi bên ngoài, vừa xem các cuốn tạp chí, vừa uống café, tôi nói chuyện với người trực ban (để thực tập English), vì ông ta bắt chuyện với tôi khi thấy tôi nói phone với người thân mà lúc khóc nức nở lúc lại cười vui vẻ:– Ủa, sao gia đình cô bên Mỹ mà cô lại lạc loài qua đây, mà nãy giờ tôi thấy cả chục cú phone rồi đó, chắc gia đình cô ở bển đông lắm hả?Ông này chắc cũng cỡ… “ông Tám” quá! Tôi đáp:– Thôi, ông đừng nhắc đến vết thương lòng của tôi nghen, mà chuyện dài lắm, ông chả hiểu được đâu!Nghe vậy, ông chuyển qua đề tài khác, chuyện thời tiết, chuyện thủ đô Ottawa có gì lạ, chuyện dân nhập cư, tỵ nạn, rồi cuối cùng là chuyện… ăn uống. Như được rà trúng đài, tôi than thở:– Thú thật với ông, từ tối qua đến giờ tôi chưa có gì trong bụng ngoài ly café và chút mì gói.– Thế à? Cô chưa quen với thức ăn bên đây sao?– Dĩ nhiên là chưa, chúng tôi mới đến đây chưa đầy 24 giờ đồng hồ, ông quên rồi sao?– Ừ nhỉ…Tôi chống cằm, mơ màng nhìn ra cửa sổ ngắm tuyết cho… đỡ đói, rồi nói bâng quơ với ông ấy:– Ước gì bữa ăn tối nay có một nồi cơm! (Lúc ấy tôi nghĩ đến món cơm trộn với canh mì gói, là món “ngon” ở trại tỵ nạn).Ông ấy nhìn tôi, thương cảm:– Ở dưới bếp có gạo, mà cô ăn cơm với gì, để tôi cố gắng nhắn với nhà bếp xem sao, dù rằng tôi không dám hứa.Thấy tôi xịu mặt mất hứng, ông vội vàng xua tay:– Ý tôi là không dám hứa vụ thức ăn kìa, còn nồi cơm thì bảo đảm là có, cô cứ yên tâm. Giờ nói cho tôi nghe cô muốn ăn cơm với gì nào?Được khuyến khích, cộng thêm cái bao tử đang réo gọi, tôi thoải mái ước mơ:– Người Việt chúng tôi ăn cơm với rau, và với thịt heo, bò, cá, gà, vịt, nói chung là luộc, nướng, kho, xào, hấp, quay, khìa… đủ kiểu hết á!Chẳng biết ông ấy có hiểu tôi nói gì không, nhưng vẫn chăm chú, gật gù theo trí tưởng tượng của tôi với các món ăn nóng sốt đang làm tôi… nuốt nước miếng.Đến giờ dinner, bà bếp trưởng da đen gọi nhóm Việt Nam đến. Trong khi các nhóm Somalia, Miến Điện rộn ràng bên bàn ăn với những dĩa spaghetti phủ đầy tomato sauce đang bốc khói thì nhóm chúng tôi, còn hơn cả mong đợi, có một nồi cơm trắng và chảo bắp cải xào thịt bò hộp. Tôi hỏi thịt gì mà ngon thế, bà đưa cái lon đồ hộp cho chúng tôi xem, ghi là corned–beef, không phải có “bắp”, không phải thịt xay, vì các xớ thịt nhỏ xíu vẫn còn, nêm nếm thật đậm đà, thịt bò mềm rục quyện với chất ngọt của bắp cải. Chúng tôi hồ hởi ăn hết sạch cả cơm lẫn thức ăn trong ánh mắt vui sướng của bà đầu bếp người Jamaica.Có lẽ Canada (và các nước Mỹ, Úc, Châu Âu) mắc nợ người Việt tỵ nạn từ… kiếp trước, nên kiếp này họ phải rước chúng ta qua, đón tiếp nồng hậu đám người chân ướt chân ráo mới đến còn ngơ ngơ ngáo ngáo chính hiệu “con nai vàng”, chưa đóng góp được gì cho đất nước người ta, mà chỉ biết đòi hỏi toàn… đồ ăn!Thương cái xứ “tư bản giãy hoài chưa chết” này quá thôi!!! Kim Loan
TẠ ƠN CANADA
Tôi réo chồng:
– Anh ơi! Lần này em nhờ của anh góp ý để viết Thanksgiving Canada gửi đăng báo.
– Anh biết gì mà đóng góp, ngoài cái chuyện Thanksgiving Canada rơi vào thứ Hai của tuần lễ thứ hai, tháng Mười, và năm nay là ngày 10 tháng Mười.
– Cái đó xưa rồi, em muốn những mẩu chuyện để tỏ lòng biết ơn xứ lạnh tình nồng này.
– Thì em tưởng tượng là ra thôi mà.
– Không! Chuyện gì thì còn có thể hư cấu thêm mắm muối, chớ chuyện Tạ Ơn phải là người thật việc thật, của những người xung quanh hoặc của chính gia đình mình .
– Mấy năm qua, em đã lôi hết mọi ngóc ngách của nhà mình lên báo “cho khắp người đời thóc mách xem” rồi còn gì!
Úi dào! Tôi mỉm cười nghĩ thầm, chồng em bữa nay đem cả thơ TTKH đối đáp với em nữa cơ. Chưa kịp khen thì anh ấy ra ngoài garage soạn túi đồ đánh golf để cuối tuần đi golf trip với cha xứ và mấy anh bạn trong nhà thờ. Tôi cũng bước ra, loay hoay tìm cái nồi cơm điện cũ để ngày mai thực tập món bánh mới học trên youtube. Chồng tôi bỗng reo lên:
– À, có chuyện cho em viết rồi đây, từ cái golf bag này nè, em nhớ ra chưa?
Tôi nhớ ra ngay lập tức, chuyện xảy ra mới vài năm nay thôi.
Sáng hôm đó cả nhà ra garage lấy xe đi học đi làm thì thấy cánh cửa phụ của garage mở toang, chứng tỏ đêm qua chúng tôi đã quên khóa . Vợ chồng con cái hoảng hốt vào lục soát xem có bị mất mát gì hay không. May quá, hai chiếc xe còn nguyên vẹn, không bị cạy cửa hay đập kiếng xe, các đồ linh tinh khác cũng không có dấu hiệu xáo trộn . Chồng tôi vui vẻ:
– Mình ở khu này an toàn thật, em nhỉ!
Tôi liếc chồng một cái vì anh ấy là người đêm qua đi làm về trễ nhất:
– Ở khu nào cũng có nguy cơ mất đồ nếu cứ lơ đãng quên đóng cửa garage như anh đấy. Hàng xóm thì ai cũng quen mặt, nhưng ai cấm mấy người lạ đi ngang qua, rồi thấy cửa mở như mời mọc, trên đời này chẳng phải ai cũng tốt cả đâu.
Buổi chiều, cả nhà đang quay quần ăn cơm thì chuông điện thoại reo, chồng tôi nhanh chóng trả lời, đầu giây bên kia giới thiệu là sở cảnh sát:
– Chào Mr. Trương, nhà của anh mới bị trộm vào garage sáng nay, đúng không?
Hơi bất ngờ, chồng tôi đáp:
– Dạ đúng thế, nhưng may mắn là chúng tôi chẳng mất gì cả, mà sao ông biết chuyện garage nhà tôi?
– Anh có sure là không mất một món nào không? Còn bộ chơi golf thì sao?
Chồng tôi vỡ lẽ, xin phép được chạy xuống basement để xem cái golf bag còn không. Bình thường thì cái golf bag để trong garage từ đầu mùa xuân, khi cần đi chơi golf lấy ra thuận tiện nhanh chóng, đến khi trời vào thu gió lạnh thì để dưới basement cho qua mùa đông. Bởi vậy buổi sáng khi thấy garage bị mở toang cửa, là trời đã sang thu, nên chúng tôi vẫn yên chí bộ golf đã nằm dưới basement, nhưng bây giờ thì rõ ràng là đã bị kẻ trộm mang ra khỏi garage.
Chờ cho gia đình tôi hết chộn rộn vì còn ngỡ ngàng, chàng cảnh sát mới tiếp tục qua phone, kể lại câu chuyện cái golf bag được tìm thấy như thế nào. Trên đường đi tuần tra vào giờ trưa dưới phố, gần khu cầm đồ mua bán đồ cũ, chàng thấy một người đàn ông, ăn mặc bụi đời, râu ria cẩu thả, vác trên vai cái golf bag. Chàng liền suy nghĩ chớp nhoáng, một real golfer thì không thể nào… rách rưới như thế, lại càng không có chuyện vác bộ golf bag lang thang sật sừ giữa phố thế này. Chàng bèn rà rà xe gần người đàn ông, kéo cửa kiếng xe xuống, chào Hello rồi cười:
– Này ông bạn, đi đánh golf hả?
Người đàn ông giật mình khi thấy chàng “bạn dân” vui vẻ nháy mắt mà thực ra biết tỏng mọi chuyện, rồi lắp bắp:
– À, không! Thằng bạn của tui nhờ tui đi… bán bộ golf bag này giùm hắn.
Nghe tới đây, chàng cảnh sát dừng xe, nhảy phóc ra lề đường, đưa ra tấm thẻ Police, ra giọng nghiêm túc:
– Đây là số phone của sở cảnh sát gần đây, tôi tạm thời xin được giữ golf bag này, làm phiền “thằng bạn” của anh đến lấy lại nha.
Người đàn ông ngoan ngoãn vì biết không thể chống cự với chàng cảnh sát cao to, rồi trao cái golf bag cho chàng. Chàng đưa người này về đồn, điều tra thêm để tìm ra chủ nhân, nhưng bên ngoài golf bag có một ngăn nhỏ, trong đó có tấm card chơi golf của chồng tôi với đầy đủ tên, họ và số phone. Chàng liền giao người đàn ông này cho chàng cảnh sát khác rồi sau đó liên lạc với chồng tôi để xem nhà tôi còn mất gì nữa không. Sau khi đối chứng lời khai với người đàn ông kia, ông ta được thả còn chồng tôi được hẹn ngày mang golf bag về nhà, coi như xong xuôi, không có chuyện gì xảy ra .
Phải công nhận chàng cảnh sát nhanh trí, có đôi mắt quan sát “thế sự”, nếu không thì bộ golf đã cao bay xa chạy vào tiệm cầm đồ.
Chồng tôi lại hớn hở:
– Ở cái xứ này mình đi làm đóng thuế thật đáng đồng tiền bát gạo, mình được phục vụ lại đầy đủ, công minh, hết sức trách nhiệm.
Tôi góp lời:
– Chứ còn gì nữa! Chuyện này mà xảy ra ở “thiên đường CSVN” thì quên đi nhe. Anh sẽ vĩnh biệt golf bag không hẹn ngày tái ngộ, bởi nếu công an có bắt được kẻ gian thì cái golf bag sẽ bị sung vào công quỹ, hoặc anh có muốn lấy lại cũng trần ai khoai củ, và dĩ nhiên phải tốn… phong bì nữa đấy.
Nói tới “phong bì”, tôi nhớ ra một chuyện cũ, gần 30 năm trước, khi tôi đi sanh con gái đầu lòng. Mới sanh xong vài tiếng, cô y tá mang vào phần cơm tối theo kiểu Tây. Dĩ nhiên là tôi không ăn vì bà má chồng đã nấu cho tôi nồi thịt nạc với chả lụa kho tiêu đúng kiểu cho bà đẻ. Lát sau cô y tá vào nhắc tôi ăn và nói thêm:
– Hay là thức ăn không hợp khẩu vị của cô? Cái tủ lạnh ngay giữa khu Sản phụ có nhiều món khác, cô có muốn không?
Tôi hỏi cho biết:
– Có phải trả tiền không cô ?
– No, no! Cô và chồng cô cứ việc lấy ăn nhé.
Buổi tối chồng tôi đến, tôi ép anh ấy ăn đồ bệnh viện vì nó… free, kẻo phí của giời, dù anh ấy không đói bụng. Đến ngày ra về, tôi và chồng dọn dẹp lại đồ đạc, tôi nói:
– Anh có mang phong bì tặng cho các cô y tá, hộ sinh, và bác sĩ chưa? Hai ngày qua họ phục vụ rất chu đáo, ở Việt Nam không có phong bì thì đừng hòng họ tử tế.
Chồng tôi gạt ngay:
– Đây là xứ dân chủ tư bản, các y tá bác sĩ làm việc với lương tâm trách nhiệm, nhà nước đã trả lương đầy đủ cho họ, em khỏi lo.
– Nhưng…
– Em thấy trên tường nơi bàn tiếp khách khoa Sản phụ chứ, họ treo các tấm thiệp cám ơn của bệnh nhân, đó chính là những món quà quý giá, nếu em muốn thì chút nữa mình mua bó hoa và tấm thiệp gửi lại cho họ.
Tôi ngỡ mình đang mơ vì vẫn còn ám ảnh chuyện bệnh viện ở Việt Nam. Hai vợ chồng đi bộ dọc hành lang, tôi lại chợt nhớ ra:
– À mà quên, anh đã đóng viện phí chưa mà ung dung ra về thế này?
Chồng tôi tỉnh bơ:
– Khỏi cần em ạ, chính phủ đã trả hết rồi.
Tôi vẫn chưa tỉnh mộng:
– Anh đừng đùa em chớ, biết bao nhiêu là tiền chớ chẳng ít đâu.
– Anh nói thật đấy, Canada có chương trình y tế toàn dân, em cứ đi từ đây ra cổng xem có ai chặn lại đòi tiền không nhé?
Ôi, cái xứ tư bản “rẫy chết” này cho tôi hết bất ngờ này đến ngạc nhiên khác. Tôi sung sướng bước đi cùng chồng, rồi bẽn lẽn:
– Nếu vậy, em muốn… đẻ nữa, anh ơi!
KIM LOAN
Edmonton, Tháng 10/2022
Được định cư ở Canada là mơ ước lớn nhất của gia đình tôi. Nhớ ngày đầu tiên đặt chân đến Montreal, ba mẹ và mấy chị em tôi cứ như người đi trong mơ. Lúc đó tuy cả nhà 9 mạng người mà trong tay chưa có được 100 đô, nhưng ai ai cũng mừng vui không kể xiết. Sau vài tuần ở ké nhà bác Tư – người bảo lãnh ba tôi, thì cả nhà quyết định ra mướn appartment riêng để không làm phiền lòng bác gái. Thế là mấy chị em phải đổ xô đi kiếm việc làm.
Công việc đầu tiên của tôi nơi xứ người là nhân công trong một hãng vớ. Để được tuyển chọn thì chúng tôi phải thi tay nghề, nghĩa là người ta đưa mình chừng 10 đôi vớ, người xin việc phải lần lượt đút từng đôi vớ vào hệ thống máy đang quay tròn rất nhanh trong một thời gian nhất định. Việc này cũng không khó lắm. Sau đó tôi mới được cho vào gặp “bà cai ” để được phỏng vấn. Bà cai nhìn có nét như người Ấn độ, chứ không phải người da trắng như tôi cứ đinh ninh trong đầu – sau này tôi được biết tên bà là Hayam. Nhìn tôi bà hỏi ” Cô mới qua đây phải không? “. Tôi đáp phải. Bà hỏi tiếp ” Bên nước cô, cô làm nghề gì ? “. Tôi trả lời ” Dạ đang học năm cuối ngành dược “. Bà nhìn tôi đăm chiêu rồi tiếp ” Tôi biết cô sẽ không làm ở đây lâu đâu. Công ty giao cho tôi nhiệm vụ tuyển dụng nhân viên, lẽ dĩ nhiên tôi có trách nhiệm mướn những ai có ý định làm lâu dài với chúng tôi. Nhưng tôi biết thành phần trí thức như cô thì đây chỉ là một công việc tạm thời giúp cô có thu nhập ban đầu nhằm tiếp tục đi học lại, có phải không ?”. Tôi không ngờ bà này nói trúng tim đen mình quá nên ấp úng không biết trả lời sao, lòng thấp thỏm lo sẽ bị từ chối. Bà tiếp ” Thôi được tôi nhận cô.
Hai mươi lăm năm trước nước Canada đã cho tôi cơ hội thì hôm nay tôi cũng cho cô một cơ hội bởi vì đất nước này cần những người có trình độ như cô”. Tôi mừng quá lật đật bước ra ngoài lấy hẹn khám sức khỏe mà quên cả cám ơn bà.
Thời đó là giai đoạn gia đình chúng tôi cực khổ nhất. Đi làm ca tối,
tan ca về nhà gần 1 giờ khuya, đánh răng rửa mặt vội vội vàng vàng rồi đi ngủ vì sáng hôm sau phải dậy sớm đến trường học lúc 7 giờ . Tan lớp học là 3 giờ , đón 2 chặng xe bus về tới nhà đã gần 5 giờ, ăn miếng cơm chiều, nghỉ chút lấy hơi là đã đến giờ đi làm ca đêm ở hãng vớ từ 6 giờ đến 12 giờ đêm.
Có một lần tôi ngủ gục khi đang làm việc và bị ” bắt quả tang ” ngay. Dễ lắm, người kiểm soát (quality controler) dù không ngồi ngay đó nhưng khi hằng loạt vớ di chuyển qua máy thì ông ta nhận ra ngay là máy của tôi khi thì chiếc có chiếc không. Ông Irving đi thẳng đến nơi tôi ngồi và hỏi tại sao tôi không đút đủ số vớ như yêu cầu. Tôi bất ngờ chưa biết nói sao thì ông John ở máy kế bên bước qua nói ” Máy này nó củ quá rồi. Khi nãy tao nghe tiếng cọt kẹt to lắm. Ông kêu thợ máy ến xem thử có vấn đề gì không “. Thế là tôi ngồi chờ thợ máy tới.
Tranh thủ khi không có ai, ông John ghé tai tôi nói nhỏ ” Cô mệt lắm
hả ? Tôi thấy cô ngủ gật. Irving nó khó lắm. Cô cẩn thận kẻo mất việc à “. Tôi cám ơn rồi ráng căng hai mắt ra mà làm tiếp. Hôm sau ông John mang cho tôi hộp kẹo cà phê. Ông bảo ” Tôi biết cô đi học ban ngày. Ngậm kẹo này cho đỡ buồn ngủ. Ráng cố gắng làm khi nào ra trường có job ngon hơn thì nghĩ nơi này “. Tôi nhận, cảm ơn ông mà ứa nước mắt.
Mãi đến bây giờ, cứ mỗi lần ngậm kẹo cà phê thì tôi lại nhớ đến ông
John. Ông qua đời 1 năm sau khi tôi không còn làm ở hãng vớ nữa.
Sau đó vì giờ giấc làm ca đêm không thuận tiện, tôi xin vào làm nghề
giặt khăn ăn trong một nhà hàng ở phố Tàu. Đây là một nhà hàng sang trọng rộng lớn, nên bàn ăn nào cũng được trải tấm vải hồng nhạt. Mỗi khi khách ăn xong là nhân viên kéo hết tất cả khăn trải bàn cùng khăn lau miệng thảy vào một thùng thiệt to rồi mang xuống phòng giặt. Nhiệm vụ của tôi là phải giặt hết cái ” khối núi ” khăn khổng lồ này trong thời gian quy định vì nhà hàng ngày nào cũng rất đông khách. Tôi làm từ 1 giờ trưa đến 7 giờ chiều. Cho dù có nhiều máy giặt máy sấy vậy mà tôi cũng phải làm liền tay mới kịp. Này nhé, mở từng thùng khăn dơ ra, tôi phải giũ sạch đồ ăn vào một thùng rác, rồi phân loại khăn nào dính chất nước (xì dầu, nước sốt…) thì để qua một bên giặt riêng. Sau đó bỏ vào máy giặt, vừa mở máy này thì cũng là lúc máy sấy bên kia reng lên báo hiệu khăn khô cần lấy ra.
Coi tưởng nhàn mà lu bu cả buổi cứ phải quần quật phân loại, bỏ vô máy, chế xà bông vào, rồi mang qua máy sấy, vừa khô thì lại phải bắt tay qua thùng khăn kế tiếp. Một ca của tôi làm 6 tiếng mà chỉ có thời gian rảnh lắt nhắt chừng 3 lần, mỗi lần khoảng 10 phút. Đó là những lúc tôi tranh thủ hoặc ăn cơm hoặc đem bài vở ra học. Tôi còn nhớ ngày hôm đó khi đang cắm cúi đầu vào trang sách thì tôi linh tính có ai nhìn chồm qua vai mình. Quay đầu lại, tôi giật mình khi nhận ra đó là ông Michael – người quản lý nhà hàng. Ông nhíu mày “
Cô học bài à ? Sao cô không lấy khăn từ máy sấy ra, khô từ lâu rồi,ngoài kia đang cần khăn sạch “. Tôi lật đật đứng dậy (đang ngồi dưới đất cạnh máy giặt) vụng về giấu cuốn sách vào khe giữa 2 cái máy, rồi vội mở cửa máy sấy lấy khăn khô ra, mắt không dám nhìn thẳng ông Michael. Chợt nghe tiếng ông hỏi ” Cô ăn trưa vậy thôi sao ? “. Ngón tay ông chỉ vào bịch chip đang nằm trên hộp giấy mà tôi dùng làm bàn. Tôi ấp úng “Không sao, tôi ăn đỡ thôi, chiều về nhà tôi mới ăn thật”.
Ngày hôm sau thì David – người hầu bàn cho biết là theo lệnh ông Michael, cứ 3 giờ trưa thì tôi được nghĩ và được lên nhà hàng kêu một món ăn miễn phí, dĩ nhiên là chỉ trong phạm vi vài món đã được chỉ định mà thôi. Tôi mừng quá vì sẽ không phải mang theo vài gói chip hay các món ăn vặt nữa mà ít nhất cũng được một chén súp nóng hay một món nào đó ăn cho chắc bụng.
Nhưng rồi tôi lại phải đổi job lần nữa khi phải làm thực tập tại nhà thuốc tây. Tôi làm trong pharmacy từ 9 giờ đến 5 giờ. Thế là để có tiền đóng học phí, tôi lại phải đi tìm việc làm buổi tối. May mắn thaytôi xin được vào làm ở một nhà máy kéo sợi từ 6 giờ đến 12 giờ khuya.
Và cái đêm kỹ niệm “suốt đời không quên” xảy ra vào lúc bất ngờ nhất.
Tối đó khi tan ca, như thường lệ, tôi và các công nhân ùa ra khỏi cổng. Ai nấy đều vội vã ra lấy xe (tôi được anh Gerald cho quá giang
về nhà). Ngoài trời mùa đông tối lờ mờ với từng cơn bão tuyết cùng gió rít lạnh buốt xương.
Đang cùng mọi người co ro cúm rúm thì bỗng dưng tôi có cảm giác hai chân mình hổng lên khỏi mặt đất và dường như tôi phi thân trên tuyết.
Cứ ngỡ là ảo giác, nhưng rõ ràng là sự thật khi tôi nhận ra rằng mình
vừa lướt qua mặt một người.
Rồi bỗng dưng tôi nghe nhiều tiếng la to ” Ngồi xuống ! “. Tôi nhận ra mình đang ở trong tình trạng nguy hiểm vì bị bão cuốn đi nhưng không tài nào cưỡng lại được sức mạnh của cơn bão mà ngồi xuống được. Sợ hãi quá, tôi la lên “Help ! Help !”. Dường như có ai đó chạy tới nắm áo tôi kéo ghì lại nhưng chiếc áo tuột ra khỏi tay người đó vì vận tốc gió quá mạnh. Tôi càng la to trong hoảng hốt khi thấy cả thân mình đang lướt nhanh trên mặt đất phủ đầy tuyết . Rồi tôi lại cảm thấy áo khoác mình bị ai trì xuống, rồi tay mình cũng bị kéo mạnh.
Rầm! Tôi tối sầm mặt mũi và cảm thấy toàn thân ê ẩm. Đau quá, tôi cứ nằm sóng soài trên mặt tuyết.
Khi mở mắt ra thì tôi nhìn thấy xung quanh mình đông đủ các công nhân làm cùng ca. Họ xúm lại đỡ tôi lên. Người hỏi han, kẻ xoa bóp xem tôi có bị chấn thương không. Khi chắc chắn là tôi không bị gì thì moị người dìu tôi vô xe anh Gerald để anh chở tôi về nhà dùm. Hôm sau đi làm tôi mới rõ sự tình. Có lẽ do quá ốm yếu và nhỏ con mà tôi là người duy nhất “được” cơn bão chiếu cố. Khi thấy tôi bị cuốn đi thì nhiều người chạy đến tìm cách giữ tôi lại bằng cách nắm tay, kéo áo hay ôm đại tôi ghì xuống nhưng đều thất bại vì tuyết thì quá dầy lại thêm gió quất mạnh. Sau cùng thì anh Robert và bà Sophia cùng lao tới chụp đại lấy tôi rồi ôm và kéo ghị xuống. Nhưng xui thay cả hai đều bị cơn gió bão lôi đi xềnh xệch khi họ không chịu buông tôi ra. Khi nghe cái rầm là lúc cả ba chúng tôi đập mạnh vào một chiếc xe đang đậu ở lề đường. Tôi may mắn không sao, trong khi anh Robert bị trật cánh tay phải xức thuốc một tuần mới khỏi. Tội nghiệp nhất là bà Sophia. Bà bị thấp khớp từ lâu rồi, không may lại bị cơn bão quất mạnh vào thành chiếc xe nên chiếc mũi bà bị dập sưng vù lên.
Bà phải nghĩ làm hơn 2 tuần mới bớt .
Kể từ đêm đó, mọi người cứ trêu chọc tôi là skeleton (bộ xương) nên mới bị gió cuốn đi. Cái tên nick name của tôi ” Gone with the wind “(Cuốn theo chiều gió) ra đời từ đó. Nhưng trong cái rủi có cái may.
Sau biến cố đó, tự dưng tôi được cưng thấy rõ. Cô chú anh chị hôm nào cũng mang đồ ăn cho tôi tẩm bổ cho mập lên. Bà Sophia còn bảo tôi khỏi đem cơm theo, mỗi ngày bà xúc hai phần ăn, cho bà và tôi.
Năm cuối cùng học pharmacy, tôi đành nghĩ làm hãng kéo sợi vì bài vở quá nhiều và phải tập trung ôn thi tốt nghiệp. Tối cuối cùng ai nấy đều đến chia tay và chúc tôi mau ra trường. Bà Sophia ôm tôi thật lâu. Bà nói đùa ” Mỗi lần soi gương nhìn chiếc mũi này, I will miss you “.
Ngày tháng trôi nhanh. Thấm thoát mà tôi đã ở đất nước này hơn 25 năm.
Tôi nhận ra một điều là một xã hội tốt với môi trường sống tốt luôn sản sinh ra những con người tốt. Tôi không phàn nàn về cuộc sống vất vả trong những năm đầu đặt chân đến Canada, mà tôi thầm cám ơn đất nước này đã tặng cho tôi những kỹ niệm đẹp về lòng tốt của con người.
Cám ơn You – những bà Hayam đã giúp đỡ khi nhận cô bé chân ướt chân ráo ngày đầu tiên bỡ ngỡ nơi xứ người, mặc dù biết trước rằng tôi sẽ chẳng làm được bao lâu.
Cám ơn You – những ông John đã lên tiếng bênh vực cộ học trò vừa làm vừa ngủ gục, nhằm giúp tôi không bị mất việc.
Cám ơn You – những ông Michael đã tặng cho cô bé hiếu học bữa ăn miễn phí để có sức mà vừa học vừa làm.
Cám ơn You – những anh Robert, những bà Sophia đã quên thân mình hết lòng cứu giúp cô bé gầy khiu trong cơn bão tuyết.
Và cám ơn YOU – cám ơn Canada, đất nước của tự do và công bằng đã sản sinh ra những con người tuyệt vời.
Thanksgiving (French: Action de grâce) or Thanksgiving Day (French: Jour de l’Action de grâce), is an annual Canadian holiday and harvest festival, held on the second Monday in October, which celebrates the harvest and other blessings of the past year.[1] Outside of Canada it is sometimes called Canadian Thanksgiving to distinguish it from Thanksgiving in the United States, held in late November.
Thanksgiving has been officially celebrated as an annual holiday in Canada since November 6, 1879.[2] While the date varied by year and was not fixed, it was commonly the second Monday in October.[2]
On January 31, 1957, the Governor General of CanadaVincent Massey issued a proclamation stating: “A Day of General Thanksgiving to Almighty God for the bountiful harvest with which Canada has been blessed – to be observed on the second Monday in October.”[3]